Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu giai đoạn từ năm 2015 – 2025

ThS. Nguyễn Quang Đại
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng nông thôn mới được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh, ổn định chính trị và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, giai đoạn 2021 – 2025 dưới tác động sâu sắc của chuyển đổi số và biến đổi khí hậu. Vì vậy, đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực lãnh đạo, phương thức chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Bài viết phân tích chủ trương, chính sách của Đảng về xây nông thôn mới mới giai đoạn 2015 – 2025; đánh giá thực trạng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới; một số kết quả nổi bật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, tăng cường khả năng thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu.

Từ khóa: Lãnh đạo của Đảng; xây dựng nông thôn mới; chuyển đổi số; biến đổi khí hậu; phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành một phong trào sâu rộng, có sức lan tỏa lớn trong toàn xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông thôn cả nước. Giai đoạn 2015 – 2025, đánh dấu bước phát triển mới của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới từ chủ yếu tập trung vào hệ thống tiêu chí, cơ chế chính sách và phương thức tổ chức thực hiện ban đầu, giai đoạn này tập trung xây dựng nông thôn mới nâng cao chất lượng, phát triển bền vững và hướng tới chiều sâu. Đồng thời, trước bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế có nhiều biến đổi, phức tạp, khó lường, đặc biệt là sự tác động ngày càng rõ nét của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình chuyển đổi số quốc gia và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Từ thực tiễn trên, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng nông thôn mới càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu chặng đường từ năm 2015 – 2025 không chỉ nhằm tổng kết thực tiễn, đánh giá khách quan những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập mà còn góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và giải pháp lãnh đạo của Đảng về xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo.

2. Bối cảnh xây dựng nông thôn mới trong điều kiện chuyển đổi số và biến đổi khí hậu

Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc xây dựng nông thôn mới dưới sự lãnh đạo của Đảng không còn bó hẹp trong các tiêu chí hạ tầng truyền thống mà đang đứng trước những tác động kép từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức an ninh phi truyền thống.

Thứ nhất, về bối cảnh chuyển đổi số. Đây được xác định là “động lực mới”, là bước đi đột phá để thay đổi căn bản diện mạo nông thôn Việt Nam. Dưới sự định hướng của các nghị quyết trung ương, chuyển đổi số đã thâm nhập sâu rộng vào ba trụ cột chính: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số tại khu vực nông thôn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp tối ưu hóa công tác quản trị, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở mà còn mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế nông nghiệp. Hệ sinh thái số (từ thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc đến nông nghiệp thông minh) đang dần xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, giúp nông dân tiếp cận trực tiếp với thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, bối cảnh này cũng đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực số cho chủ thể nông dân và thu hẹp “khoảng cách số” giữa thành thị và nông thôn.

Thứ hai, về bối cảnh biến đổi khí hậu. Nếu chuyển đổi số là cơ hội thì biến đổi khí hậu lại là thách thức sống còn đối với sự bền vững của các tiêu chí nông thôn mới. Việt Nam với đặc thù là quốc gia nông nghiệp, đang phải đối mặt với các hiện tượng cực đoan như xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ quét tại miền núi phía Bắc và hạn hán tại Tây Nguyên. Biến đổi khí hậu không chỉ đe dọa trực tiếp đến sinh kế của người dân mà còn làm hư hại hệ thống hạ tầng nông thôn vốn chưa kịp hoàn thiện. Bối cảnh này buộc công tác lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nông thôn mới phải chuyển dịch từ tư duy “ứng phó thụ động” sang “thích ứng chủ động”. Xây dựng nông thôn mới giờ đây gắn liền với yêu cầu bảo vệ môi trường, quản lý rủi ro thiên tai và phát triển các mô hình nông nghiệp thuận thiên, bền vững.

Trong bối cảnh mới, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Chuyển đổi số chính là “công cụ” đắc lực để giải quyết các bài toán mà biến đổi khí hậu đặt ra. Chuyển đổi số đã làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất, tiêu thụ nông sản và cung cấp dịch vụ công ở khu vực nông thôn. Đồng thời, biến đổi khí hậu với các biểu hiện như thiên tai cực đoan, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn và suy thoái môi trường đã tác động trực tiếp đến kết cấu hạ tầng, sinh kế và chất lượng sống của cư dân nông thôn, buộc quá trình xây dựng nông thôn mới không thể chỉ chạy theo tiêu chí hình thức mà phải hướng tới phát triển bền vững và khả năng thích ứng dài hạn.

Sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh này đóng vai trò “kim chỉ nam”, vừa định hướng chiến lược để nắm bắt thời cơ từ chuyển đổi số, vừa huy động nguồn lực tổng hợp để củng cố sức chống chịu của nông thôn trước biến đổi khí hậu, hướng tới một nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh đặc biệt là giai đoạn 2015-2025.

3. Chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu

Vấn đề “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” luôn được Đảng ta xác định là vấn đề chiến lược, quan trọng được thể hiện trong các văn kiện Ðại hội lần thứ IX, X, XI và nhiều chỉ thị, nghị quyết Hội nghị Trung ương trong các nhiệm kỳ nói trên; từng bước xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Đại hội XII (2016) của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa theo quy hoạch. Đảng cũng nhấn mạnh: “cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới”1. Theo đó, việc tái cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nhưng vẫn hướng tới bảo tồn tự nhiên và bảo đảm các yếu tố sinh thái trong phát triển nông nghiệp là một trong những điểm nhấn trong Đại hội XII của Đảng.

Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng nông thôn mới, ngày 15/12/2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh nhằm thực hiện mục tiêu tăng cường, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh2.

Nhận thức rõ vai trò của chuyển đổi số đối với phát triển đất nước nói chung và khu vực nông thôn nói riêng, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tiếp đến, Nghị quyết Đại hội XIII (2021) của Đảng xác định: “chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng kinh tế”3 góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới là giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng đời sống người dân, thu hẹp dần khoảng cách về chất lượng dịch vụ giữa nông thôn và thành thị, từng bước hướng tới nông thôn văn minh. Việc lồng ghép nội dung chuyển đổi số vào xây dựng nông thôn mới thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng, hướng tới xây dựng nông thôn thông minh, chính quyền số, kinh tế số nông thôn và xã hội số.

Đặc biệt, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ngày 16/6/2022 đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định: xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, bền vững gắn với đô thị hóa, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả5. Nghị quyết số 19-NQ/TW đã tạo dấu mốc quan trọng trong tư duy phát triển, chuyển mạnh từ “xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí” sang “phát triển nông thôn bền vững, toàn diện”. Mặt khác, Nghị quyết cũng nhấn mạnh toàn diện tới phát triển nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, cụ thể: phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, tích hợp các giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh gắn với bảo vệ môi trường sinh thái6, thích ứng với biến đổi khí hậu và giữ vững ổn định xã hội. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời; là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ vững ổn định chính trị7 trong nhiệm vụ phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Các kết luận của Bộ Chính trị trong giai đoạn 2021 – 2025, như: Kết luận số 54-KL/TW ngày 07/8/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới theo hướng toàn diện, bền vững, trong đó tăng cường hỗ trợ nông dân bằng công nghệ, chuyển giao kỹ thuật giúp người dân thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với bối cảnh mới. Như vậy, Đảng luôn khẳng định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm, lâu dài gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Trong xây dựng nông thôn mới, nội dung bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên bền vững, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng, thể hiện qua việc điều chỉnh, bổ sung các tiêu chí về môi trường, cảnh quan, an toàn trước thiên tai và biến đổi khí hậu. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng lãnh đạo triển khai xây dựng nông thôn mới theo hướng “xanh – an toàn – bền vững”.

4. Thực trạng Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2015 – 2025

4.1. Giai đoạn 2015 – 2020

Giai đoạn 2015 – 2020 là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố và nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các bộ, ban, ngành cùng các cấp ủy, chính quyền địa phương nông thôn mới đạt được kết quả: cả nước có 5.415 xã (60,97%) đạt chuẩn nông thôn mới. Có khoảng 5.506 xã (62%) đạt chuẩn nông thôn mới. Có 12 tỉnh, thành phố có 100% số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân cả nước đạt 16,38 tiêu chí/xã; cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí; có 173 đơn vị cấp huyện thuộc 50 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới; có3 tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 20208.

Tuy nhiên, kết quả xây dựng nông thôn mới của một số vùng còn thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước, vẫn còn khoảng cách chênh lệch về kết quả thực hiện giữa các vùng, miền; vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư nông thôn chưa thực sự được phát huy; ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp ảnh hưởng nặng nề đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân.

4.2. Giai đoạn 2021 – 2025

Tính đến hết tháng 6/2025, “cả nước có 6.084/7.669 (79,3%) xã đạt chuẩn nông thôn mới; có 2.567 (42,2%) xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 743 xã (12,2%) đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; cả nước đã có 329/646đơn vị cấp huyện (51%)thuộc 60 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới, trong số các huyện đạt chuẩn nông thôn mới đến nay, đã có 48/240huyện (20%)đã đạt chuẩn nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Đặc biệt, có 24 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó, có 19 tỉnh, thành phốcó 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và 100% đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ nông thôn mới. Có 12 tỉnhđã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới9.

Bên cạnh những kết quả đạt được còn bộc lộ một số hạn chế: cơ chế chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới sau khi ban hành đã bộc lộ một số bất cập, gây khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong triển khai thực hiện; công tác tuyên truyền, vận động trong xây dựng nông thôn mới ở một số nơi đôi lúc chưa thường xuyên, liên tục; có khoảng cách chênh lệch lớn đối với kết quả đạt chuẩn xã nông thôn mới của một số vùng…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nông thôn mới đã có những bước thay đổi lớn. Tư duy về xây dựng nông thôn mới của Đảng có sự chuyển biến rõ nét từ “đạt chuẩn” sang “nâng cao, kiểu mẫu”, từ chú trọng hạ tầng sang phát triển toàn diện con người, kinh tế, văn hóa và môi trường. Chuyển đổi số trở thành một nội dung quan trọng trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, vấn đề biến đổi khí hậu được đặt ra cấp bách hơn, quan tâm hơn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc điều chỉnh quy hoạch, cơ cấu sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng thích ứng, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng chống chịu của cộng đồng nông thôn.

5. Đánh giá chung

5.1. Những thành tựu nổi bật

Thứ nhất, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với xây dựng nông thôn mới được nâng lên rõ rệt, thể hiện ở sự chủ động ban hành nghị quyết, chương trình hành động và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhiều cấp ủy đã cụ thể hóa thành nghị quyết chuyên đề, xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu cho từng giai đoạn xây dựng nông thôn mới qua đó bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo và chỉ đạo. Việc gắn xây dựng nông thôn mới với phát triển kinh tế – xã hội, cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình tổ chức thực hiện. Mặt khác, công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết và tổng kết được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo, góp phần kịp thời phát hiện, điều chỉnh những hạn chế, bất cập. Qua đó, vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng tiếp tục được khẳng định, góp phần nâng cao chất lượng và tính bền vững của xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn mới.

Thứ hai, xây dựng nông thôn mới đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thông qua việc đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội như: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa…, bộ mặt nông thôn Việt Nam từng bước khang trang, hiện đại hơn; điều kiện sản xuất và sinh hoạt của người dân được cải thiện rõ rệt. Không gian nông thôn bước đầu đã được quy hoạch bài bản, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống. Xây dựng nông thôn mới không chỉ thúc đẩy tăng thu nhập thông qua cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa… Các thiết chế văn hóa – xã hội được hoàn thiện đã góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn.

Quá trình xây dựng nông thôn mới thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng các bộ, ban, ngành, địa phương và sự tham gia trực tiếp của người dân với tư cách là chủ thể. Những kết quả cụ thể, thiết thực đạt được đã tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, qua đó củng cố niềm tin chính trị và nền tảng xã hội cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ ba, nội dung chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu từng bước được lồng ghép vào xây dựng nông thôn mới, tạo nền tảng cho phát triển nông thôn bền vững trong bối cảnh mới. Chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu được xác định là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới bước đầu được triển khai trước hết trong công tác quản lý, điều hành ở cơ sở thông qua số hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch và phát huy quyền làm chủ của người dân nông thôn. Đồng thời, chuyển đổi số được lồng ghép vào phát triển kinh tế nông thôn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp thông qua truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và kết nối thị trường, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp hiện đại, sinh thái.

Bên cạnh đó, nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng trong xây dựng nông thôn mới, thể hiện ở việc gắn quy hoạch, đầu tư hạ tầng và tổ chức sản xuất với điều kiện sinh thái và đặc điểm khí hậu từng vùng. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, phát triển nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng đã góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nông thôn trước thiên tai và biến đổi khí hậu.

Nhìn chung, sự lồng ghép chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu đã tạo nền tảng quan trọng cho xây dựng nông thôn mới bền vững, không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn nâng cao năng lực tự thích ứng và phát triển lâu dài của nông thôn Việt Nam trong bối cảnh mới.

5.2. Những hạn chế còn tồn tại

Nhận thức về chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân nông thôn còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Việc quán triệt, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về chuyển đổi số, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở một số nơi còn hình thức, thiếu chiều sâu, dẫn đến lúng túng trong tổ chức thực hiện.

Tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở cơ sở chưa đồng đều, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nguồn lực đầu tư cho chương trình còn phân tán, chưa thực sự tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, lĩnh vực then chốt, trong khi việc lồng ghép các chương trình, dự án có lúc chưa hiệu quả. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có thời điểm chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, làm giảm hiệu quả tổng thể của chương trình. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, tư duy lãnh đạo, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

6. Một số giải pháp

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững, thích ứng với chuyển đổi số và biến đổi khí hậu.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững, coi chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột xuyên suốt. Các cấp ủy cần chuyển từ tư duy hoàn thành tiêu chí sang tư duy nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng lâu dài của nông thôn. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong lãnh đạo, quản lý; gắn xây dựng nông thôn mới với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường, qua đó nâng cao năng lực chống chịu và phát triển bền vững của khu vực nông thôn.

Hai là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, theo dõi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Nội dung đào tạo cần được đổi mới theo hướng cập nhật kiến thức về chuyển đổi số, phát triển nông thôn bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và kỹ năng vận động quần chúng trong bối cảnh mới. Đồng thời, chú trọng đào tạo theo vị trí việc làm, gắn lý luận với thực tiễn cơ sở, qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện và hiệu quả lãnh đạo của các cấp ủy trong xây dựng nông thôn mới.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế nông thôn, coi đây là khâu đột phá; nâng cao năng lực sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và khởi nghiệp ở nông thôn.

Khâu đột phá trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay đó là chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế nông thôn. Vì vậy, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ nông sản, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và giá trị gia tăng của kinh tế nông thôn. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi để nâng cao năng lực sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở nông thôn thông qua hỗ trợ hạ tầng số, đào tạo kỹ năng và kết nối thị trường, qua đó hình thành động lực phát triển bền vững, hiện đại cho khu vực nông thôn.

Bốn là, rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế để đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với điều kiện thực tiễn. Hơn nữa, cần sửa đổi, bổ sung các chính sách theo hướng linh hoạt, tăng cường phân cấp, phân quyền, đẩy mạnh lồng ghép các nguồn lực và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá chính sách, qua đó đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình trên phạm vi cả nước.

Năm là, phát huy vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới.

Người dân là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu của quá trình phát triển nông thôn. Phát huy vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, tính bền vững của xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, cần mở rộng và thực hiện hiệu quả dân chủ cơ sở, tạo điều kiện để người dân tham gia từ lập quy hoạch, xây dựng kế hoạch đến giám sát, đánh giá kết quả thực hiện. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; qua đó tạo sức mạnh tổng hợp cho xây dựng nông thôn mới bền vững.

7. Kết luận

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai đoạn 2015 – 2025, xây dựng nông thôn mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông thôn bền vững. Tuy nhiên, trước bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới phương thức chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Đảng. Việc nhận diện rõ những thành tựu và “nút thắt” trong giai đoạn vừa qua là cơ sở quan trọng để Đảng hoạch định phương hướng, chủ trương, giải pháp lãnh đạo xây dựng nông thôn mới hiệu quả hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 281.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 15/12/2016 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 227, 124.
5, 6, 7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). Báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2020 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2021.
9. Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. Báo cáo tóm tắt Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025; định hướng giai đoạn 2026 – 2035.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2019). Kết luận số 54-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Kết luận số 219-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. Báo cáo Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.
4. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.