ThS. Vũ Hoàng Ba
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội, thể hiện bản chất chính trị ưu việt và tính nhân văn sâu sắc của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kế thừa truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh, qua các giai đoạn lịch sử, Đảng đã lãnh đạo từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, huy động nguồn lực xã hội để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công. Bài viết tập trung phân tích quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và thực thi chính sách từ năm 1945 đến nay, đánh giá thực trạng, kết quả đạt được và đề xuất các định hướng nhằm phát huy giá trị nhân văn, bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Đảng lãnh đạo; chính sách ưu đãi; người có công với cách mạng; an sinh xã hội.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vị trí trung tâm của con người trong chiến lược phát triển đất nước, trong đó việc thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng là nhiệm vụ chính trị đặc biệt, vừa là trách nhiệm pháp lý, vừa là mệnh lệnh từ trái tim và lương tri của mỗi người Việt Nam. Đây không đơn thuần là chính sách xã hội mang tính nhân đạo mà là sự cụ thể hóa đường lối chính trị, thể hiện lòng biết ơn đối với những hy sinh to lớn vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng tư tưởng cho công tác này qua việc khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”1. Quán triệt tư tưởng đó, hệ thống chính sách ưu đãi người có công đã liên tục được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của từng giai đoạn lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tổng kết thực tiễn lịch sử lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm và định hướng giá trị nhân văn là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ nhằm củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững ổn định chính trị mà còn tạo động lực tinh thần to lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
2. Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và thực hiện chính sách người có công qua các giai đoạn lịch sử
2.1. Giai đoạn 1945 – 1954: hình thành và xây dựng chính sách trong kháng chiến kiến quốc
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài”, ngân khố kiệt quệ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đến người có công. Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ. Đây được xem là văn bản pháp lý đầu tiên, đặt nền tảng cho hệ thống chính sách ưu đãi người có công của Việt Nam. Thực hiện chỉ thị của Đảng, tháng 6/1947, Hội nghị cán bộ Trung ương, các khu, các tỉnh đã họp tại Việt Bắc và nhất trí lấy ngày 27/7 hằng năm làm “Ngày Thương binh toàn quốc” (sau đổi thành Ngày Thương binh – Liệt sĩ).
Trong giai đoạn này, Đảng lãnh đạo việc thực hiện chính sách chủ yếu dựa trên sự huy động sức dân, với phương châm “xã hội hóa” ngay từ đầu do ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Phong trào “Đón thương binh về làng”, giúp đỡ thương binh “tàn nhưng không phế” đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi. Tổng kết giai đoạn 1947 – 1954, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành 24 văn bản quy phạm pháp luật liên quan2. Các chính sách thời kỳ này tập trung giải quyết những nhu cầu cấp thiết nhất về đời sống cho thương binh và gia đình liệt sĩ, góp phần quan trọng vào việc động viên tinh thần quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
2.2. Giai đoạn 1954 – 1975: củng cố hậu phương, chi viện tiền tuyến
Sau năm 1954, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng vai trò là hậu phương lớn; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, là tiền tuyến lớn. Trong bối cảnh đó, Đảng Lao động Việt Nam xác định chính sách đối với người có công không chỉ là nhiệm vụ xã hội mà còn là nhiệm vụ chính trị then chốt để bảo đảm sức chiến đấu và sự ổn định của hậu phương.
Tại miền Bắc, quan điểm của Đảng về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ được thể chế hóa mạnh mẽ. Điều 32 Hiến pháp năm 1959 khẳng định: “Nhà nước quan tâm giúp đỡ các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ”. Trước yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Chỉ thị số 105-CT/TW ngày 27/7/1965 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: “công tác thương binh, liệt sĩ là một vấn đề chính trị và tư tưởng rất quan trọng, có quan hệ trực tiếp đến đời sống, tình cảm của hàng chục vạn gia đình, ảnh hưởng đến sự phấn khởi, hăng hái của quân đội và nhân dân”3. Đặc biệt, trong mục III, nhiệm vụ của miền Bắc, Nghị quyết 14 chỉ rõ: “Động viên mọi lực lượng của miền Bắc theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, chi viện cho miền Nam ở mức cao nhất, đáp ứng đầy đủ và kịp thời mọi yêu cầu của cuộc Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa…”4. Trên tinh thần đó, hệ thống chính sách ưu đãi xã hội giai đoạn này phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng.
Theo thống kê, giai đoạn này có khoảng 184 văn bản pháp quy được ban hành liên quan đến chế độ ưu đãi người có công5. Điểm nổi bật là sự mở rộng đối tượng thụ hưởng. Không chỉ giới hạn trong lực lượng quân đội, chính sách đã bao trùm lên các lực lượng dân sự trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cụ thể, thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 30/10/1966, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 192/CP, chính thức công nhận và áp dụng chế độ thương tật, liệt sĩ đối với thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, dân quân du kích và cán bộ dân chính đảng. Sự điều chỉnh này khẳng định quan điểm toàn dân đánh giặc của Đảng; đồng thời, ghi nhận xứng đáng công lao của những người con ưu tú đã ngã xuống. Sự kết hợp chặt chẽ giữa đãi ngộ vật chất (trợ cấp, việc làm, hưu trí) và tôn vinh tinh thần trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng ổn định tư tưởng, củng cố hậu phương miền Bắc vững chắc, tạo động lực to lớn cho tiền tuyến miền Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
2.3. Giai đoạn 1975 – 1985: khắc phục hậu quả chiến tranh, giải quyết các vấn đề tồn đọng
Sau ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất nhưng phải đối mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh. Số lượng thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chiến tranh cần giải quyết chế độ tăng đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế bao cấp gặp nhiều khó khăn, Đảng vẫn kiên định chủ trương ưu tiên nguồn lực cho công tác này. Chỉ thị số 223/CT-TW ngày 08/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thương binh liệt sĩ và xã hội đã xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy Đảng trong việc nhanh chóng xác nhận, giải quyết quyền lợi cho người có công. Giai đoạn 1975 – 1985 năm sau chiến tranh chứng kiến số lượng văn bản pháp luật kỷ lục với 523 văn bản được ban hành6. Đảng đã lãnh đạo việc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang và từng bước thống nhất chế độ chính sách giữa hai miền Nam – Bắc. Tuy nhiên, do cơ chế quan liêu bao cấp, việc thực hiện chính sách còn nhiều bất cập, đời sống người có công gặp nhiều khó khăn.
2.4. Giai đoạn 1986 đến nay: đổi mới, hoàn thiện và pháp điển hóa chính sách
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới chính sách xã hội. Quan điểm của Đảng chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội. Dấu mốc quan trọng nhất trong việc pháp điển hóa đường lối của Đảng là sự ra đời của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994. Đây là văn bản pháp lý cao nhất tính đến thời điểm đó, khẳng định cam kết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với người có công. Tiếp đó, các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII đều nhấn mạnh yêu cầu xã hội hóa công tác chăm sóc người có công. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) xác định mục tiêu cụ thể: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú”7.
Năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020, mở rộng đối tượng và nâng mức hỗ trợ. Từ năm 2012 đến nay, đã có 69 văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch8. Sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn này tập trung vào chiều sâu, hướng đến tính bền vững và thực chất trong chăm lo đời sống người có công.
3. Đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách người có công
Quán triệt sâu sắc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ cùng các địa phương đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm hiện thực hóa chính sách ưu đãi người có công. Những thành tựu đạt được là minh chứng sống động cho tính ưu việt của chế độ và sự tri ân sâu sắc của toàn xã hội.
Về độ bao phủ và mức độ ưu đãi của chính sách, hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công đã từng bước được hoàn thiện để không bỏ sót đối tượng. Đến năm 2024, cả nước đã xác nhận được hơn 9,2 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số9. Phạm vi đối tượng thụ hưởng không ngừng được rà soát và mở rộng, bao trùm từ những người trực tiếp cầm súng, người bị địch bắt tù đày cho đến các nạn nhân của chất độc hóa học và thân nhân của họ. Điểm nổi bật trong giai đoạn này là nỗ lực vượt bậc của ngân sách nhà nước trong việc điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp. Cụ thể, mức chuẩn đã tăng từ 1.624.000 đồng (năm 2019)10 lên 2.789.000 đồng (năm 2024)11, tương ứng mức tăng khoảng 72% chỉ trong vòng 5 năm. Sự điều chỉnh này thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm đời sống cho người có công.
Về bảo đảm mức sống và an sinh xã hội, mục tiêu “người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư” đã cơ bản hoàn thành. Số liệu thống kê đến năm 2024 cho thấy, trên 98,5% hộ gia đình người có công đã đạt được tiêu chí này. Công tác hỗ trợ nhà ở, một trong những trụ cột của an sinh đạt kết quả tích cực với hơn 400.000 hộ gia đình chính sách được Nhà nước và xã hội hỗ trợ xây mới, sửa chữa trong giai đoạn 2013 – 2025. Để duy trì sự ổn định này, hằng năm ngân sách trung ương đã dành trên 30.000 tỷ đồng để thực hiện các chế độ ưu đãi thường xuyên và một lần12. Song song với nguồn lực nhà nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy mạnh mẽ qua Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, huy động hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, tạo nên phong trào xã hội hóa công tác chăm sóc người có công sâu rộng và bền vững.
Về công tác tri ân và quy tập hài cốt liệt sĩ, đây được xác định là nhiệm vụ thiêng liêng, giải quyết nỗi day dứt sau chiến tranh. Thực hiện Đề án 1237 (Quyết định số 1237/QĐ-TTg ngày 27/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ này đến năm 2020 và những năm tiếp theo) và Đề án 150 (Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 14/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xác định hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin), công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được đẩy mạnh không chỉ trong nước mà còn mở rộng sang nước bạn Lào và Campuchia. Kết quả từ năm 2021 – 2025, toàn quốc đã tìm kiếm và quy tập được 6.959 hài cốt liệt sĩ. Công tác quản lý cũng đang từng bước hiện đại hóa thông qua việc số hóa dữ liệu về liệt sĩ và mộ liệt sĩ. Hệ thống hơn 3.000 nghĩa trang liệt sĩ và 4.000 công trình ghi công trên cả nước liên tục được tu bổ, tôn tạo khang trang, thực sự trở thành những “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ13.
Thành phố Hà Nội là địa phương đi đầu vận dụng sáng tạo và hiệu quả các chủ trương của trung ương về chính sách người có công với cách mạng. Giai đoạn 2020 – 2025, Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo dành khoảng 3.200 tỷ đồng ngân sách địa phương cho công tác này. Thành phố đã tổ chức điều dưỡng tập trung cho trên 120.000 lượt người có công; đồng thời, vận động xã hội hóa để trao tặng hàng nghìn sổ tiết kiệm14. Mô hình của Hà Nội là bài học kinh nghiệm quý báu về sự kết hợp hài hòa giữa nguồn lực ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội hóa dưới sự lãnh đạo trực tiếp, quyết liệt của cấp ủy đảng.
Tuy nhiên, công tác thực hiện chính sách vẫn còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục. Vấn đề giải quyết hồ sơ tồn đọng đối với các trường hợp hy sinh, bị thương nhưng không còn giấy tờ gốc vẫn là một bài toán khó, quá trình xác minh kéo dài gây tâm tư cho thân nhân và gia đình. Bên cạnh đó, chênh lệch mức sống của người có công giữa các vùng, miền vẫn hiện hữu, đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số so với khu vực đô thị. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu người có công ở một số địa phương còn chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và giải quyết thủ tục hành chính. Những tồn tại này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế trong thời gian tới để chính sách ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn.
4. Một số giải pháp
Một là, ưu tiên hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật theo hướng hiện đại, đồng bộ và bao trùm.
Đây được xác định là giải pháp đột phá, tạo hành lang pháp lý vững chắc để thể chế hóa các quan điểm của Đảng vào thực tiễn. Trước yêu cầu mới, hệ thống chính sách cần chuyển dịch căn bản từ tư duy “bao cấp, hỗ trợ” sang tư duy “bảo đảm và phát triển”, trong đó chính sách phải đi trước một bước để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, các cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến Pháp lệnh Ưu đãi người có công. Mục tiêu được Nghị quyết số 42-NQ/TW xác định là “bảo đảm người có công và gia đình người có công phải có mức sống từ trung bình khá trở lên so với mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú”. Theo đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế trợ cấp linh hoạt, tự động điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm giá trị thực tế của các khoản ưu đãi không bị trượt giá theo thời gian.
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số như một phương thức lãnh đạo mới, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công tác người có công cần sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ để giải quyết những bài toán lịch sử để lại. Việc hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về người có công và kết nối liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là yêu cầu bắt buộc để chuẩn hóa quy trình, ngăn chặn trục lợi chính sách. Đặc biệt, việc triển khai Đề án 150 về xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin cần được xem là nhiệm vụ chính trị cấp bách. Sự kiện Thủ tướng Chính phủ công bố vận hành “Ngân hàng Gen (ADN) liệt sĩ chưa xác định danh tính và thân nhân liệt sĩ” vào tháng 7/2024 là minh chứng hùng hồn cho quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là hành động nhân văn sâu sắc, tận dụng thành tựu khoa học để xoa dịu nỗi đau chiến tranh, đáp ứng nguyện vọng cháy bỏng tìm lại người thân của hàng vạn gia đình liệt sĩ sau nhiều năm khắc khoải chờ mong.
Ba là, tăng cường công tác dân vận, xã hội hóa nguồn lực, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, các cấp ủy đảng cần xác định vai trò chủ đạo của Nhà nước phải gắn liền với việc khơi dậy nguồn lực to lớn trong nhân dân. Cần đổi mới phương thức vận động từ các hình thức ủng hộ nhất thời sang các mô hình bền vững, có chiều sâu, như: các tập đoàn, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng suốt đời Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, nhận đỡ đầu con thương binh, liệt sĩ vượt khó học giỏi. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương phải được đề cao trong việc huy động, quản lý và sử dụng minh bạch các nguồn Quỹ Đền ơn đáp nghĩa. Sự chung tay của toàn xã hội không chỉ giảm áp lực cho ngân sách mà quan trọng hơn là giáo dục ý thức trách nhiệm cộng đồng, làm cho phong trào đền ơn đáp nghĩa trở thành nét đẹp văn hóa thường ngày trong đời sống nhân dân.
Bốn là, đổi mới nội dung và phương thức giáo dục truyền thống, biến sự tri ân thành động lực phát triển.
Chính sách người có công mang trong mình giá trị giáo dục to lớn về lịch sử và lòng yêu nước. Trong kỷ nguyên số, công tác tư tưởng và giáo dục truyền thống cần được đổi mới để phù hợp với thị hiếu của thế hệ trẻ. Cần tận dụng các nền tảng số, mạng xã hội để lan tỏa những câu chuyện lịch sử, những tấm gương hy sinh oanh liệt của cha anh một cách sinh động, hấp dẫn. Thực hiện tinh thần chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (năm 2021) về xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam, công tác này phải hướng tới việc chuyển hóa lòng biết ơn thành khát vọng cống hiến. Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ, mỗi tấc đất hòa bình, mỗi cơ hội phát triển hôm nay đều được đánh đổi bằng máu xương, từ đó, nỗ lực học tập, lao động để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách “vừa hồng, vừa chuyên”, lấy đạo đức công vụ làm gốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ thương binh xã hội phải xem thương binh như người ruột thịt của mình. Thấm nhuần tư tưởng đó, đồng thời thực hiện nghiêm Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về “Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, cần xây dựng đội ngũ cán bộ phụ trách lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có trái tim nhân ái, sự tận tụy và liêm chính. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các biểu hiện quan liêu, hách dịch, vô cảm hoặc trục lợi từ chính sách ưu đãi. Cán bộ làm công tác này phải là cầu nối tin cậy, truyền tải trọn vẹn sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước đến với đối tượng thụ hưởng, giữ gìn hình ảnh tốt đẹp của chế độ trong lòng nhân dân.
5. Kết luận
Xuyên suốt chiều dài lịch sử hơn 79 năm qua (kể từ dấu mốc ngày 27/7/1947 được chọn là Ngày Thương binh – Liệt sĩ), thực tiễn đã minh chứng hùng hồn rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Những kết quả đó đã góp phần trọng yếu vào việc ổn định tình hình chính trị – xã hội; đồng thời, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” và niềm tin sắt son của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, đổi mới và nâng cao chất lượng thực hiện chính sách người có công được xác định là nhiệm vụ chính trị vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Thực hiện tốt chính sách này chính là sự vun đắp, nuôi dưỡng nguồn lực tinh thần to lớn, khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước và khát vọng cống hiến trong toàn dân tộc. Đó chính là nền tảng tinh thần vững chắc để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 401.
2, 5, 6, 8. Thực hiện tốt chính sách với người có công với cách mạng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững đất nước. https://www.tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/827437/thuc-hien-tot-chinh-sach-voi-nguoi-co-cong-voi-cach-mang%2C-gop-phan-bao-dam-an-sinh-xa-hoi%2C-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc.aspx.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003). Văn kiện Đảng toàn tập. (Tập 26: 1965). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 125.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 29: 1968). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 51.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 148 – 149.
9. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2024). Báo cáo tình hình thực hiện công tác lao động, người có công và xã hội 6 tháng đầu năm 2024.
10. Chính phủ (2019). Nghị định số 58/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.
11. Chính phủ (2024). Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21/7/2023 của Chính phủ.
12. Thực hành tiết kiệm. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thuc-hanh-tiet-kiem-119250601170143507.htm
13. Ưu tiên nguồn lực thỏa đáng cho nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. https://www.qdnd.vn/xa-hoi/chinh-sach/uu-tien-nguon-luc-thoa-dang-cho-nhiem-vu-tim-kiem-quy-tap-va-xac-dinh-danh-tinh-hai-cot-liet-si-1018685.
14. Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng giai đoạn 2020 – 2025. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/9/18/dang-bo-thanh-pho-ha-noi-thuc-hien-chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-voi-cach-mang-giai-doan-2020-2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2017). Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
3. Chính phủ (2021). Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
4. Chính phủ (2021). Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
5. Giải pháp thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/12/giai-phap-thuc-hien-chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-voi-cach-mang.



