Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với sản xuất và kinh doanh hóa chất gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn

Enhancing management efficiency for chemical production and business in alignment with circular economy development

ThS. Vương Thành Chung
Cục Hóa chất, Bộ Công Thương

(Quanlynhanuoc.vn) – Ở Việt Nam, ngành Công nghiệp hóa chất được nhận định đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành sản xuất thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp. Phát triển công nghiệp hóa chất là sự kết hợp hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa phát triển theo hướng hiện đại và tăng trưởng xanh. Vì vậy, xây dựng và phát triển ngành Công nghiệp hóa chất vừa phải theo hướng hiện đại với cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, hình thành chuỗi giá trị; mặt khác, phải ứng dụng công nghệ, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, hướng tới tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất hướng tới phát triển bền vững cho ngành; đồng thời, gắn với xây dựng nền kinh tế tuần hoàn ở nước ta.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; ngành Công nghiệp hóa chất; kinh tế tuần hoàn; kinh tế xanh; sản xuất – kinh doanh.

Abstract: In Vietnam, the chemical industry is identified as playing a vital role in economic development, providing input materials for many essential production sectors serving both industrial manufacturing and consumer needs. Developing the chemical industry requires a harmonious combination of rapid and sustainable growth, as well as a balance between modern orientation and green growth. Therefore, building and developing the chemical industry must, on one hand, move towards a modern direction with a relatively complete structure to form value chains; on the other hand, it must apply modern, environmentally friendly technologies that adapt to climate change and utilize natural resources effectively, aiming for green growth and a circular economy. This article aims to analyze the current situation and propose solutions to improve state management of chemical production and business towards sustainable development for the industry, while simultaneously integrating with the construction of a circular economy in our country.

Keywords: State management; chemical industry; circular economy; green economy; production and business.

1. Khung pháp lý liên quan đến sản xuất – kinh doanh hóa chất hướng đến phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam

Trước ngày 01/01/2026, Luật Hóa chất năm 2007 là văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh hoạt động hóa chất tại Việt Nam, tập trung chủ yếu vào quản lý an toàn hóa chất, phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất và bảo vệ môi trường. Sau gần 20 năm thực hiện Luật đã bộc lộ nhiều bất cập, ngày 14/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Hóa chất năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026). Đây là một bước ngoặt mang tính chiến lược cho ngành Hóa chất, không chỉ giải quyết những bất cập nội tại mà còn kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc cho lộ trình phát triển xanh của Việt Nam.

Thứ nhất, luật hóa khái niệm “hóa chất xanh” và “kinh tế tuần hoàn”. Luật Hóa chất năm 2025 chính thức đưa vào các thuật ngữ và quy định về hóa chất xanh và kinh tế tuần hoàn trong ngành Hóa chất. Luật quy định các nguyên tắc về thiết kế sản phẩm hóa chất sao cho giảm thiểu độc hại ngay từ đầu nguồn và khuyến khích việc tái sử dụng phụ phẩm hóa chất.

Thứ hai, quản lý hóa chất theo “vòng đời sản phẩm”. Luật Hóa chất năm 2025 áp dụng phương thức quản lý xuyên suốt từ khâu thiết kế, sản xuất, lưu thông đến khâu thải bỏ và tái chế. Điều này giúp giải quyết “điểm nghẽn” về việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ ngành đã từng xảy ra trong thời gian trước đây.

Thứ ba, cơ chế thúc đẩy chuyển đổi số và “hộ chiếu hóa chất”. Luật Hóa chất năm 2025 đã yêu cầu bắt buộc số hóa cơ sở dữ liệu hóa chất quốc gia. Mỗi loại hóa chất sẽ có một mã nhận diện riêng (tương tự hộ chiếu), giúp cơ quan nhà nước giám sát hành trình hóa chất trong thời gian thực. Điều này hỗ trợ công tác thanh tra, giám sát thông minh nhằm giảm kiểm tra trực tiếp, tăng cường hậu kiểm qua hệ thống dữ liệu.

Thứ tư, quy định rõ ràng về “phụ phẩm” và “sản phẩm tái chế”. Luật Hóa chất năm 2025 đã nới lỏng và tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp dễ dàng công nhận phụ phẩm là nguyên liệu đầu vào cho quy trình khác nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật. Đây chính là chìa khóa để hiện thực hóa các mô hình cộng sinh công nghiệp, như: mô hình khu công nghiệp sinh thái Nam Cầu Kiền hay mô hình xử lý phụ phẩm ngành Hóa chất tại Công ty cổ phần DAP Đình Vũ (thuộc Vinachem) đang rất thành công trong quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh doanh tuần hoàn1.

Thứ năm, chính sách ưu đãi đặc thù cho các dự án hóa chất tuần hoàn. Luật Hóa chất năm 2025 quy định các dự án sản xuất hóa chất xanh, hóa chất ít phát thải khí nhà kính hoặc dự án đầu tư công nghệ tái chế hóa chất sẽ được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế, tiền thuê đất và tiếp cận tín dụng xanh.

Thứ sáu, tăng cường trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Luật Hóa chất năm 2025 quy định rõ trách nhiệm của đơn vị sản xuất/nhập khẩu hóa chất trong việc thu hồi, xử lý bao bì và các sản phẩm hóa chất sau khi hết hạn sử dụng. Đây là động lực ép các doanh nghiệp phải thiết kế lại bao bì và quy trình theo hướng tuần hoàn.

Như vậy, Luật Hóa chất năm 2025 đã chuyển dịch từ tư duy “quản lý để kiểm soát nguy cơ” sang “quản lý để phát triển bền vững”. Theo đó, việc chuyển sang vai trò “người kiến tạo” khi đặt hóa chất vào dòng chảy của kinh tế tuần hoàn. Thay vì chỉ nhìn thấy nguy cơ, Luật đã nhấn mạnhgiá trị tài nguyên trong các phụ phẩm và dòng thải hóa chất. Việc luật hóa khái niệm “hóa chất xanh” và quản lý theo “vòng đời sản phẩm” cho phép Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp từ khâu thiết kế đến tái chế. Điều này xóa bỏ tư duy đánh đổi giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Quản lý giờ đây không chỉ là ngăn chặn sai phạm mà là tạo ra hành lang pháp lý, ưu đãi tài chính để khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm phát thải. Sự thay đổi này biến việc tuân thủ pháp luật từ “gánh nặng chi phí” thành “động lực cạnh tranh”, giúp ngành Hóa chất Việt Nam phát triển bền vững và tự tin hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu.

2. Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nhà nước đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất ở Việt Nam

Bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc đa ngành, đa cấp, với sự phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng từ trung ương đến địa phương, dựa trên cơ sở Luật Hóa chất năm 2025 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành.

Về nguyên tắc và phân công trách nhiệm chung, Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động hóa chất trong phạm vi cả nước. Đây là cơ quan ban hành các chiến lược, chính sách lớn, và khung pháp lý chung. Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì, đầu mối trong toàn bộ hệ thống, chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ trong việc QLNN về hoạt động hóa chất. Các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện nhiệm vụ QLNN về hoạt động hóa chất theo sự phân công của Chính phủ. Sự phối hợp này là cực kỳ quan trọng do tính chất phức tạp và đa dạng của hóa chất, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc QLNN về hoạt động hóa chất trong phạm vi địa phương mình theo phân cấp của Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành trung ương.

Ở Trung ương, Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì, đóng vai trò nòng cốt trong việc quản lý hóa chất với các nhiệm vụ chính: (1) Chủ trì xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành hóa chất. (2) Ban hành và quản lý các danh mục hóa chất (hóa chất cấm, hóa chất hạn chế sản xuất – kinh doanh, hóa chất phải khai báo, hóa chất nguy hiểm…). (3) Cấp, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến hoạt động hóa chất thuộc thẩm quyền (ví dụ: giấy phép sản xuất – kinh doanh hóa chất bảng, hóa chất tiền chất công nghiệp). (4) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hóa chất trên phạm vi toàn quốc; (5) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các quy định về hóa chất…

Cơ quan chuyên môn trực thuộc giúp việc cho Bộ Công Thương là Cục Hóa chất. Tại khoản 2 Điều 63 Luật Hóa chất năm 2007, Chính phủ quyết định thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan nhà nước quản lý về hoạt động hóa chất thuộc Bộ Công Thương để giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ QLNN về hoạt động hóa chất. Chính vì vậy, ngày 02/01/2009, Cục Hóa chất được thành lập theo Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện QLNN theo quy định pháp luật về hóa chất; đồng thời, đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển ngành Công nghiệp hóa chất thuộc trách nhiệm của Bộ Công Thương.

Ngay sau khi được thành lập, Cục Hóa chất đã tập trung ngay vào việc ổn định tổ chức, phát triển đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất, đồng thời xây dựng bổ sung hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản lý hóa chất làm cơ sở cho công tác QLNN về hóa chất, từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực thi chính sách, pháp luật về hóa chất. Cục Hóa chất là đơn vị trực tiếp giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện nhiệm vụ QLNN về hoạt động hóa chất. Cục có các phòng, ban chuyên trách, như: Phòng Quản lý hóa chất, Phòng Phát triển công nghiệp hóa chất… đảm nhiệm các công việc cụ thể về cấp phép, khai báo, kiểm tra, xây dựng cơ sở dữ liệu hóa chất quốc gia.

Ở cấp địa phương: triển khai thực hiện Luật Hóa chất năm 2025, UBND các tỉnh, thành phố đã tiến hành giao nhiệm vụ quản lý hoạt động hóa chất tại địa phương cho các sở, ngành, địa phương.Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn đầu mối QLNN hoạt động hóa chất trên địa bàn tỉnh, thành phố; trực tiếp quản lý hoạt động hóa chất trong ngành Công nghiệp. Tùy theo địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Công an tỉnh, thành phố… được phân công thực hiện trách nhiệm quản lý hóa chất theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, lực lượng. Công tác quản lý hóa chất đã có sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chuyên môn địa phương, được các địa phương ngày càng quan tâm hơn và chủ động triển khai thông qua các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo điều hành.

3. Vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất

(1) Quá trình xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hóa chất còn gặp nhiều khó khăn do tính chất phức tạp của lĩnh vực hóa chất, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Việc lấy ý kiến, tổng hợp và tiếp thu ý kiến góp ý của các bộ, ngành và địa phương đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định, phê duyệt các văn bản đôi khi còn chưa thực sự nhịp nhàng, ảnh hưởng đến tiến độ ban hành.

(2) Nhân lực trong công tác QLNN về lĩnh vực hóa chất còn mỏng. Tại Cục Hóa chất (Bộ Công Thương), theo báo cáo năm 2024, Cục đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Mặc dù được giao biên chế 30 công chức và 17 viên chức, hiện Cục chỉ có 27 công chức và 16 viên chức đang công tác4. Trong khi đó, khối lượng công việc ngày càng tăng, đặc biệt là các nhiệm vụ mới phát sinh trong lĩnh vực quản lý hóa chất. Tình trạng này tạo áp lực lớn lên đội ngũ cán bộ hiện có, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tiến độ công việc.

Ngoài ra, hệ thống công nghệ thông tin, đặc biệt là cơ sở dữ liệu hóa chất quốc gia, dù đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý. Theo số liệu báo cáo từ sở Công Thương ở các địa phương trong giai đoạn từ 2021 – 2024, số lượng công chức được phân công chuyên trách về quản lý hóa chất bình quân là 25 người/tỉnh, công chức được phân công kiêm nhiệm bình quân là 34 người/tỉnh. Trong số lãnh đạo, công chức chuyên trách, công chức kiêm nhiệm về quản lý hóa chất chỉ có trung bình 24 người có trình độ đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành hóa chất5. Hơn nữa, năng lực cán bộ còn hạn chế, đội ngũ cán bộ quản lý hóa chất ở một số địa phương còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là về công nghệ hóa chất và các vấn đề liên quan đến hóa chất mới.

(3) Sự phối hợp, kết nối, chia sẻ thông tin liên quan đến quản lý hóa chất giữa các ngành, như: Công thương, Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Giáo dục và Đào tạo… ở trung ương và địa phương còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các địa phương còn thiếu chặt chẽ nên việc kiểm soát, quản lý các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất – kinh doanh, lưu thông hóa chất trên nhiều địa bàn còn gặp khó khăn. Mặc dù có phân công nhưng do tính đa ngành của hóa chất, vẫn còn tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành, đặc biệt là trong khâu kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, gây khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hóa chất.

(4) Công tác thanh tra, kiểm tra ngành hóa chất vẫn chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ các quy định hiện hành về an toàn và môi trường, chưa có các tiêu chí đủ mạnh mẽ và chi tiết để trực tiếp đánh giá và xử lý các hành vi đi ngược lại nguyên tắc kinh tế tuần hoàn. Việc tích hợp sâu hơn các tiêu chí kinh tế tuần hoàn vào quy trình thanh tra, kiểm tra là hết sức cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành hóa chất. Các cuộc thanh tra, kiểm tra hiện tại chưa có bộ tiêu chí rõ ràng để đánh giá và xử phạt các hành vi “chưa tối ưu hóa sử dụng tài nguyên” hoặc “chưa áp dụng công nghệ xanh”. Chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ các ngưỡng phát thải. Mặc dù các doanh nghiệp được khuyến khích áp dụng công nghệ sạch hơn nhưng chưa có chế tài xử phạt nếu không làm mà chỉ phạt khi gây ô nhiễm. Việc thiếu các quy định và cơ chế thanh tra, kiểm tra trực tiếp về hiệu quả tài nguyên và công nghệ xanh làm giảm động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế tuần hoàn. Hơn nữa, mặc dù các quy định về quản lý hóa chất hiện nay có nhiều thay đổi theo hướng cắt giảm các thủ tục hành chính và chuyển sang công tác hậu kiểm. Tuy nhiên, lực lượng quản lý còn mỏng, hoạt động thanh tra, kiểm tra hằng năm phải thực hiện theo kế hoạch, số lượng đơn vị thanh tra, kiểm tra bị hạn chế. Vì vậy, số lượng đơn vị thực hiện thanh tra, kiểm tra mỗi năm rất ít so với số lượng cơ sở hoạt động hóa chất, công tác quản lý hóa chất vì vậy gặp nhiều khó khăn, không được chặt chẽ, đầy đủ.

(5) Công tác tuyên truyền chưa thực sự sâu rộng, chưa đến được hết với cộng đồng doanh nghiệp. Vẫn còn tình trạng một số đơn vị, cơ sở đặc biệt là đơn vị có quy mô nhỏ lẻ, không chủ động trong việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật, chưa nắm bắt kịp thời những quy định trong quản lý nhà nước về hóa chất, việc chấp hành các quy định pháp luật còn hạn chế.

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện khung pháp luật về sản xuất, kinh doanh hóa chất theo hướng phát triển bền vững, xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

Tiếp tục làm rõ hơn nữa nội hàm “hóa chất xanh”, định nghĩa rõ ràng các tiêu chí thế nào là hóa chất thân thiện, hóa chất ít phát thải sẽ giúp cơ quan quản lý có căn cứ để áp dụng các cơ chế ưu đãi hoặc hạn chế. Đặc biệt, pháp luật cần thiết lập nguyên tắc “thiết kế tuần hoàn”, yêu cầu doanh nghiệp phải tính toán đến khả năng thu hồi và tái chế sản phẩm ngay từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D). Cần xây dựng một “hành lang xanh” để công nhận phụ phẩm hóa chất là nguyên liệu đầu vào cho các ngành Công nghiệp khác nếu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn. Việc ban hành các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về sản phẩm tái chế từ hóa chất sẽ giúp doanh nghiệp tự tin đưa sản phẩm ra thị trường mà không sợ vướng vào các rắc rối pháp lý về quản lý chất thải. Đồng thời, xây dựng cơ chế “Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)” đặc thù cho ngành Hóa chất. Khung pháp luật mới cần quy định cụ thể trách nhiệm của nhà sản xuất và nhà nhập khẩu trong việc thiết lập hệ thống thu hồi, vận chuyển và xử lý an toàn bao bì, sản phẩm quá hạn.

Bên cạnh đó, tích hợp công cụ quản lý số vào khung pháp lý ngành Hóa chất, ban hành các quy định về “Hộ chiếu hóa chất số” và bắt buộc khai báo dòng vật chất trên nền tảng điện tử. Pháp luật cần quy định tính pháp lý của dữ liệu số, cho phép sử dụng dữ liệu trực tuyến để thay thế cho các cuộc thanh tra, kiểm tra trực tiếp rườm rà.

Hai là, kiện toàn tổ chức, bộ máy nhằm thực hiện tốt chức năng QLNN đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất hướng đến kinh tế tuần hoàn.

Việc tái cấu trúc bộ máy quản lý theo hướng tích hợp và thống nhất. Giải pháp then chốt là xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành thực chất, tiến tới thiết lập một “đầu mối quản lý tập trung” tại các địa phương, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng đơn vị trong chuỗi giá trị tuần hoàn, tránh tình trạng “nhiều người cùng quản nhưng không ai chịu trách nhiệm chính” khi có sự cố môi trường hoặc vướng mắc về thủ tục phụ phẩm hóa chất xảy ra.

Nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ quản lý. Quản lý hóa chất theo hướng kinh tế tuần hoàn đòi hỏi cán bộ không chỉ nắm vững quy định hành chính mà còn phải có kiến thức chuyên sâu về công nghệ hóa học, sinh thái học công nghiệp và quản trị xanh. Do đó, kiện toàn bộ máy phải đi đôi với việc đào tạo lại và đào tạo nâng cao, xây dựng đội ngũ không chỉ biết thực thi luật pháp một cách cứng nhắc mà còn có khả năng tư vấn cho doanh nghiệp về các mô hình cộng sinh công nghiệp hay công nghệ hóa chất xanh. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và quản trị thông minh vào bộ máy QLNN. Việc số hóa toàn bộ hồ sơ doanh nghiệp, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích dòng vật chất và giám sát phát thải theo thời gian thực sẽ giúp bộ máy quản lý vận hành tinh gọn hơn.

Ba là, tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.

Cần chuyển đổi tư duy thanh kiểm tra từ “trừng phạt” sang “hỗ trợ và định hướng tuân thủ”. Trong bối cảnh kinh tế tuần hoàn, mục tiêu cốt lõi của thanh tra phải là hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện tốt các quy chuẩn kỹ thuật về tái chế, quản lý vòng đời và hóa chất xanh. Việc tăng cường hiệu quả kiểm tra đòi hỏi các đoàn thanh tra phải đóng vai trò như những chuyên gia tư vấn. Khi phát hiện sai phạm trong việc xử lý phụ phẩm hoặc quản lý chất thải hóa chất, cơ quan chức năng cần chỉ ra các lỗ hổng trong quy trình vận hành và gợi ý các giải pháp công nghệ hoặc mô hình quản trị tuần hoàn để doanh nghiệp khắc phục. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và giám sát từ xa để tối ưu hóa hiệu quả kiểm tra. Thông qua các thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống có thể cảnh báo các dấu hiệu bất thường về tiêu hao nguyên liệu hoặc xả thải vượt ngưỡng, giúp cơ quan quản lý thực hiện “thanh tra có mục tiêu” thay vì kiểm tra tràn lan.

Đồng thời, kiện toàn cơ chế phối hợp thanh tra liên ngành để xóa bỏ sự chồng chéo, thiết lập quy chế phối hợp thanh tra liên ngành theo cơ chế “một đầu mối”. Theo đó, cần đổi mới phương thức và nghiêm minh trong xử lý vi phạm hành chính gắn với trách nhiệm môi trường. Chế tài xử phạt cần được thiết kế lại để thực sự có tính răn đe và khuyến khích khắc phục hậu quả. Bên cạnh các hình thức phạt tiền, cần tăng cường áp dụng các hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả mang tính tuần hoàn. Cần xây dựng cơ chế “blacklist” (danh sách đen) công khai các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng và “greenlist” (danh sách xanh) dành cho các doanh nghiệp thực hiện tốt kinh tế tuần hoàn.

Tiếp tục nâng cao năng lực và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ thanh tra chuyên ngành. Cán bộ thanh tra hóa chất trong kỷ nguyên kinh tế tuần hoàn cần được đào tạo về các quy chuẩn kỹ thuật mới nhất, các mô hình kinh tế bền vững và kỹ năng sử dụng các thiết bị giám sát hiện đại. Đồng thời, có cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động của chính các đoàn thanh tra để ngăn ngừa tình trạng tiêu cực, nhũng nhiễu.

Ngoài ra, cần xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật cho “hóa chất tuần hoàn”, thúc đẩy mô hình “cộng sinh công nghiệp” thông qua quy hoạch các cụm ngành; thiết lập cơ chế “quản trị dịch vụ hóa chất” thay vì bán hóa chất theo khối lượng; hình thành “Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh” ngành hóa chất để hỗ trợ vốn mồi cho các dự án nghiên cứu chuyển đổi hóa chất độc hại sang hóa chất sinh học hoặc các công nghệ thu hồi carbon (CCU) trong sản xuất hóa chất.

5. Kết luận

QLNN đối với sản xuất – kinh doanh hóa chất là một trong những lĩnh vực then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Từ thực tiễn cho thấy, công tác này đã góp phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh hóa chất theo hướng hóa học xanh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan đó, công tác QLNN trong lĩnh vực này vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Vì vậy, tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp về nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung pháp lý; kiện toàn bộ máy quản lý và nâng cao hiệu quả của công tác thanh kiểm tra, giám sát đối với ngành Hóa chất nhằm hướng đến mục tiêu an toàn, bền vững, thúc đẩy hình thành và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn như đã đặt ra trong Chiến lược phát triển đến năm 2030 của đất nước.

Chú thích:
1. Khu công nghiệp Nam Cầu Kiến hồi sinh nhờ chuyển sang mô hình sinh thái. https://namcaukien.com.vn/khu-cong-nghiep-nam-cau-kien-hoi-sinh-nho-chuyen-sang-mo-hinh-sinh-thai/
2. Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) (2023). Báo cáo tổng kết công tác thanh tra chuyên ngành, kiểm tra năm 2023.
3. Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) (2024). Báo cáo tổng kết công tác thanh tra chuyên ngành, kiểm tra năm 2024.
4. Bộ Công Thương (2021). Báo cáo Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp hóa chất Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2040.
5. Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) (2025). Báo cáo Tổng kết thực hiện nhiệm vụ và triển khai nhiệm vụ các năm 2021 – 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2020). Thông tư số 48/2020/TT-BCT ngày 21/12/2020 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển hóa chất nguy hiểm.
2. Quốc hội (2007, 2018). Luật Hóa chất năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).
3. Quốc hội (2025). Luật Hóa chất năm 2025.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 726/QĐ-TTg ngày 16/6/2022phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, giai đoạn 2021 – 2030.