Citizen and business satisfaction: a key criterion for evaluating officials in the current two-tier local government system
TS. Nguyễn Thế Vinh
Trường Đại học Thủ Dầu Một
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ cơ sở khoa học của việc lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp; thực trạng thực hiện sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ để phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần xây dựng chính quyền phục vụ, nâng cao niềm tin của Nhân dân, doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Từ khóa: Sự hài lòng; người dân, doanh nghiệp; đội ngũ cán bộ; chính quyền địa phương hai cấp.
Abstract: This article clarifies the scientific basis for using citizen and business satisfaction to evaluate the effectiveness of two-tier local governments; it also examines the current status of implementing citizen and business satisfaction initiatives. Based on this, it proposes solutions to enhance the quality of the civil service workforce, thereby better serving citizens and businesses, and contributing to the development of a service-oriented government that strengthens citizen and business trust, promoting socio-economic development.
Keywords: Satisfaction; citizens, businesses; civil service workforce; two-tier local government.
1. Đặt vấn đề
Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “coi hiệu quả phát triển và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo cao nhất của việc thực hiện Nghị quyết. Bảo đảm mỗi chủ trương, chính sách phải trả lời cho được câu hỏi cốt lõi: mang lại lợi ích gì cho đất nước, cho Nhân dân và cho tương lai phát triển lâu dài của dân tộc”1. Để hiện thực hóa quan điểm, tư tưởng của Đảng, yếu tố then chốt, có tính chất quyết định là năng lực tổ chức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức các cấp; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm động lực làm việc, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm. Từ đó, góp phần quan trọng vào việc củng cố, giữ vững và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2. Cơ sở khoa học của việc lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá cán bộ
2.1. Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định: quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân; chính quyền cách mạng của giai cấp vô sản được hình thành, phát triển hướng đến đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho quảng đại nhân dân. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”2. Vì thế, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách để quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân được tốt nhất. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Sống trong lòng quần chúng/Biết tâm trạng quần chúng/Biết tất cả/Hiểu quần chúng/Biết đến quần chúng/Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”3.
Kế thừa, bổ sung và phát triển tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”4. Trên cương vì là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên gần dân, sát dân, tôn trọng dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân; nêu gương trước nhân dân. Người chỉ rõ: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy… dân không cần đến nữa”5… “nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”6.
2.2. Xuất phát từ quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ
Trong suốt tiến trình phát triển cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện về phẩm chất, năng lực, uy tín để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra ở từng giai đoạn, thời điểm lịch sử cụ thể. Đội ngũ cán bộ các cấp đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, thật sự lực lượng tiên phong trong thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn, giúp đỡ, giải quyết có hiệu quả nhiều công việc cho người dân, doanh nghiệp. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương Đảng 14 (khoá XIII), Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vận hành được 4 tháng, kết quả ban đầu là khả quan, tăng tính kiến tạo, tính hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội; quần chúng nhân dân ủng hộ và tin tưởng; người dân và doanh nghiệp bước đầu thấy được cơ hội, quyền lợi và nghĩa vụ công dân đến với mình thực chất hơn”7.
2.3. Vai trò của chính quyền địa phương hai cấp trong phục vụ người dân, doanh nghiệp
Nền hành chính nhà nước hiện đại không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn thực hiện chức năng phục vụ. Điều này thể hiện ở việc cán bộ là người phục vụ Nhân dân, không phải là người ban phát quyền lợi; người dân và doanh nghiệp là đối tượng được phục vụ; hiệu quả phục vụ được đo bằng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Hơn nữa, chính quyền địa phương hai cấp là cấp chính quyền trực tiếp giải quyết các công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp, như: thủ tục hành chính, đất đai, kinh tế – xã hội, dịch vụ công…
Chất lượng phục vụ của cán bộ chính quyền địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là tiêu chí phản ánh trực tiếp chất lượng hoạt động của cán bộ và chính quyền. Đồng thời, góp phần xây dựng chính quyền gần dân, vì dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của Nhân dân; củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Thực trạng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp
Sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đã mở ra không gian và tầm nhìn dài hạn phát triển đất nước… cán bộ cấp xã dần bắt nhịp với khối lượng và cường độ công việc trong giai đoạn mới, chuyển từ mô hình quản trị hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân… củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước8. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước, điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị các cấp, đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương hai cấp đã tích cực, chủ động cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, doanh nghiệp nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.
Người dân và doanh nghiệp ngày càng ghi nhận những nỗ lực của chính quyền trong cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, cũng như trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và cung cấp dịch vụ công. Đà Nẵng và Quảng Ninh là hai địa phương dẫn đầu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX).
Việc triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại chính quyền địa phương hai cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc giải quyết các thủ tục hành chính. Thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn, quy trình được công khai, minh bạch hơn, góp phần nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Chính quyền địa phương ngày càng quan tâm đến việc tiếp nhận và giải quyết phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ và củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương đã thực hiện rà soát, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ. Nhiều địa phương đã công khai đầy đủ các thủ tục hành chính, quy trình giải quyết, thời gian giải quyết và phí, lệ phí, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và thực hiện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai dịch vụ công trực tuyến đã giúp người dân và doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, hạn chế việc đi lại nhiều lần.
Thái độ giao tiếp của cán bộ ngày càng văn minh, lịch sự, thể hiện tinh thần phục vụ Nhân dân. Nhiều địa phương đã chú trọng nâng cao đạo đức công vụ, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Các thông tin về thủ tục hành chính, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước… được công khai, giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin. Chính quyền địa phương đã thiết lập các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức, như: tiếp công dân trực tiếp, đường dây nóng, hòm thư góp ý, cổng thông tin điện tử. Qua đó, nhiều phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp đã được tiếp nhận và giải quyết kịp thời, góp phần nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Bên cạnh kết quả đạt được việc giải quyết khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp của một số chính quyền địa phương hai cấp còn hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, dẫn đến việc giải quyết công việc còn chậm trễ, chưa hiệu quả. Mặc dù đã có nhiều cải cách nhưng trong một số lĩnh vực, thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; thủ tục còn yêu cầu nhiều giấy tờ, thời gian giải quyết còn kéo dài, làm giảm mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp vẫn còn hạn chế ở một số nơi; một số địa phương, việc tiếp nhận và giải quyết phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp còn chậm, chưa kịp thời.
Nguyên nhân của hạn chế, là do: (1) Chất lượng đội ngũ cán bộ ở một số địa phương chưa đồng đều, một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. (2) Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được thực hiện thường xuyên, hiệu quả chưa cao. (3) Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc. (4) Điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin ở một số địa phương còn hạn chế.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương hai cấp.
Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng phục vụ của cán bộ. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc cho đội ngũ cán bộ. Chính quyền địa phương cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Nội dung đào tạo cần tập trung vào: kiến thức chuyên môn, kỹ năng giải quyết công việc, kỹ năng giao tiếp với người dân, doanh nghiệp, kiến thức về cải cách hành chính. Nâng cao đạo đức công vụ và tinh thần, trách nhiệm của cán bộ. Đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Cán bộ cần nhận thức rõ vai trò là người phục vụ Nhân dân, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc, phục vụ Nhân dân với thái độ tận tình, chu đáo. Chính quyền cần tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, xây dựng văn hóa phục vụ trong đội ngũ cán bộ.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, chuyên môn, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính, thực hiện nghiêm trách nhiệm và đạo đức công vụ”9. Cùng với đó, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thực thi công vụ, theo đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp một cách thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào khâu yếu, mặt yếu; những cán bộ có biểu hiện nhũng nhiễu, cản trở, né tránh trách nhiệm cần được xử lý nghiêm, đưa ra khỏi bộ máy chính quyền địa phương.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương tiến hành liên tục, có kế hoạch, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp; đặt ra yêu cầu cao cho cán bộ trong phục vụ, giải quyết nhu cầu, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm mục tiêu, động lực phấn đấu trong công việc, cuộc sống; đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược khóa XIII, khóa XIV của Đảng vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử, cụ thể; tránh máy móc, dập khuân, thụ động, ỉ nại, trông chờ, dựa dẫm vào cấp trên.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách các thủ tục hành chính theo hướng tinh, gọn, hiệu quả.
Thủ tục hành chính là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhưng nếu thủ tục quá phức tạp sẽ gây khó khăn, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và giảm mức độ hài lòng của người dân. Do đó, chính quyền địa phương hai cấp cần thường xuyên rà soát, đánh giá các thủ tục hành chính đang áp dụng để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những thủ tục không còn phù hợp, không cần thiết hoặc gây cản trở cho người dân, doanh nghiệp.
Việc rà soát cần tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và hoạt động của người dân và doanh nghiệp, như: đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh, hộ tịch, chứng thực và các dịch vụ công thiết yếu khác. Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ, giảm bớt các yêu cầu không cần thiết, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính không chỉ giúp giảm chi phí, thời gian cho người dân, doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường niềm tin của người dân đối với chính quyền; cần tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, bảo đảm các thủ tục được thực hiện đúng quy định, công khai, minh bạch và thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Tiếp tục kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận một cửa. Cần bố trí cán bộ, công chức có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ tốt làm việc tại bộ phận một cửa. Cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc tại bộ phận một cửa, bảo đảm thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp khi đến giao dịch. Không gian làm việc cần được bố trí khoa học, hợp lý, tạo môi trường làm việc văn minh, hiện đại.
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông, bảo đảm việc giải quyết thủ tục được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả. Công khai, minh bạch thủ tục hành chính, khi các thủ tục hành chính được công khai đầy đủ, người dân, doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và thực hiện thủ tục một cách thuận lợi. Việc công khai có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức như niêm yết tại trụ sở cơ quan, đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Công khai, minh bạch thủ tục hành chính giúp hạn chế tiêu cực, phòng chống tham nhũng, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng phát triển chính phủ điện tử, chính phủ số, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động của chính quyền địa phương là yêu cầu tất yếu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp nâng cao năng suất làm việc của cán bộ, công chức mà còn giúp tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ.
Chính quyền địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao, đặc biệt là các thủ tục hành chính có nhu cầu lớn như đăng ký hộ tịch, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, chứng thực và các thủ tục liên quan đến đất đai. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến giúp giảm thời gian đi lại, giảm chi phí và tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, dịch vụ công trực tuyến cũng giúp hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa người dân và cán bộ, qua đó giảm nguy cơ phát sinh tiêu cực, góp phần nâng cao tính minh bạch và nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp; cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến, giúp người dân tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ này.
Chính quyền địa phương cần xây dựng các hệ thống quản lý thông tin hiện đại, đồng bộ và kết nối giữa các cơ quan nhà nước. Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan giúp giảm bớt yêu cầu người dân phải cung cấp lại thông tin nhiều lần, qua đó tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giúp cán bộ, công chức dễ dàng tra cứu, xử lý thông tin và giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác.
Việc hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu điện tử không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Nâng cao năng lực ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho cán bộ, công chức. Chính quyền địa phương cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức.
Nội dung đào tạo cần tập trung vào việc sử dụng các phần mềm quản lý, hệ thống dịch vụ công trực tuyến, hệ thống quản lý văn bản điện tử và các hệ thống thông tin khác. Bên cạnh đó, cán bộ, công chức cần được trang bị kiến thức về chuyển đổi số, nâng cao nhận thức về vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước. Việc nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức giúp nâng cao hiệu quả công việc, giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Chính quyền địa phương cần đầu tư nâng cấp hệ thống máy tính, mạng internet, phần mềm quản lý và các thiết bị công nghệ thông tin khác nhằm bảo đảm hoạt động ổn định, hiệu quả. Bên cạnh đó, cần bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, tránh tình trạng mất dữ liệu hoặc lộ thông tin, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp.
5. Kết luận
Sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo khách quan, toàn diện phản ánh chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp và hiệu quả phục vụ của đội ngũ cán bộ. Việc nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp không chỉ là yêu cầu về mặt quản lý mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch và hiệu quả. Thực hiện tốt các giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp. Đây không chỉ là điều kiện để củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền mà còn là động lực, mục tiêu quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội một cách ổn định, bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
Chú thích:
1. Toàn văn Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
2. V.I.Lênin toàn tập (1979). Tập 39. H. NXB Tiến Bộ Mátxơcơva, tr. 251.
3. V.I.Lênin toàn tập (1979). Tập 44. H. NXB Tiến Bộ Mátxơcơva, tr. 608.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 453.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 269.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 75.
7. Toàn văn Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương Đảng 14 khoá XIII của Tổng Bí thư Tô Lâm. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 10, 43.


