Một số vấn đề về an ninh môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay

Some issues regarding environmental security in the Mekong delta region at the present time

Đào Thị Lệ Hằng
Trường Đại học An ninh nhân dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Đồng bằng sông Cửu Long là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có vị trí địa chính trị và địa quốc phòng, an ninh hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do áp lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, khai thác tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu và những yếu tố khách quan khác, đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với nhiều tác động môi trường nghiêm trọng cần giải quyết. Bài viết làm rõ mối quan hệ giữa an ninh môi trường với vấn đề phát triển bền vững, đánh giá thực trạng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm an ninh môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: An ninh môi trường; đồng bằng sông Cửu Long; mối quan hệ giữa an ninh môi trường; phát triển bền vững.

Abstract: The Mekong Delta is one of the country’s four key economic regions, holding a position of great geopolitical, national defence and security importance. However, in recent years, due to the pressures of socio-economic development, natural resource exploitation, climate change and other external factors, the Mekong Delta is facing numerous serious environmental impacts that require resolution. This article clarifies the relationship between environmental security and sustainable development, assesses the current situation, and proposes a number of solutions to ensure environmental security in the Mekong Delta at the present stage.

Keywords: Environmental security; Mekong Delta; relationship between environmental security; sustainable development.

1. An ninh môi trường và quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh môi trường

Theo Báo cáo năm 1987 của Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED): “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai”. Phát triển bền vững được thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó phát triển bền vững về môi trường được xác định là việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các nguồn lực phát sinh. Với quan niệm này, có thể thấy giữa phát triển bền vững và bảo đảm an ninh môi trường có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 của Việt Nam khẳng định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Các yếu tố của môi trường đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người cũng như tất cả các sinh vật khác trên trái đất. Không chỉ cung cấp không gian sống lý tưởng, môi trường còn mang đến cho con người những tài nguyên để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin từng viết: “Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người,… con người là một bộ phận của tự nhiên”1 và “Công nhân không thể tạo ra cái gì khác nếu không có giới tự nhiên nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong đó lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm”2.

Mặc dù là “thân thể vô cơ của con người”, tuy nhiên, trong quá trình khai thác tự nhiên, con người đã tác động làm biến đổi tự nhiên, tạo ra những nguy cơ đối với an ninh môi trường. Tình trạng này diễn ra trên quy mô toàn cầu, quốc gia và khu vực đồng bằng sông Cửu Long không là một ngoại lệ. Những tổn thất về con người, vật chất do an ninh môi trường không đảm bảo gây ra có khả năng vượt quá những tổn thất do các biến động xã hội, chiến tranh.

Những biểu hiện của môi trường bị mất an ninh có thể kể đến, như: cạn kiệt tài nguyên, thiên tai thường xuyên, thời tiết cực đoan, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, biến đổi các chu trình sinh – địa, suy giảm đa dạng sinh học… từ đó gây suy yếu nền kinh tế,làm xuất hiện các căn bệnh lạ, bệnh nguy hiểm, đe dọa sinh kế của người dân, gia tăng đói nghèo nảy sinh các vấn đề về trật tự an ninh xã hội, gia tăng bất ổn chính trị, trở thành ngòi nổ cho các bất ổn xã hội, các cuộc xung đột, chiến tranh. Những luận giải trên cho thấy, sự cần thiết, tầm quan trọng của an ninh con người trong giai đoạn hiện nay.

An ninh môi trường được hiểu là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia. Đây là trạng thái hệ thống các yếu tố cấu thành môi trường cân bằng để bảo đảm điều kiện sống và phát triển của con người cũng như các loài sinh vật trong hệ thống đó. Với quan niệm nêu trên, an ninh môi trường là thành tố quan trọng của an ninh quốc gia, một phạm trù thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống và có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề phát triển bền vững của nhân loại, quốc gia và khu vực, không chỉ trên khía cạnh phát triển bền vững về môi trường tự nhiên mà bao gồm cả tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội. Nếu an ninh về môi trường không được đảm bảo thì an ninh về chính trị, an ninh về kinh tế, an ninh về văn hóa, an ninh về xã hội ít nhiều đều bị ảnh hưởng tiêu cực.

Ở Việt Nam, vấn đề bảo đảm an ninh môi trường gắn liền với phát triển bền vững đã sớm được Đảng, Nhà nước quan tâm và thể chế hóa trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, đồng thời xem đây là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh định hướng: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường”3 và tiếp tục khẳng định quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền lợi chính đáng của người dân, đó là “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái”4.

Những quan điểm về bảo vệ môi trường và an ninh môi trường gắn với phát triển bền vững đã được Nhà nước ta thể chế hóa thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, cụ thể là: Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); thực hiện phát triển bền vững (Điều 50); bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (Điều 63); Luật Thủy sản; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Đa dạng sinh học; Luật Tài nguyên nước; Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Biển Việt Nam; Luật Bảo vệ môi trường và Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược quốc gia Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu;…

Trên bình diện quốc tế, đến nay, Việt Nam đã ký kết tham gia hơn 40 công ước quốc tế về môi trường; đã cùng 148 quốc gia khác trên thế giới phê chuẩn việc thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Việt Nam tích cực tham gia các cam kết tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) đã được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao, thể hiện Việt Nam là một quốc gia thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Tại COP28, các cam kết quốc tế mới về tài chính khí hậu là cơ hội để Việt Nam dễ dàng tiếp cận các quỹ khí hậu, qua đó thực hiện mạnh mẽ các sáng kiến ứng phó với biến đổi khí hậu.

2. Thực trạng an ninh môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có dân số khoảng gần 18 triệu người. Vùng có vị trí địa lý tiếp giáp với Campuchia và tỉnh Tây Ninh về phía Bắc, TP. Hồ Chí Minh về phía Đông Bắc; Biển Tây (vịnh Thái Lan) về phía Tây và Biển Đông về phía Nam và Đông Nam, có vị trí chiến lược ở Đông Nam Á.

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 44.963,5 km2; khoảng 245.000 ha diện tích mặt nước sông kênh ao đầm (chiếm 6,1% tổng diện tích), chiếm 1% diện tích tự nhiên cả nước, chiếm khoảng 5,1% tổng diện tích lưu vực sông Mêkông. Vùng nằm liền kề tuyến hàng hải Đông – Tây, có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, kết nối với Nam Á và Đông Á, cũng như với nước Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương, với chiều dài hơn 700km bờ biển, chiếm 23% bờ biển cả nước, khoảng 360.000km2 vùng biển và thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế; có các quần đảo Thổ Chu, Nam Du và đảo Phú Quốc là những chuỗi đảo hết sức quan trọng kiểm soát tuyến đường biển Thái Bình Dương qua Biển Đông nối với Ấn Độ Dương.

Đây là vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển; là một trong những đồng bằng lớn nhất, phì nhiêu nhất ở Đông Nam Á và thế giới; là vựa lúa, trung tâm sản xuất thủy sản, trái cây lớn nhất cả nước, đóng góp 32% GDP toàn ngành nông nghiệp và hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% lượng trái cây, 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đóng vai trò quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu; là khu vực có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và nhiều vườn cây, rừng cây rộng lớn, với 4 khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiện.

Đồng thời, đây cũng là vùng có nhiều tiềm năng về dầu khí và năng lượng tái tạo như: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều… Tuy nhiên, đi cùng với các tiềm năng và phát triển đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với các tác động môi trường cần giải quyết. Đó là sự tăng nhanh về dân số gây nên áp lực về khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường đất, môi trường nước và các hệ sịnh thái bị biến đổi gây ô nhiễm môi trường; tình trạng sạt lở nghiêm trọng do tác động của dòng hải lưu tác động vào bờ gây sạt lở bờ biển làm suy giảm rừng ngập mặn ven biển, gia tăng xâm nhập mặn vào sâu, ngập lụt, khai thác nước quá mức… Các vấn đề này đã tác động mạnh mẽ đến việc phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.

Theo nghiên cứu và dự báo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc (IPPC) và Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam xếp hạng 23/30 quốc gia chịu tác động mạnh từ biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long được cảnh báo là 1 trong 3 vùng đồng bằng bị ngập lụt, mất đất lớn nhất trên thế giới. Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển dâng từ 0,5-1m, kéo theo khoảng 39% diện tích, 35% dân số đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng.

Toàn bộ 6 tỉnh, thành phố tại đồng bằng sông Cửu Long đều có nguy cơ ngập, trong đó một số phường, xã có nguy cơ ngập cao, như: Rạch Giá, Hà Tiên, Sóc Trăng, Vị Thanh, thành phố Cần Thơ… Nguy cơ ngập cao là do:

Thứ nhất, sự thay đổi dòng chảy lũ thượng lưu, gây khô hạn, xâm nhập mặn và ngập vùng ven biển do nước biển dâng. Nguyên nhân của tình trạng này là do biến đổi khí hậu trái đất nóng lên; việc xây dựng và vận hành đập thủy điện ở thượng lưu sông Mêkông của các nước, như: Trung Quốc, Thái Lan, Lào làm cho lưu lượng nước về  hạ  lưu  giảm, tạo  điều  kiện  cho nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa làm hơn một nửa diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn, giảm đáng kể lượng phù sa và cát do bị các hồ chứa giữ lại; tệ nạn phá rừng, đô thị hóa và sử dụng nước gia tăng ở khu vực hạ lưu đã làm thay đổi đặc trưng dòng chảy, giảm tổng lượng nước mùa mưa lũ, đe dọa nguồn nước sử dụng đa mục tiêu của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, tác động của triều cường theo chu kỳ của biến đổi khí hậu làm nước biển dâng, dẫn đến xâm nhập mặn tăng cao.

Ngoài ra, do địa hình thấp, bằng phẳng và ảnh hưởng triều cao vào các tháng trong mùa khô với lưu lượng các sông thấp xâm nhập mặn vào sâu trong cửa sông và vào các kênh rạch nội địa… từ đó khiến cho dòng chảy sụt giảm, làm xâm nhập mặn vào sâu thêm trên các sông Tiền và sông Hậu; giảm tổng lượng phù sa bùn cát; chất dinh dưỡng; sản lượng đánh bắt thuỷ sản và tác động xấu tới đa dạng sinh học. Xâm nhập mặn càng tăng cao và vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng lớn đến đời sống, canh tác nông nghiệp…

Thứ hai, tình trạng xói lở, sụt lún bờ sông và bờ biển. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do sự thay đổi mạnh mẽ về lưu lượng dòng chảy và giảm hàm lượng trầm tích trong sông; Sự cạn kiệt trầm tích dẫn đến đói trầm tích ở khu vực hạ lưu, gây xói mòn do đặc tính động của dòng chảy và việc xây dựng ngày càng nhiều đê kè, các hồ thủy điện thượng nguồn khiến tải lượng trầm tích của sông đã giảm đáng kể ở khu vực hạ lưu. Dự báo, lượng trầm tích đồng bằng sông Cửu Long có thể giảm 56 – 64% so với trung bình tự nhiên; số điểm xói lở gia tăng dọc theo chiều dài một số con sông trong khu vực, trong đó có 55 điểm đặc biệt nguy hiểm và 140 điểm ở mức nguy hiểm, gây thiệt hại lớn về con người và tài sản.

Thứ ba, hệ sinh thái trên cạn và dưới nước khai thác quá mức, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân là do dân số tăng nhanh và việc phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong những thập kỷ qua đã làm giảm đáng kể giá trị tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều vùng đất ngập nước như rừng ngập mặn, ao, hồ, đầm phá và vùng đồng cỏ ẩm ướt đang biến mất để nhường chỗ cho hệ thống tưới tiêu, trồng rừng, ruộng muối, phát triển công nghiệp và nuôi tôm.

Ngoài ra, việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên là một mối đe dọa lớn đối với hệ sinh thái. Việc cải tạo đất và nước, thâm canh nông nghiệp, cùng với tác động sinh thái tiêu cực do chiến tranh để lại đã làm giảm đáng kể diện tích rừng tự nhiên, đất ngập nước và các môi trường sống tự nhiên khác của đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích rừng ngập mặn đang bị thu hẹp lại, gia tăng diện tích nuôi tôm, nhất là khai thác nước ngầm bị mặn để nuôi trồng thủy sản… đang làm phức tạp thêm tình hình nhiễm mặn, nhất là các khu vực ven biển.

Thứ tư, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, thoái hóa- ô nhiễm môi trường đất và quản lý chất thải. Chất lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu có dấu hiệu biến đổi xấu đi do phát triển thuỷ sản và các nguồn thải sinh hoạt, sản xuất công nghiệp… Nguồn tài nguyên nước ngầm khai thác và sử dụng chưa được kiểm soát, nguồn nước ngầm nhiều nơi bị sụt giảm, hiện tượng nước ngầm bị nhiễm phèn nhiễm mặn trong khai thác vẫn còn phổ biến…

Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long còn khoảng 20-30% số hộ gia đình chưa có nước sạch để sử dụng trong đời sống và sinh hoạt, nhiều nơi nhân dân thiếu nước nghiêm trọng. Các số liệu gần đây cho thấy lượng nước thải sinh hoạt trong toàn vùng ước tính gần 1,447 triệu m3/ngày và đây là nguồn thải với tỷ lệ được xử lý còn thấp đã phát sinh ô nhiễm môi trường cho các nguồn tiếp nhận.

Hiện tại, vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ có một số nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung quy mô lớn và một số trạm xử lý quy mô nhỏ. Còn đối với nước thải từ sinh hoạt và các hoạt động sinh kế (nuôi thủy sản, chăn nuôi gia súc, nghề thủ công…) của người dân khu vực nông thôn vẫn chưa được thu gom và xử lý tốt mà được xả thẳng ra môi trường. Nước thải sản xuất công nghiệp của vùng trong giai đoạn hiện nay ước tính khoảng 239.720 m3/ngày. Sự phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản mạnh mẽ lại kéo theo các tác động môi trường diễn ra ở quy mô ngày càng lớn và hết sức đa dạng, đang trở thành vấn đề bức xúc, cần được tập trung giải quyết.

Chất lượng đất trồng suy giảm, ở khu vực thượng nguồn (Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên), hệ thống đê bao và các tuyến kênh thoát lũ ra biển Tây đã ngăn không cho nước lũ vào sâu trong nội đồng và khiến đất đai ngày càng suy kiệt. Tất cả những điều này làm giảm chất lượng đất canh tác và kết quả cho thấy, khoảng 30% số hộ nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long có đất trồng trọt bị thoái hóa.

Bên cạnh đó, chất lượng không khí của một số tỉnh/thành vùng đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu chạm và vượt ngưỡng cho phép. Đặc biệt, ô nhiễm không khí từ các nhà máy nhiệt điện. Trong Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, Việt Nam được dự báo là một trong năm quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đối khí hậu, nước biển dâng, kịch bản xấu nhất là phần lớn diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ thấp hơn mực nước biển.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, chính quyền các cấp và người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của môi trường tự nhiên đối với đời sống của con người cũng như nhận ra những hậu quả nghiêm trọng trước mắt và cả lâu dài khi chất lượng môi trường tự nhiên bị suy giảm. Từ đó tạo ra sự chủ động thích ứng, cùng đồng lòng, nhất trí, chung tay hành động giữa chính quyền và Nhân dân trong việc thực hiện các khuyến nghị, các chương trình hành động của Liên Hợp quốc, các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường.

Ý thức bảo vệ an ninh môi trường phải trở thành ý thức tự giác của mỗi thành viên trong xã hội, trở thành nếp sống văn hóa của mỗi người. Khi đầu tư phát triển kinh tế chúng ta phải gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, giải quyết hài hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường, không nên quá chú trọng phát triển kinh tế vì điều đó sẽ làm suy thoái môi trường nghiêm trọng.

Chính quyền các cấp cần đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học phổ thông, đại học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cần tạo dư luận xã hội lên án các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã. Nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, doanh nghiệp và mọi người dân.

Thực hiện đánh giá, phân hạng về môi trường đối với các ngành, địa phương. Giữ nghiêm kỷ cương và phép nước về môi trường. Việc xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường phải được thực hiện thường xuyên ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, ở các mức độ vi phạm khác nhau, các chủ thể khác nhau, ở đâu có hành vi vi phạm thì ở đó cần phải có những biện pháp xử phạt đúng mức.

 Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phải quyết tâm thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 78/NQ-CP ngày 18/6/2022 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW; Quyết định số 278/QĐ-TTg ngày 28/2/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050…

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Hình thành các dự án, nhiệm vụ khoa học và công nghệ lớn mang tính liên ngành, liên vùng để nghiên cứu, giải quyết những vấn trọng tâm, bức thiết, có tính hệ thống của khu vực. Xây dựng, lắp đặt hệ thống đo đạc, giám sát tự động các thông số về môi trường, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn,… để kịp thời thông tin, chủ động phục vụ công tác dự báo và triển khai các biện pháp ứng phó phù hợp với từng giai đoạn, nhất là ứng phó với tác động của thời tiết cực đoan.

Tập trung nghiên cứu đề xuất giải pháp khoa học và công nghệ bảo đảm nguồn nước lâu dài, cấp nước ngọt chủ động cho các vùng khan hiếm nước ven biển như xây dựng các hồ trữ nước ngọt, khai thác nước ngầm, khử nước mặn sử dụng năng lượng tái tạo… Ứng dụng các kết quả thành công của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về các giải pháp chống sạt lở bờ biển, bờ sông…

Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Hệ thống chính trị và người dân đồng bằng sông Cửu Long cần tham gia tích cực vào các tổ chức, mạng lưới quốc tế nhằm hợp tác, chia sẻ, học hỏi những sáng kiến, giải pháp bảo vệ môi trường, quy hoạch, xây dựng hạ tầng đô thị, kênh mương thủy lợi ở vùng đất ngập nước, ứng phó với biến đổi khí hậu như thỏa thuận các thị trưởng toàn cầu về khí hậu và năng lượng, mạng lưới các thành phố BreatheLife, mạng lưới 100 thành phố trên toàn cầu có khả năng chống chịu…

Tài nguyên cốt lõi của đồng bằng sông Cửu Long là tài nguyên nước, vì vậy phải đẩy mạnh công tác phối hợp với các quốc gia thượng lưu và các tổ chức quốc tế trong xem xét đánh giá tác động môi trường đối với các dự án làm thay đổi dòng chảy sông Mêkông. Kiên trì đấu tranh các hành vi gây suy giảm nguồn nước. Yêu cầu các quốc gia thượng lưu không xây dựng các dự án thủy điện, hồ chứa trên dòng chính Mêkông. Nếu không kiểm soát được các hoạt động ở thượng nguồn thì đồng bằng sông Cửu Long không thể chủ động quản lý tài nguyên nước và ứng phó các diễn biến phức tạp.

Thứ tư, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của chính quyền các cấp cần bảo đảm sinh kế, thu nhập cho người dân trước tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường. Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng trọng điểm nông nghiệp của quốc gia, bao gồm thủy sản, cây ăn quả, lúa gạo. Mặc dù lúa gạo không còn độc tôn như trước đây nhưng vẫn luôn giữ vai trò chiến lược trong việc bảo đảm an ninh lương thực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng nông nghiệp và là sinh kế của hàng triệu nông dân. Nhưng “biến đổi khí hậu, biến động thị trường, biến chuyển xu hướng tiêu dùng”, cùng định hướng phát triển nông nghiệp “hàng hóa, sinh thái, bền vững” làm cho người dân có những khó khăn, trăn trở với nghề trồng lúa, thường xuyên đối diện với tình trạng “nông nghiệp đã nghèo, trồng lúa lại còn nghèo hơn” dẫn đến xu hướng “ly nông”, “ly hương” tạo ra những bất ổn lâu dài về kinh tế, xã hội cho khu vực và cả nước.

Nhận diện thực trạng đáng lo ngại này, các địa phương trong vùng cần mạnh dạn thí điểm điều chỉnh, đổi mới, nhân rộng các mô hình canh tác. “Lúa thơm – tôm sạch”“chuyển đổi từ độc canh cây lúa sang đa canh, xen canh”, “nuôi tôm dưới tán rừng” hay “kết hợp dịch vụ du lịch, ẩm thực trên cánh đồng lúa”. Những thử nghiệm này đã và sẽ giúp bà con nông dân “sống khỏe” hơn, thu nhập tốt hơn.

Nhờ các mô hình như “con tôm ôm cây lúa” theo cách gọi dân dã, cây lúa không còn đứng riêng rẽ một mình, không phải “gồng mình” tăng vụ. Đất trồng có thêm thời gian để “thở”, để ngơi nghỉ, để đắp bồi phù sa. Chất lượng hạt gạo dần được cải thiện, sinh kế mở rộng nhờ vào nguồn lợi từ con tôm, con cá, cây trồng đa canh, xen canh, dù diện tích canh tác không hề tăng lên. Những mô hình khởi nghiệp nông nghiệp, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ hướng đến “nông nghiệp xanh, sinh thái, bền vững” phải là một hướng đi chủ đạo trong sự phát triển ngành nông nghiệp thế mạnh của đồng bằng sông Cửu Long.

4. Kết luận

Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển bền vững hiện nay đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng rất cần phải tập trung cao cho bảo vệ an ninh môi trường. Tuy nhiên, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong quá trình khai thác tự nhiên, an ninh môi trường ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã bị ảnh hưởng, đã xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn, xói mòn bờ sông, hệ sinh thái dưới nước bị khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường. Giải quyết tốt về an ninh môi trường có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề phát triển bền vững tại khu vực, bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế – văn hóa – xã hội, góp phần vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Chú thích:
1, 2.C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (2002). Tập 42. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 135, 130.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 114, 117.
Tài liệu kham khảo:
1. Bộ Chính trị (2004). Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (2002). Tập 42. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia.
4. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020.