Vai trò của tỉnh Đồng Nai trong phát triển vùng động lực phía Nam – tiếp cận từ lý thuyết cực tăng trưởng và liên kết vùng

The Role of Dong Nai Province in the Development of the Southern Key Economic Region: An Approach from Growth Pole Theory and Regional Linkages

ThS. Trịnh Phạm Phương Thanh
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai

(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng động lực phía Nam giữ vai trò then chốt trong tăng trưởng và hội nhập kinh tế của Việt Nam, là trung tâm công nghiệp hóa, đô thị hóa và kết nối với thị trường quốc tế. Trong cấu trúc phát triển đó, tỉnh Đồng Nai có vị trí chiến lược với tư cách là một cực công nghiệp, trung tâm logistics và cửa ngõ liên kết giữa TP. Hồ Chí Minh với các không gian kinh tế liên vùng và mạng lưới kinh tế toàn cầu. Trên cơ sở vận dụng khung lý thuyết về cực tăng trưởng và liên kết vùng, kết hợp phân tích số liệu kinh tế – xã hội năm 2025 và các định hướng quy hoạch phát triển, bài viết làm rõ vai trò của tỉnh Đồng Nai trong phát triển kinh tế vùng động lực phía Nam. Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tăng cường liên kết vùng và nâng cao hiệu quả lan tỏa phát triển trong toàn bộ không gian kinh tế phía Nam.

Từ khóa: Vùng động lực phía Nam; tỉnh Đồng Nai; liên kết vùng; cực tăng trưởng trung gian; phát triển bền vững.

Abstract: The Southern Key Economic Region plays a pivotal role in Vietnam’s economic growth and international integration, serving as a hub for industrialization, urbanization, and connectivity with global markets. Within this development structure, Dong Nai Province holds a strategic position as an industrial growth pole, a logistics center, and a gateway linking Ho Chi Minh City with interregional economic spaces and global economic networks. Based on the application of the theoretical framework of growth pole theory and regional linkages, combined with an analysis of socio-economic data for 2025 and development planning orientations, this article clarifies the role of Dong Nai Province in the economic development of the Southern Key Economic Region. Accordingly, it proposes several policy implications to strengthen regional connectivity and enhance the spillover effects of development across the entire southern economic space.

Keywords: Southern Key Economic Region; Dong Nai Province; regional linkages; intermediate growth pole; sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Trong cấu trúc không gian phát triển mới của vùng động lực phía Nam, tỉnh Đồng Nai nổi lên với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là nút giao chiến lược của các hành lang kinh tế, gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ thống hành lang kinh tế liên vùng. Tỉnh Đồng Nai giữ vai trò một cực tăng trưởng trung gian và trung tâm trung chuyển chiến lược của vùng động lực phía Nam; đồng thời là đầu mối kết nối không gian TP. Hồ Chí Minh mở rộng với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và mạng lưới giao thương quốc tế.

Trong bối cảnh đẩy mạnh liên kết vùng, phát triển hạ tầng chiến lược và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số và bền vững, việc nghiên cứu làm rõ vai trò của tỉnh Đồng Nai trong phát triển kinh tế vùng động lực phía Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết phân tích thực trạng đóng góp của Đồng Nai đối với tăng trưởng, công nghiệp, thương mại, đầu tư và hạ tầng vùng; trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát huy tốt hơn vai trò của tỉnh trong cấu trúc phát triển vùng và trong chiến lược phát triển quốc gia giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích

2.1. Vùng động lực kinh tế và vai trò của địa phương trong phát triển vùng

Trong lý luận phát triển kinh tế vùng, vùng động lực kinh tế được hiểu là không gian lãnh thổ có mức độ tập trung cao về các nguồn lực phát triển chủ chốt, như: vốn, lao động chất lượng cao, hạ tầng kỹ thuật – xã hội và thị trường, có khả năng tạo ra xung lực tăng trưởng mạnh và hiệu ứng lan tỏa đối với các khu vực lân cận. Theo Friedmann (1966)1, sự phát triển vùng không diễn ra đồng đều trong không gian mà hình thành các trung tâm phát triển giữ vai trò dẫn dắt, từ đó, thúc đẩy quá trình phân công lao động và liên kết kinh tế giữa các vùng.

Trong cấu trúc vùng động lực, vai trò của một địa phương không chỉ được xác định bởi quy mô kinh tế hay tốc độ tăng trưởng đơn thuần mà còn bởi chức năng không gian mà địa phương đó đảm nhiệm trong toàn vùng, bao gồm: khả năng kết nối và trung chuyển các dòng hàng hóa, vốn, lao động; mức độ tham gia vào chuỗi giá trị vùng và chuỗi giá trị toàn cầu; năng lực khuếch đại và lan tỏa động lực tăng trưởng sang các không gian kinh tế khác. Do đó, một địa phương có thể giữ vai trò quan trọng trong vùng động lực ngay cả khi không phải là trung tâm tài chính – dịch vụ lớn nhất nếu đảm nhiệm chức năng bản lề trong cấu trúc phát triển vùng.

Vai trò của tỉnh Đồng Nai không chỉ như một đơn vị hành chính – lãnh thổ độc lập mà như một thành tố chức năng trong cấu trúc phát triển của vùng động lực phía Nam, gắn với các hành lang kinh tế, hệ thống hạ tầng chiến lược và mạng lưới sản xuất – logistics liên vùng.

2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và liên kết vùng

Theo lý thuyết phát triển vùng hiện đại, tăng trưởng kinh tế và liên kết vùng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, sự hình thành và phát triển của các vùng động lực với tốc độ tăng trưởng cao tạo điều kiện thu hút đầu tư, thúc đẩy di chuyển lao động, mở rộng thị trường và tái cấu trúc chuỗi giá trị trong phạm vi toàn vùng. Mặt khác, mức độ liên kết vùng về hạ tầng, thể chế và thị trường lại quyết định khả năng duy trì và mở rộng hiệu ứng lan tỏa của tăng trưởng, hạn chế sự phân hóa không gian.

Các nghiên cứu của Perroux (1955)2 và Dobrescu & Dobre (2014)3 cho thấy, nếu thiếu cơ chế liên kết và điều phối phát triển vùng, các cực tăng trưởng có thể dẫn đến hiện tượng “hút nguồn lực”, làm gia tăng chênh lệch phát triển giữa trung tâm và vùng ngoại vi. Ngược lại, khi được đặt trong một khung liên kết vùng hiệu quả, các cực tăng trưởng sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển cân bằng hơn thông qua việc lan tỏa công nghệ, thị trường và cơ hội phát triển.

Trong bối cảnh vùng động lực phía Nam, mối quan hệ này đặc biệt rõ nét khi TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm tài chính – dịch vụ – đổi mới sáng tạo, trong khi các địa phương lân cận, trong đó có tỉnh Đồng Nai đảm nhiệm các chức năng sản xuất công nghiệp, logistics và trung chuyển. Việc tăng cường liên kết vùng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả tăng trưởng của từng địa phương mà còn góp phần tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng đa cực, gắn kết và bền vững hơn.

2.3. Lý thuyết cực tăng trưởng và mô hình trung tâm – ngoại vi trong phân tích vai trò của tỉnh Đồng Nai

Lý thuyết cực tăng trưởng do Perroux (1955)4 cho rằng, phát triển kinh tế không diễn ra đồng đều trong không gian mà tập trung xung quanh các “cực” – nơi hội tụ các ngành hoặc cụm ngành có sức cạnh tranh cao, khả năng đổi mới và tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh. Các cực này thông qua các mối liên kết đầu vào – đầu ra, công nghệ và thị trường sẽ thúc đẩy sự phát triển của các khu vực xung quanh.

Trên cơ sở phát triển lý thuyết cực tăng trưởng, mô hình trung tâm – ngoại vi của Friedmann (1966)5 làm rõ cấu trúc không gian phát triển vùng theo hướng phân tầng chức năng. Trong đó, khu vực trung tâm phát triển (core) giữ vai trò trung tâm về tài chính, tri thức, đổi mới sáng tạo và ra quyết định; các khu vực ngoại vi (periphery) và khu vực trung gian (semi-periphery) đảm nhiệm chức năng sản xuất, cung ứng trung gian, logistics và tiếp nhận – lan tỏa động lực tăng trưởng từ trung tâm.

Vận dụng các lý thuyết này vào phân tích vùng động lực phía Nam, có thể xác định TP. Hồ Chí Minh là cực tăng trưởng trung tâm của vùng. Trong khi đó, tỉnh Đồng Nai không chỉ là khu vực vệ tinh đơn thuần mà nổi lên với vai trò “cực tăng trưởng trung gian” – một không gian bản lề có chức năng tiếp nhận, khuếch đại và lan tỏa xung lực phát triển từ cực trung tâm ra các hành lang kinh tế liên vùng.

Vai trò này được hình thành trên cơ sở sự hội tụ của ba nhân tố then chốt: (1) Nền tảng công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn và có mức độ hội nhập cao; (2) Hệ thống hạ tầng giao thông và logistics liên vùng; (3) Chức năng cửa ngõ quốc tế gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Sự kết hợp này cho phép tỉnh Đồng Nai trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, vốn và chuỗi giá trị, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc không gian kinh tế vùng động lực phía Nam theo hướng đa cực, liên kết chặt chẽ và lan tỏa phát triển.

Khung lý thuyết cực tăng trưởng và mô hình trung tâm – ngoại vi là cơ sở phân tích phù hợp để làm rõ vị thế và vai trò của tỉnh Đồng Nai trong vùng động lực phía Nam; đồng thời là nền tảng lý luận cho việc đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phát huy hiệu quả chức năng “cực tăng trưởng trung gian” của địa phương này trong giai đoạn phát triển mới.

3. Cơ sở pháp lý và định hướng phát triển

3.1. Cơ sở pháp lý

Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 370/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 đã xác định mục tiêu xây dựng vùng này trở thành vùng “văn minh, hiện đại, phát triển năng động; là trung tâm hàng đầu của cả nước và khu vực Đông Nam Á về kinh tế, tài chính, giáo dục, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”; đồng thời, khẳng định vai trò then chốt của vùng trong liên kết và thúc đẩy phát triển các vùng khác. Quy hoạch nhấn mạnh phát triển các động lực tăng trưởng hiện đại, như: công nghiệp công nghệ cao, logistics, hạ tầng giao thông và hạ tầng số gắn với hệ thống đô thị, khu công nghiệp và các đầu mối giao thông chiến lược, phù hợp với cấu trúc phát triển của vùng động lực phía Nam6.

Ở tầm chiến lược quốc gia, Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 của Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác lập lại tổ chức không gian phát triển theo mô hình các vùng động lực, các hành lang kinh tế và các cực tăng trưởng. Đối với khu vực phía Nam, Nghị quyết số 306/NQ-CP định hướng hình thành và phát triển vùng động lực phía Nam sau sáp nhập theo trục các tuyến giao thông huyết mạch và hành lang kinh tế quốc gia, với mục tiêu xây dựng vùng này trở thành khu vực dẫn đầu cả nước về công nghiệp, logistics, thương mại, dịch vụ, tài chính, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết số 306/NQ-CP nhấn mạnh vai trò của các trung tâm công nghiệp – đô thị – logistics và các đầu mối giao thông quốc tế trong việc dẫn dắt tăng trưởng, tăng cường liên kết vùng và tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Đây là cơ sở pháp lý cấp quốc gia quan trọng để xác định vị thế của vùng Đông Nam Bộ và của tỉnh Đồng Nai trong cấu trúc không gian kinh tế quốc gia7.

Ở cấp tỉnh, vai trò không gian kinh tế và chức năng trung chuyển của tỉnh Đồng Nai được cụ thể hóa trong Quyết định số 2336/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch điều chỉnh tập trung vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông và kết nối liên vùng, như: tuyến ĐT.761 kết nối đường Vành đai 4, dự án cầu Mã Đà kết nối với khu vực Tây Nguyên, điều chỉnh quỹ đất giao thông và cập nhật danh mục các dự án hạ tầng ưu tiên đầu tư. Đặc biệt, quy hoạch xác định rõ vai trò của Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các tuyến vành đai, cao tốc và các trục giao thông liên vùng trong việc hình thành các hành lang kinh tế, chuỗi logistics và các cực tăng trưởng mới8.

3.2. Định hướng phát triển vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026 – 2030

Theo định hướng điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021 -2030, tầm nhìn đến năm 2050, vùng Đông Nam Bộ được xác định phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026 – 2030, trở thành vùng phát triển năng động nhất cả nước, là động lực tăng trưởng lớn nhất quốc gia. Vùng được định hướng phát triển thành trung tâm khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có sức cạnh tranh cao trong khu vực, đi đầu trong đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Cơ cấu ngành ưu tiên phát triển, bao gồm: cơ khí chế tạo, hóa dầu – hóa chất, dược phẩm, vật liệu mới, điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng và công nghiệp công nghệ số. Không gian phát triển được tổ chức theo mô hình các khu công nghiệp – dịch vụ – đô thị hiện đại, các khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghệ cao và các khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, hình thành vùng động lực công nghiệp công nghệ số của quốc gia. Đồng thời, vùng Đông Nam Bộ được định hướng trở thành trung tâm dịch vụ cấp khu vực Đông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch và giao lưu quốc tế; phát triển mạnh kinh tế biển, dịch vụ hậu cần cảng biển, công nghiệp dầu khí và du lịch biển, đảo.

TP. Hồ Chí Minh được xác định là hạt nhân trung tâm của vùng, phát triển thành đô thị văn minh, hiện đại, sáng tạo, trung tâm tài chính quốc tế, có vị thế nổi trội trong Đông Nam Á và tiệm cận trình độ các đô thị lớn của châu Á. Không gian phát triển vùng được kết nối thông qua hệ thống các hành lang kinh tế Bắc – Nam, Tây Nguyên – Đông Nam Bộ, trục Quốc lộ 13 và hành lang xuyên Á, hình thành chuỗi công nghiệp – đô thị – logistics Mộc Bài – TP. Hồ Chí Minh – Cái Mép – Thị Vải.

Hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược được ưu tiên đầu tư đồng bộ, bao gồm: các tuyến cao tốc, đường vành đai 3 và vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh; mạng lưới đường sắt đô thị và đường sắt liên vùng; các tuyến đường sắt kết nối cảng biển và cảng hàng không quốc tế; đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác với vai trò cửa ngõ hàng không quốc tế; xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống cảng biển Cái Mép – Thị Vải, Hiệp Phước, Cát Lái và hai sân bay Tân Sơn Nhất – Long Thành.

Những định hướng này tạo khung chiến lược quan trọng để xác lập vai trò của tỉnh Đồng Nai như một cực tăng trưởng trung gian và trung tâm trung chuyển hàng không – công nghiệp – logistics trong cấu trúc phát triển vùng động lực phía Nam, gắn trực tiếp với Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các hành lang kinh tế quốc gia, qua đó, tăng cường hiệu ứng lan tỏa và liên kết phát triển trong toàn vùng.

4. Vai trò của tỉnh Đồng Nai trong phát triển kinh tế vùng động lực phía Nam

Sau khi sáp nhập với tỉnh Bình Phước, tỉnh Đồng Nai có dân số trên 4,4 triệu người, đứng thứ ba cả nước (sau Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), với diện tích rộng hơn 12.730km², xếp thứ 9 cả nước9. Không gian phát triển mở rộng tạo điều kiện để tỉnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng lấy công nghiệp, dịch vụ và logistics làm động lực chủ yếu, gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành; đồng thời, đẩy mạnh sắp xếp, quy hoạch lại các đơn vị hành chính cấp xã, phường phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (GRDP, giá so sánh năm 2010) ước tăng 9,63%, tuy chưa đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra (10%) nhưng vượt 1,13 điểm phần trăm so với chỉ tiêu Chính phủ giao (8,5%) và cao hơn đáng kể so với mức tăng năm 2024 (8,27%). Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 11,52%, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu; khu vực dịch vụ tăng 9,39%; nông, lâm, thủy sản tăng 3,22%10.

Quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng với tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 179.514,3 tỷ đồng, vượt mục tiêu Nghị quyết; GRDP bình quân đầu người đạt 150,86 triệu đồng/người, phản ánh mức sống và năng lực tích lũy của nền kinh tế địa phương ngày càng được nâng cao. Những kết quả này khẳng định vị thế của tỉnh Đồng Nai là một trong những cực tăng trưởng quan trọng của vùng động lực phía Nam11.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 ước tăng 15,02%, trong đó riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,32%, tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế tỉnh và trong chuỗi giá trị sản xuất của toàn vùng. Các ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 7,69%; cấp nước, xử lý rác thải và nước thải tăng 9,23% cho thấy, sự phát triển đồng bộ giữa sản xuất công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật, môi trường12.

Sự phát triển của hệ thống 58 khu công nghiệp đã thành lập, 43 khu đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy 76% cùng với một khu công nghệ cao và khu kinh tế được quy hoạch đã tạo nền tảng để Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp – logistics quan trọng, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ đến không gian TP. Hồ Chí Minh mở rộng và toàn vùng Đông Nam Bộ .

Hoạt động thương mại – dịch vụ tăng trưởng mạnh, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 465.409 tỷ đồng, tăng 18,53%; riêng bán lẻ hàng hóa đạt 334.958 tỷ đồng, tăng 17,11% so với cùng kỳ. Đặc biệt, xuất, nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng, phản ánh vai trò hội nhập sâu của tỉnh Đồng Nai trong chuỗi cung ứng toàn cầu: kim ngạch xuất khẩu đạt 34,04 tỷ USD (tăng 19,35%), nhập khẩu đạt 25,58 tỷ USD (tăng 26,33%), duy trì xuất siêu 8,4 tỷ USD13. Kết quả này không chỉ đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh mà còn củng cố vị thế của tỉnh Đồng Nai như một đầu mối sản xuất, xuất khẩu chủ lực của vùng động lực phía Nam, gắn chặt với hệ thống cảng biển, cảng hàng không và các hành lang kinh tế liên vùng.

Về thu hút đầu tư và vai trò trung tâm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của vùng. Đồng Nai tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những địa phương thu hút vốn đầu tư lớn nhất vùng động lực phía Nam. Năm 2025, tổng vốn đầu tư trong nước đạt khoảng 163.408 tỷ đồng; vốn FDI đạt trên 3 tỷ USD, nâng tổng vốn FDI lũy kế còn hiệu lực lên gần 43 tỷ USD với hơn 2.200 dự án. Các dự án FDI tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, điện – điện tử, cơ khí, logistics và công nghệ cao, gắn với chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu14.

Quy mô và chất lượng dòng vốn đầu tư cho thấy Đồng Nai không chỉ là “địa bàn tiếp nhận vốn” mà đang từng bước trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất khu vực Đông Nam Á, đóng vai trò cầu nối giữa TP. Hồ Chí Minh – trung tâm tài chính, dịch vụ và các tỉnh công nghiệp vệ tinh trong vùng.

Kết cấu hạ tầng chiến lược và chức năng trung chuyển vùng. Sự hình thành và phát triển hệ thống hạ tầng giao thông liên vùng, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các tuyến cao tốc và đường vành đai đang làm nổi bật vai trò trung chuyển của Đồng Nai trong không gian phát triển vùng động lực phía Nam. Với vị trí nằm trên trục kết nối giữa TP. Hồ Chí Minh với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và khu vực cảng biển Cái Mép – Thị Vải, tỉnh Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để phát triển thành trung tâm logistics, trung tâm phân phối hàng hóa quy mô vùng và quốc gia. Việc đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm không chỉ tạo động lực cho tăng trưởng nội tỉnh mà còn góp phần tái cấu trúc không gian kinh tế vùng theo hướng đa cực, giảm tải cho khu vực nội đô TP. Hồ Chí Minh và tăng cường liên kết giữa các cực tăng trưởng.

Đồng Nai giữ vai trò “nút giao chiến lược” của vùng Đông Nam Bộ, vừa là vành đai công nghiệp – logistics của TP. Hồ Chí Minh, vừa là cửa ngõ kết nối vùng Tây Nguyên – Nam Trung Bộ thông qua các hành lang kinh tế Bắc – Nam, Đông – Tây và trục Cảng hàng không quốc tế Long Thành – Cái Mép – Thị Vải.

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, tỉnh Đồng Nai đã bước đầu hình thành nền tảng phát triển dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của tỉnh năm 2025 xếp trong nhóm khá của cả nước; hạ tầng dữ liệu, trung tâm điều hành thông minh và hệ sinh thái khởi nghiệp đang từng bước được xây dựng. Đây là cơ sở quan trọng để Đồng Nai không chỉ giữ vai trò “công xưởng sản xuất” của vùng mà còn từng bước vươn lên thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics thông minh, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của toàn vùng động lực phía Nam.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả nổi bật và ngày càng khẳng định vai trò trong cấu trúc phát triển vùng động lực phía Nam, quá trình phát triển của tỉnh Đồng Nai vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế nhất định khi đặt trong khung lý thuyết cực tăng trưởng và liên kết vùng.

Thứ nhất, vai trò “cực tăng trưởng trung gian” của tỉnh Đồng Nai chưa được phát huy đầy đủ do hạn chế trong cơ chế điều phối và liên kết vùng. Theo lý thuyết cực tăng trưởng, hiệu ứng lan tỏa chỉ được phát huy mạnh khi các cực tăng trưởng được đặt trong một cấu trúc liên kết hiệu quả. Trên thực tế, mối liên kết giữa tỉnh Đồng Nai với TP. Hồ Chí Minh và các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ vẫn chủ yếu mang tính hành chính, thiếu một thiết chế điều phối vùng có thẩm quyền thực chất. Điều này làm suy giảm khả năng khuếch đại và phân phối xung lực tăng trưởng từ tỉnh Đồng Nai tới các không gian kinh tế lân cận, đặc biệt là các hành lang kinh tế Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.

Thứ hai, hiệu ứng lan tỏa công nghệ và giá trị gia tăng từ công nghiệp còn hạn chế. Mặc dù có quy mô công nghiệp lớn và thu hút mạnh dòng vốn FDI, cơ cấu sản xuất của tỉnh Đồng Nai vẫn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo ở khâu trung gian, với mức độ nội địa hóa và liên kết doanh nghiệp trong nước còn thấp. Theo tiếp cận mô hình trung tâm – ngoại vi, khu vực trung gian như tỉnh Đồng Nai cần đóng vai trò truyền dẫn công nghệ, nâng cấp chuỗi giá trị từ trung tâm ra vùng ngoại vi. Tuy nhiên, trong thực tế, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất lao động từ khu vực FDI sang doanh nghiệp trong nước và các địa phương lân cận còn chưa rõ nét, làm hạn chế vai trò dẫn dắt phát triển vùng.

Thứ ba, kết cấu hạ tầng liên vùng và logistics chưa theo kịp yêu cầu của một trung tâm trung chuyển quy mô vùng. Mặc dù Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ thống cao tốc, vành đai đang được đầu tư mạnh, song tiến độ triển khai, kết nối đồng bộ giữa các phương thức vận tải và giữa các địa phương trong vùng còn chậm. Theo lý thuyết liên kết vùng, hạ tầng là điều kiện then chốt để hình thành và duy trì hiệu ứng lan tỏa không gian. Việc thiếu các trung tâm logistics tích hợp, logistics số và vận tải đa phương thức quy mô lớn khiến tỉnh Đồng Nai chưa phát huy hết lợi thế cửa ngõ trung chuyển của vùng động lực phía Nam.

Thứ tư, áp lực gia tăng chênh lệch phát triển và nguy cơ “hút nguồn lực” từ các khu vực lân cận. Theo cảnh báo của lý thuyết cực tăng trưởng, nếu thiếu chính sách điều tiết và liên kết vùng hiệu quả, các cực tăng trưởng có thể tạo ra hiện tượng tập trung quá mức về vốn, lao động và đất đai. Trong bối cảnh Đồng Nai mở rộng quy mô sau sáp nhập, sự phát triển nhanh của công nghiệp và đô thị đã tạo áp lực lớn lên hạ tầng xã hội, môi trường và thị trường lao động; đồng thời, có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa khu vực trung tâm công nghiệp – logistics với các khu vực nông thôn, miền núi và các địa phương lân cận.

Thứ năm, nền tảng đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức chưa tương xứng với vai trò của một cực tăng trưởng trung gian. Mặc dù chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) ở mức khá, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh Đồng Nai vẫn đang trong giai đoạn hình thành, thiếu các trung tâm R&D, cơ sở đào tạo – nghiên cứu chất lượng cao và liên kết chặt chẽ với TP. Hồ Chí Minh – trung tâm tri thức của vùng. Điều này làm hạn chế khả năng chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, cũng như vai trò dẫn dắt về công nghệ và tri thức của tỉnh trong không gian phát triển vùng.

Những tồn tại trên cho thấy, mặc dù giữ vị trí quan trọng trong vùng động lực phía Nam, tỉnh Đồng Nai vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của một “cực tăng trưởng trung gian” theo đúng logic của lý thuyết cực tăng trưởng và liên kết vùng. Đây chính là cơ sở thực tiễn và lý luận để đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế điều phối vùng, nâng cao hiệu quả lan tỏa phát triển và phát huy tốt hơn vai trò của Đồng Nai trong cấu trúc không gian kinh tế vùng động lực phía Nam trong giai đoạn tới.

5. Hàm ý chính sách

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế điều phối và quản trị phát triển vùng theo hướng hình thành một thiết chế điều phối có thẩm quyền thực chất, bảo đảm thống nhất trong quy hoạch không gian, phân bổ nguồn lực, đầu tư hạ tầng và phát triển chuỗi giá trị. Trong bối cảnh hình thành không gian TP. Hồ Chí Minh mở rộng, tỉnh Đồng Nai cần được xác định rõ là một cực tăng trưởng trung gian và một đầu mối trung chuyển chiến lược trong mạng lưới các cực phát triển của vùng, tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định và điều phối các chương trình liên kết vùng; trong đó, Chính phủ giữ vai trò thiết lập khung thể chế điều phối vùng; TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai là hai chủ thể nòng cốt trực tiếp tổ chức thực hiện.

Thứ hai, phát triển chuỗi logistics xanh và hạ tầng thông minh cấp vùng, lấy trục Cảng hàng không quốc tế Long Thành – đô thị, khu công nghiệp Nhơn Trạch – hệ thống cảng biển Cái Mép – Thị Vải làm xương sống. Chuỗi này cần được tổ chức theo mô hình vận tải đa phương thức, logistics số, kho vận thông minh và giảm phát thải carbon, qua đó, hình thành một hành lang trung chuyển quốc tế quy mô lớn. Trong cấu trúc này, tỉnh Đồng Nai giữ vai trò lõi trung chuyển hàng không – công nghiệp – logistics, còn TP. Hồ Chí Minh mở rộng giữ vai trò cửa ngõ cảng biển, tài chính và dịch vụ toàn cầu.

Thứ ba, thực hiện phân vai phát triển không gian kinh tế theo mô hình “song cực – bổ trợ chức năng” giữa TP. Hồ Chí Minh mở rộng và tỉnh Đồng Nai. Theo đó, TP. Hồ Chí Minh mở rộng là trung tâm tài chính, thương mại quốc tế, đổi mới sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao; tỉnh Đồng Nai là trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics hàng không và trung chuyển vùng gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành, hệ thống khu công nghiệp và các hành lang kinh tế Bắc – Nam, Đông – Tây. Sự phân công này phù hợp với cấu trúc khu vực trung tâm – khu vực bán trung tâm – khu vực trung tâm (core-semi-core) trong lý thuyết phát triển vùng, tạo nền tảng cho tăng trưởng lan tỏa và cân bằng không gian phát triển.

Thứ tư, lồng ghép mục tiêu tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số vào toàn bộ chiến lược phát triển vùng và của tỉnh. Tỉnh Đồng Nai cần đi đầu trong phát triển khu công nghiệp sinh thái, hạ tầng giao thông xanh, quản lý đô thị và logistics thông minh, đồng thời nâng cao chất lượng thể chế, minh bạch hóa quy hoạch và cải thiện môi trường đầu tư, qua đó bảo đảm tăng trưởng nhanh gắn với bền vững và bao trùm.

6. Kết luận

Thực tiễn phát triển với quy mô công nghiệp lớn, mạng lưới khu công nghiệp dày đặc, hệ thống kết nối liên vùng và quốc tế ngày càng hoàn thiện cho thấy, tỉnh Đồng Nai không chỉ đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của vùng mà còn giữ vai trò kết nối các hành lang kinh tế, thúc đẩy lan tỏa phát triển và nâng cao mức độ hội nhập của vùng động lực phía Nam vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số và bền vững, việc phát huy hiệu quả các lợi thế về vị trí, hạ tầng và thể chế; đồng thời, tăng cường liên kết vùng và điều phối phát triển theo định hướng của Quy hoạch tổng thể quốc gia sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững của vùng động lực phía Nam và của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1, 5. Friedmann, J. (1966). Regional Development Policy: A Case Study of Venezuela. Cambridge, MA: MIT Press.
2, 4. Perroux, F. (1955). Théorie des pôles de croissance.
3. Dobrescu, E. M., & Dobre, E. M. (2014). Theories Regarding the Role of the Growth Poles in the Economic Integration. Procedia Economics and Finance, 8, 262 – 267. Elsevier. DOI: 10.1016/S2212-5671(14)00089-6
6. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 370/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 phê duyệt Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
7. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2025). Quyết định số 2336/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Đồng Nai mới khởi đầu kỷ nguyên vươn mình từ vị thế lịch sử và tiềm năng vượt trội. https://dongnai.gov.vn/vi/news/chuong-trinh-ke-hoach-phat-trien-ktxh/dong-nai-moi-khoi-dau-ky-nguyen-vuon-minh-tu-vi-the-lich-su-va-tiem-nang-vuot-troi-53954.html
10, 11, 12, 13, 14. Tỉnh ủy Đồng Nai (2025). Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU về nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.