Benefits of Vietnam’s fisheries dector from participation in the EVFTA
ThS. Nguyễn Thị Hạnh
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên
(Quanlynhanuoc.vn) – Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU – Vietnam Free Trade Agreement – EVFTA) là một trong những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có nội dung toàn diện nhất mà Việt Nam đã ký kết với EU. EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/2020, cam kết xóa bỏ gần như toàn bộ thuế quan giữa hai bên theo lộ trình, với mức giảm thuế sâu và nhanh đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu, trong đó thủy sản được xem là ngành được hưởng lợi ích nhiều nhất của Việt Nam. Bài viết phân tích lợi ích từ EVFTA đối với ngành Thủy sản Việt Nam, từ đó, đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần phát triển xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do (EVFTA); thủy sản; xuất khẩu thủy sản; Liên minh châu Âu (EU).
Abstract: The Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EU-Vietnam Free Trade Agreement – EVFTA) is one of the most comprehensive new-generation free trade agreements that Vietnam has signed with the EU. Officially entering into force on August 1, 2020, the EVFTA commits to the near elimination of tariffs between the two parties according to a defined roadmap, featuring deep and rapid tariff reductions for a wide range of export products. Among these, the fisheries sector is considered one of the industries that benefit the most in Vietnam. This article analyzes the benefits of the EVFTA for Vietnam’s fisheries sector and, on that basis, proposes several recommendations to promote the development of Vietnam’s seafood exports in the coming period.
Keywords: EVFTA; fisheries; seafood exports; European Union (EU).
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại ngày càng mở rộng giữa các quốc gia, khu vực, sự xuất hiện ngày càng nhiều các hiệp định thương mại tự do (FTA) là một tất yếu, không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế mà còn mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Sau 5 năm thực thi, EVFTA mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là đối với ngành Thủy sản Việt Nam. Nội dung các cam kết, đặc biệt là quy tắc xuất xứ mang lại nhiều cơ hội lớn đối với phát triển ngành Thủy sản Việt Nam nói chung và đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói riêng. Vì vậy, phân tích lợi ích của ngành Thủy sản Việt Nam và đánh giá những cơ hội, thách thức mà EVFTA mang lại đối với thủy sản Việt Nam là cần thiết.
2. Tiến trình tham gia EVFTA của Việt Nam
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam – EU chính thức được thiết lập ngày 28/11/1990 (EU khi đó là Cộng đồng châu Âu, với 12 quốc gia thành viên ở Tây Âu). Đây là sự kiện quan trọng và có tác động tích cực đến quan hệ đối ngoại cũng như tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. EU đã trở thành đối tác quan trọng đồng hành cùng Việt Nam trong suốt thời kỳ bắt đầu công cuộc hội nhập đầy thử thách. Phạm vi hợp tác của Việt Nam – EU trải rộng ở nhiều lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế, thương mại và đầu tư. Hiệp định Thương mại tự do EVFTA được khởi động đàm phán vào năm 2010, kết thúc đàm phán kỹ thuật vào năm 2015. Ngày 01/12/2015, EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán và đến ngày 01/02/2016, nội dung văn bản Hiệp định được công bố.
Hiệp định EVFTA được tách làm hai Hiệp định là Hiệp định EVFTA và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA). Tháng 8/2018, quá trình rà soát pháp lý đối với EVFTA được hoàn tất. Hiệp định được ký kết ngày 30/6/2019. EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào ngày 12/02/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 08/6/2020.
Ngày 30/3/2020, Hội đồng châu Âu cũng đã thông qua EVFTA. Đối với EVFTA, do đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, Hiệp định này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/20201. Tổng thể nội dung Hiệp định EVFTA gồm 17 chương, 2 nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường); quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm; các rào cản kỹ thuật trong thương mại, thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường); đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh; doanh nghiệp nhà nước và mua sắm của Chính phủ; sở hữu trí tuệ; thương mại và phát triển bền vững; hợp tác và xây dựng năng lực phát triển; các vấn đề pháp lý – thể chế2.
Nội dung các thỏa thuận của EVFTA đã loại bỏ tới hơn 90% thuế hải quan của EU đối với hàng hóa Việt Nam trong vòng 7 năm. Sau giai đoạn này, có tới 99,3% hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ được tự do hóa hoàn toàn tại thị trường rộng lớn này3. Riêng đối với thủy sản Việt Nam, EVFTA đem lại cơ hội cho thủy sản Việt Nam hưởng ưu đãi thuế khi mà 50% số dòng thuế sẽ về 0% vào năm 2020 và khoảng 220 số dòng thuế các sản phẩm thủy sản có thuế suất cơ sở 0 – 22%, số dòng thuế còn lại sẽ được cắt giảm về 0% theo lộ trình 3 – 7 năm, bao gồm các mặt hàng, như: tôm, cá ngừ, mực và bạch tuộc4. Điều này không chỉ giúp các sản phẩm thủy sản Việt Nam có thể cạnh tranh về giá mà còn giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
Trước khi EVFTA đi vào thực thi, Việt Nam đang được hưởng thuế ưu đãi GSP dành cho nhóm các nước đang phát triển (thấp hơn 3,5% so với thuế thông thường). Trong khi thuế nhập khẩu trung bình xét theo tỷ trọng thương mại giữa các nhóm sản phẩm của hàng Việt Nam nhập khẩu vào EU là 7% thì riêng mặt hàng thủy sản là 10,8%5. Vì vậy, khi EVFTA có hiệu lực, hầu hết các mặt hàng thủy sản của Việt Nam sẽ có giá thành cạnh tranh hơn và chiếm được nhiều thị phần hơn.
3. Những lợi ích đối với ngành Thủy sản Việt Nam dưới tác động của EVFTA
Một là, sự thay đổi trong kim ngạch xuất, nhập khẩu thủy sản.
Năm 2020, khó khăn do dịch bệnh Covid-19 đã làm giảm sản lượng thủy sản của Việt Nam, theo đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng giảm xuống 8,41 tỷ USD, giảm 2,21% so với năm 2019. Tuy nhiên, từ năm 2022 đến nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản có sự tăng lên đáng kể. Biểu đồ 1 dưới đây tổng hợp kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025.

Số liệu từ Biểu đồ 1 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam tăng lên đáng kể ngay 2 năm đầu sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Với những ưu đãi từ EVFTA, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có nhiều lợi thế và cơ hội cạnh tranh hơn trong xuất khẩu sang thị trường EU. Năm 2025, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam vượt ngưỡng 11 tỷ USD, đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng 13,1% so với năm 20246. Riêng đối với thị trường EU, năm 2020, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU đạt 958,7 triệu USD, chiếm 14,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2020. Năm 2021, xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU đạt trên 1,077 tỷ USD, tăng 12,3% so với năm 2020; đồng thời, chiếm 12% thị phần xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đứng vị trí thứ ba, xếp sau Hoa Kỳ và Trung Quốc7.
Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2020 – 2025
Đơn vị tính: tỷ USD.
| Năm | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 |
| Kim ngạch | 0,958 | 1,077 | 1,223 | 0,909 | 1,011 | 1,015 |
Số liệu thống kê cho thấy, từ năm 2020 đến nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU khá ổn định với giá trị xuất khẩu cao (Bảng 1). Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU vượt 1 tỷ USD với tăng trưởng 11% về sản lượng và tăng 18% về giá trị8. Theo đánh giá của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Hiệp định EVFTA dự kiến giúp xuất khẩu thủy sản tăng trưởng khoảng 2% giai đoạn 2020 – 2030. Rõ ràng là mặc dù thẻ vàng IUU chưa được gỡ bỏ nhưng EVFTA vẫn mang lại những dấu hiệu tăng trưởng lạc quan đối với kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Hai là, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chủ lực.
Hiệp định EVFTA có hiệu lực đã có những tác động nhất định đến cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam.

Số liệu tổng hợp cho thấy, tôm vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam theo suốt các giai đoạn phát triển xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu cao liên tục qua các năm là tôm, cá tra, cá các loại khác (cá cơm, cá thu, cá nục, cá nước ngọt…). Về tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu, tôm và các sản phẩm từ tôm vẫn là sản phẩm chủ lực áp đảo cả về sản lượng cũng như tỷ trọng trong tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tỷ trọng tôm chiếm trên 38% trong tổng giá trị thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2021 – 2025, kế tiếp là cá tra (chiếm 20%), cá ngừ (19%)…

Ba là, cơ hội mở rộng thị trường.
Trong giai đoạn 2020 – 2024, thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có sự thay đổi nhất định, trong đó Trung Quốc là thị trường truyền thống chiếm tỷ trọng lớn nhất với tổng giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt 1,9 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2023 và chiếm 18,9% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ với tổng giá trị xuất khẩu đạt xấp xỉ 1,82 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam9.
Ngoài Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và ASEAN là những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam năm 2024 và 2025. Giá trị xuất khẩu tới các thị trường này đều có sự gia tăng ổn định. Ngoài ra, sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, giá trị xuất khẩu của các sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường thuộc khối EU, như: Hà Lan, Đức, Italy, Bỉ… đều gia tăng mạnh mẽ. Các thị trường này yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao và thuế suất 0% làm giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh.
Bảng 2. Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang một số thị trường EU năm 2024 – 2025
Đơn vị tính: triệu USD
| TT | Thị trường | Năm 2024 | Năm 2025 | Tăng trưởng (%) | Tỷ trọng (%) |
| 1 | Đức | 188,741 | 202,261 | 7,2 | 19,4 |
| 2 | Hà Lan | 175,155 | 201,002 | 14,8 | 19,3 |
| 3 | Bỉ | 121,475 | 140,265 | 15,5 | 13,4 |
| 4 | Italy | 97,557 | 93,108 | -4,6 | 8,9 |
| 5 | Tây Ban Nha | 58,840 | 73,947 | 25,7 | 7,1 |
| 6 | Pháp | 60,290 | 52,452 | -13,0 | 5,0 |
| 7 | Đan Mạch | 40,110 | 50,674 | 26,3 | 4,9 |
| 8 | Lithuania | 32,527 | 44,390 | 36,5 | 4,3 |
| 9 | Bồ Đào Nha | 32,721 | 42,119 | 28,7 | 4,0 |
| 10 | Ba Lan | 44,112 | 38,056 | -13,7 | 3,6 |
| 11 | Rumania | 24,954 | 32,750 | 31,2 | 3,1 |
| 12 | Thụy Điển | 18,753 | 22,098 | 17,8 | 2,1 |
| 13 | Hy Lạp | 7,445 | 8,333 | 11,9 | 0,8 |
| 14 | Ireland | 6,296 | 7,988 | 26,9 | 0,8 |
| 15 | Sip | 6,347 | 6,857 | 8,0 | 0,7 |
| 16 | Phần Lan | 14,655 | 4,506 | -69,3 | 0,4 |
| 17 | Bulgaria | 2,587 | 4,268 | 65,0 | 0,4 |
| 18 | Slovenia | 3,976 | 4,110 | 3,3 | 0,4 |
| 19 | Hungary | 3,516 | 3,843 | 9,3 | 0,4 |
| 20 | Latvia | 3,980 | 3,323 | -16,5 | 0,3 |
| 21 | Croatia | 5,002 | 3,220 | -35,6 | 0,3 |
| 22 | Sec | 2,300 | 1,840 | -20,0 | 0,2 |
| Tổng | 954,053 | 1.043,094 | 9,3 | 100,0 |
Bảng số liệu cho thấy, khi EVFTA có hiệu lực, nhiều thị trường thuộc EU 27 đã gia tăng giá trị nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam. Năm 2024, thủy sản Việt Nam có mặt tại 22/27 thị trường thành viên thuộc EU với giá trị thủy sản xuất khẩu chiếm xấp xỉ 9,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó, CHLB Đức và Hà Lan là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất của thủy sản chiếm tỷ trọng lần lượt là 19,4% và 19,3% trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU.
4. Một số rủi ro, thách thức
Hiệp định EVFTA một mặt mang lại nhiều cơ hội phát triển thủy sản Việt Nam, tuy nhiên, Hiệp định này khi thực thi cũng gặp nhiều rủi ro, thách thức. Cụ thể:
Thứ nhất, sức ép cạnh tranh. EU là thị trường lớn với lượng tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người hằng năm khá lớn nên thu hút nhiều thị trường xuất khẩu thủy sản trên thế giới vào EU. Theo số liệu được công bố bởi thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU, EU là thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản lớn thứ 3 thế giới, do đó, thủy sản Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt với thủy sản xuất khẩu của nhiều quốc gia khác, như: Ấn Độ, Thái Lan… Trong khi các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy mô ít nên còn sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ thấp, các sản phẩm thủy sản còn chưa đa dạng, chưa đem lại giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, quy tắc xuất xứ, quy định vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe, phức tạp. Quy tắc xuất xứ không chỉ đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu phải được sản xuất tại Việt Nam, còn có những yêu cầu khắt khe khác về nguyên vật liệu nhập khẩu. Trong khi đó, nguyên liệu thủy sản trong nước chỉ cung cấp khoảng 40 – 45% công suất chế biến. Ngoài ra, các tiêu chuẩn khắt khe về truy xuất nguồn gốc EU đặt ra nhiều quy định về điều kiện tổ chức sản xuất, lao động, môi trường… cũng mang lại những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Ngoài ra, mặc dù sản lượng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU ngày càng nhiều nhưng vẫn có các cảnh báo về vi phạm an toàn thực phẩm và thực tế có nhiều sản phẩm bị trả về.
Thứ ba, thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại. Các cam kết về thuế quan từ cả hai phía khiến cho thuế quan không còn là công cụ bảo vệ hữu hiệu để các quốc gia bảo vệ các doanh nghiệp nội địa nên các biện pháp phòng vệ thương mại sẽ được ưu tiên sử dụng nhiều hơn. Các quốc gia thuộc EU cũng có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp chống bán phá giá, các rào cản phi thương mại, như: tiêu chuẩn kỹ thuật hay an toàn vệ sinh thực phẩm… để bảo vệ cho các doanh nghiệp nội địa. Điều này tạo ra một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam khi thâm nhập thị trường này.
Thứ tư, việc tuân thủ quy định IUU. Ngày 23/10/2017, EU đã chính thức rút thẻ vàng với Việt Nam do không hợp tác và không đủ nỗ lực chống khai thác thủy sản IUU. Điều này có nghĩa tất cả những hải sản của Việt Nam xuất sang EU sẽ bị kiểm soát 100%, trong khi trước đó kiểm soát có xác suất. Điều này đã gây ra những thách thức đáng kể đối với thủy sản Việt Nam. Do đó, việc tháo gỡ thẻ vàng hay nghiêm chỉnh tuân thủ quy định IUU vẫn luôn là một thách thức lớn đối với ngành Thủy sản Việt Nam.
5. Kiến nghị chính sách
Một là, hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh xuất xứ sản phẩm và tận dụng ưu đãi thuế. Rào cản, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam là đáp ứng yêu cầu của quy tắc xuất xứ trong Hiệp định EVFTA. Các thủ tục, chứng nhận để chứng minh xuất xứ khá phức tạp nên việc đáp ứng yêu cầu này tương đối khó khăn đối với các doanh nghiệp. Vì vậy, cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đối với các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn này.
Hai là, đầu tư phát triển vùng nguyên liệu bền vững tại Việt Nam. Vốn dĩ nguồn cung nguyên liệu cho phát triển thủy sản xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 40 – 50% nhu cầu. Do đó, để tận dụng những ưu đãi do EVFTA mang lại, việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu bền vững là cần thiết. Ngoài việc bảo đảm nguồn cung ổn định còn giúp cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, nguyên liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu thủy sản được thuận lợi.
Ba là, tăng cường đào tạo, cập nhật tiêu chuẩn EU cho doanh nghiệp xuất khẩu. EU là thị trường khá khó tính với nhiều tiêu chuẩn khắt khe đối với các sản phẩm mà họ nhập khẩu. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, cập nhật tiêu chuẩn EU cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, hướng tới sự thâm nhập sâu, bền vững vào thị trường này.
Bốn là, thu hút đầu tư EU vào nhà máy chế biến hiện đại để tăng giá trị gia tăng. Hiện tại, EVFTA làm thay đổi đáng kể cơ cấu chủng loại thủy sản xuất khẩu và gia tăng giá trị xuất khẩu cho thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, các sản phẩm xuất khẩu phần lớn vẫn dừng lại ở sản phẩm tươi sống hoặc sơ chế nên giá trị gia tăng chưa cao. Mặt khác, EU lại có tiềm lực cao về vốn và công nghệ hiện đại, do đó, cần có chính sách thu hút đầu tư EU vào nhà máy chế biến hiện đại các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường quốc tế.
6. Kết luận
EVFTA đã mang lại nhiều lợi ích đối với ngành Thủy sản Việt Nam. Các lợi ích từ việc ưu đãi thuế quan đến mở rộng thị trường, gia tăng giá trị xuất khẩu cũng như đa dạng các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, EVFTA cũng mang lại một số rủi ro, rào cản nhất định, đòi hỏi các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam cần phải có những điều chỉnh phù hợp về định hướng chính sách cũng như các hoạt động thực tế để bảo đảm các lợi ích bền vững.
Chú thích:
1, 2. Chính phủ (2020). Báo cáo số 192/BC-CP ngày 08/5/2020 thuyết minh về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA).
3. Đàm Thị Phương Thảo, Vũ Thị Bắc (2022). Evaluate the impacts of EVFTA on Vietnam export of electronic goods, computers and their parts to the EU. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “A Journey to the new generation FTAs”. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4, 5. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2021). Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2020.
6, 8, 9. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2026). Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2025.
7. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2022). Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2021.



