Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng phát triển du lịch giai đoạn 2015 – 2025

Some leadership experiences in tourism development for the 2015 – 2025

Quách Văn Hùng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp có vai trò ngày càng quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội. Giai đoạn 2015 – 2025 ghi dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng khi du lịch được định hướng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Việc ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chiến lược và chính sách lớn đã tạo động lực quan trọng cho du lịch Việt Nam phục hồi, tăng trưởng và khẳng định vị thế trong khu vực và trên thế giới.

Từ khóa: Đảng lãnh đạo; phát triển du lịch; phát triển kinh tế – xã hội; tư duy chiến lược; bài học kinh nghiệm.

Abstract: Against the backdrop of accelerating industrialization, modernization, and international integration, tourism has been identified as a comprehensive economic sector playing an increasingly vital role in socio-economic development. The 2015–2025 period marked a significant shift in the Party’s thinking and leadership approach, as tourism was strategically positioned to become a key economic sector. The issuance and implementation of major resolutions, strategies, and policies have provided a significant impetus for Vietnam’s tourism sector to recover, grow, and assert its position in the region and globally.

Keywords: Party leadership; tourism development; socio-economic development; strategic thinking; lessons learned.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, du lịch ngày càng được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp, có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, quảng bá hình ảnh quốc gia và góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử dân tộc. Nhận thức rõ vị trí, vai trò đó, Việt Nam đã từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo phát triển du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế có tiềm năng lớn, cần được ưu tiên đầu tư và phát triển tương xứng.

Từ năm 2015 đến năm 2025 là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng, xác định rõ mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm và bền vững. Ngành Du lịch đã đạt được nhiều kết quả quan trọng; tuy nhiên, trong giai đoạn này, phát triển du lịch cũng đứng trước nhiều khó khăn và thách thức đặt ra yêu cầu cấp bách về tái cơ cấu ngành theo hướng thích ứng, linh hoạt và bền vững hơn.

2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch

Nhận thức rõ vai trò ngày càng quan trọng của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng lần đầu tiên xác định rõ yêu cầu: “Có chính sách phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn”1. Đây là dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng khi chính thức đặt du lịch vào vị trí một trong những ngành kinh tế trọng điểm, có vai trò dẫn dắt và lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực khác.

Trên cơ sở định hướng đó, ngày 16/01/2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác”2. Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hàng đầu trong khu vực. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Đảng đề ra hệ thống nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, bao gồm: đổi mới nhận thức và tư duy về phát triển du lịch; cơ cấu lại ngành du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững; hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi; ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhất là tại các khu, điểm du lịch trọng điểm; đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia…

Nghị quyết số 08-NQ/TW đã tạo ra bước đột phá mang tính chiến lược, trở thành “cú hích” quan trọng, thúc đẩy việc ban hành và triển khai đồng bộ các chính sách, chương trình hành động của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, đưa du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô và chất lượng ngày càng được nâng cao. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu: “tiếp tục ban hành và thực hiện các chính sách phát triển du lịch thực sự thành là ngành kinh tế mũi nhọn”3, nhấn mạnh phát triển du lịch theo hướng bền vững, chuyên nghiệp, hiện đại, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh cao. Điểm mới trong chủ trương của Đảng giai đoạn này là yêu cầu đưa du lịch phát triển đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, coi du lịch không chỉ là ngành dịch vụ đơn thuần mà là một động lực quan trọng của nền kinh tế gắn chặt với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường.

Để cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển du lịch trong giai đoạn 2015 – 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược và chương trình hành động quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và định hướng rõ ràng cho các hoạt động thực tiễn. Nổi bật là “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030”, xác định mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng phát triển bền vững, có giá trị gia tăng cao. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng hình ảnh quốc gia, Chính phủ ban hành “Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, tập trung đổi mới nội dung, phương thức quảng bá, xúc tiến, góp phần khẳng định vị thế du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý và phát triển du lịch được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Theo đó, “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ – thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018 – 2020, định hướng đến năm 2025” đã được triển khai, tạo nền tảng cho quá trình số hóa, đổi mới phương thức quản lý, kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch.

Trong tầm nhìn dài hạn, “Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được xây dựng, hướng tới phát triển đồng bộ hệ thống điểm đến, hạ tầng và dịch vụ du lịch theo hướng hiện đại, bền vững, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, trước những tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách linh hoạt, kịp thời nhằm phục hồi và phát triển ngành du lịch. Tiêu biểu như: “Kế hoạch triển khai chính sách kích cầu, phục hồi hoạt động du lịch, lữ hành” và “Chỉ thị về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững trong thời gian tới”. Đáng chú ý, “Công điện số 34/CĐ-TTg ngày 10/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển du lịch, bảo đảm thực hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số” thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước khi coi du lịch là một trong những động lực mũi nhọn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội nhanh, mạnh và bền vững trong giai đoạn mới.

Cùng với các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành nhiều quyết định, đề án, kế hoạch hành động nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng về phát triển du lịch. Tiêu biểu là Quyết định số 4829/QĐ-BVHTTDL ngày 25/12/2018 phê duyệt “Đề án nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam”, tập trung đa dạng hóa phương thức quảng bá, mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia.

Trên phương diện ứng dụng công nghệ, Quyết định số 3570/QĐ-BVHTTDL ngày 21/12/2022 phê duyệt “Đề án ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0 để phát triển du lịch thông minh”, tạo bước đột phá trong tiến trình chuyển đổi số của ngành du lịch. Tiếp đó, Quyết định số 1726/QĐ-BVHTTDL ngày 04/7/2023 ban hành “Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ về đẩy nhanh phục hồi và phát triển du lịch hiệu quả, bền vững”, góp phần đưa các chủ trương, chính sách vào cuộc sống.

3. Kết quả về phát triển du lịch giai đoạn từ 2015 – 2025

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, đặc biệt là tác động sâu rộng của đại dịch Covid-19, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, ngành Du lịch Việt Nam đã từng bước vượt qua khó khăn, củng cố nội lực, phục hồi và phát triển theo hướng ngày càng bền vững.

Thứ nhất, quy mô thị trường khách du lịch không ngừng mở rộng, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao trong nhiều năm.

Giai đoạn 2016 – 2019, chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Năm 2016, lần đầu tiên Việt Nam đón trên 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26,0% so với năm 2015; đến năm 2019 đạt hơn 18 triệu lượt, gấp gần hai lần so với năm 2015, đưa Việt Nam vào nhóm các điểm đến có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới theo đánh giá của Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc.

Đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020 – 2021 đã khiến hoạt động du lịch quốc tế gần như bị gián đoạn; tuy nhiên, sau khi mở cửa hoàn toàn từ tháng 3/2022, thị trường nhanh chóng phục hồi. Năm 2022, Việt Nam đón 3.661.222 lượt khách quốc tế, tương đương khoảng 20% so với năm 2019 và tăng 104.506,3% so với năm 2021; năm 2023 đạt 12,6 triệu lượt, phục hồi khoảng 70% so với năm 2019 và tăng 244,2% so với năm 2022; đến năm 2024, lượng khách quốc tế đạt 17,6 triệu lượt, tăng 39,5% so với năm 2023, phục hồi 98% so với năm 2019, được đánh giá là mức phục hồi cao nhất trong khu vực Đông Nam Á4.

Cùng với du lịch quốc tế, thị trường du lịch nội địa phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò trụ cột trong giai đoạn ngành chịu tác động nặng nề của đại dịch. Số lượt khách nội địa tăng từ 62 triệu lượt năm 2016 lên 85 triệu lượt năm 2019; đến năm 2022 đạt 101,3 triệu lượt, vượt 68,8% so với mục tiêu đề ra và cao hơn nhiều so với mức trước dịch. Năm 2023, du lịch nội địa đạt 108 triệu lượt, vượt 6% kế hoạch; năm 2024 tiếp tục tăng, đạt khoảng 110 triệu lượt khách5. Sự gia tăng mạnh mẽ của thị trường nội địa đã góp phần quan trọng giúp ngành Du lịch duy trì hoạt động, phục hồi và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Thứ hai, tổng thu từ khách du lịch và đóng góp của du lịch vào GDP tăng trưởng rõ nét.

Năm 2016, tổng thu từ khách du lịch đạt 417 nghìn tỷ đồng; đến năm 2019 tăng lên 755 nghìn tỷ đồng, đóng góp khoảng 9,2% GDP. Sau đại dịch, ngành Du lịch nhanh chóng phục hồi với tổng thu năm 2022 đạt 495 nghìn tỷ đồng, vượt hơn 23% so với kế hoạch và bằng 66% so với năm 2019; năm 2023 đạt 678 nghìn tỷ đồng, vượt 4,3% kế hoạch; năm 2024 tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt 840 nghìn tỷ đồng6. Không chỉ mang lại nguồn thu trực tiếp, sự phát triển của du lịch còn tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực liên quan như vận tải, thương mại, xây dựng, dịch vụ và văn hóa.

Thứ ba, hệ thống cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh về quy mô, từng bước nâng cao chất lượng và năng lực phục vụ.

Đến năm 2016, cả nước có khoảng 21.000 cơ sở lưu trú với 420.000 buồng, tăng lần lượt 10,5% và 13,5% so với năm 20157. Quá trình phục hồi và tăng trưởng sau đại dịch tiếp tục thúc đẩy sự gia tăng về số lượng và chất lượng của hệ thống lưu trú. Năm 2022, cả nước có khoảng 35.000 cơ sở lưu trú với 700.000 buồng, trong đó có 224 cơ sở hạng 5 sao với 74.843 buồng và 345 cơ sở hạng 4 sao với 46.279 buồng8. Năm 2023, số cơ sở lưu trú tăng lên 38.000 với hơn 780.000 buồng; số cơ sở hạng 5 sao đạt 247 với 80.896 buồng, hạng 4 sao đạt 368 với 50.716 buồng9. Đến hết năm 2024, cả nước có 4.170 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 40.720 hướng dẫn viên du lịch; hệ thống lưu trú tiếp tục được mở rộng với 280 cơ sở hạng 5 sao (60.190 buồng) và 356 cơ sở hạng 4 sao (49.466 buồng)10.

Thứ tư, vị thế và hình ảnh du lịch Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Nhiều thành tựu nổi bật đã được các tổ chức, hãng truyền thông và tạp chí du lịch uy tín thế giới ghi nhận. Tổ chức Giải thưởng Du lịch Thế giới (World Travel Awards – WTA) liên tục vinh danh Việt Nam ở nhiều hạng mục quan trọng. Năm 2022, Việt Nam nhận 16 giải thưởng hàng đầu thế giới và 48 giải thưởng hàng đầu châu Á; năm 2023 đạt 19 giải thưởng hàng đầu thế giới và 54 giải thưởng hàng đầu châu Á.

Năm 2024, Việt Nam tiếp tục được trao các danh hiệu “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến di sản hàng đầu châu Á” và “Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á”; đây là lần thứ sáu Việt Nam được công nhận là “Điểm đến hàng đầu châu Á” và bốn lần được vinh danh là “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới”11. Đồng thời, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tiếp tục được trao danh hiệu “Cơ quan quản lý du lịch hàng đầu châu Á”. Những giải thưởng này góp phần khẳng định uy tín, thương hiệu và sức hấp dẫn ngày càng tăng của du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

4. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, kiên định mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

 Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với định hướng phát triển lâu dài của ngành. Việc xác định đúng vị trí, vai trò của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chủ trương, chính sách phù hợp. Quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát triển du lịch như một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và hội nhập quốc tế sâu rộng, đã góp phần định hình mô hình phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững.

Hai là, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng gắn với phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị

Đây là là điều kiện tiên quyết thúc đẩy du lịch phát triển. Trong giai đoạn 2015 – 2025, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ thông qua việc ban hành kịp thời các nghị quyết, chiến lược và chương trình hành động, đồng thời chỉ đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương, giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Sự gắn kết này đã tạo nền tảng quan trọng để huy động nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch.

Ba là, đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo gắn với nâng cao năng lực điều hành và khả năng thích ứng trước những biến động lớn là yêu cầu khách quan của phát triển du lịch.

Trong bối cảnh chịu tác động sâu sắc của đại dịch Covid-19 và những biến động phức tạp của tình hình khu vực, quốc tế, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chủ trương, định hướng phát triển du lịch theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cách tiếp cận này góp phần hạn chế tối đa những tác động tiêu cực, đồng thời tạo điều kiện để ngành du lịch từng bước phục hồi và tái cơ cấu theo hướng bền vững hơn.

Bốn là, phát triển du lịch phải gắn chặt với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường và bảo đảm phát triển bền vững.

Quá trình lãnh đạo phát triển du lịch giai đoạn 2015 – 2025 cho thấy, việc kết hợp hài hòa giữa khai thác tiềm năng du lịch với gìn giữ di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, mà còn tạo nền tảng lâu dài cho việc xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược nhằm nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Năm là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch.

Việc Đảng quan tâm lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ số đã góp phần từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả quản lý và khả năng tiếp cận thị trường. Đây là tiền đề cần thiết để du lịch Việt Nam thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số và xu hướng phát triển du lịch thông minh trong giai đoạn mới.

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch là yêu cầu mang tính xuyên suốt.

Việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển du lịch trong giai đoạn 2015 – 2025 đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đồng bộ cho hoạt động của ngành. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng thông thoáng, minh bạch và có tính cạnh tranh cao hơn, nhất là trong các lĩnh vực thị thực, hàng không, đầu tư và liên kết vùng, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của du lịch Việt Nam.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 228.
2. Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 110.
4. Số liệu tổng hợp khách quốc tế đến Việt Nam các năm 2016, 2019, 2022, 2023, 2024. https://vietnamtourism.gov.vn/statistic/international.
5. Số liệu tổng hợp khách du lịch nội địa các năm 2016, 2019, 2022, 2023, 2024. https://vietnamtourism.gov.vn/statistic/domestic?year.
6. Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2008 – 2024. https://vietnamtourism.gov.vn/statistic/receipts.
7. Tổng cục Du lịch (2017). Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam năm 2016. H. NXB Thông tin và Truyền thông, tr. 23.
8. Thông tin du lịch tháng 12 năm 2022. https://images.vietnamtourism.gov.vn/vn/dmdocuments/2023/ttdl2023.1.12.pdf.
9. Thông tin du lịch tháng 12 năm 2023.
https://images.vietnamtourism.gov.vn/vn/dmdocuments/2024/thong_tin_du_lich_thang_12_2023_%28ok%29.pdf.
10. Thông tin du lịch tháng 12 năm 2024. https://images.vietnamtourism.gov.vn/vn/dmdocuments/2024/thong_tin_du_lich_thang_12_2024.pdf
11. Việt Nam tiếp tục được vinh danh là “Điểm đến hàng đầu châu Á”. https://media.chinhphu.vn/viet-nam-tiep-tuc-duoc-vinh-danh-la-diem-den-hang-dau-chau-a-102240904112323508.htm?utm_source.com
Tài liệu tham khảo:
1. Phan Huy Xu, Võ Văn Thành (2018). Du lịch Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn. H. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Thế Thi (2020). Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015. Luận án Tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Học viện Chính trị.
3. Nguyễn Trùng Khánh (2022). Khôi phục ngành Du lịch trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Tạp chí Cộng sản, số 988, tr. 34-39.
4. Nguyễn Minh Hòa (2023). Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam. Tạp chí Lý luận chính trị, số 539, tr. 31- 35.
5. Võ Hồng Hải (2024). Liên kết vùng trong phát triển du lịch bền vững – Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Cộng sản, số 1034, tr. 93 – 97.