TS. Đinh Văn Viễn
Trường Đại học Hoa Lư
Trần Thị Oanh
Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Đồng Tâm, Lạc Thủy
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích mối quan hệ giữa di sản văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa trong bối cảnh phát triển kinh tế sáng tạo, nghiên cứu qua trường hợp tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở hệ thống hóa các khái niệm và mô hình lý luận về tương tác giữa di sản – công nghiệp văn hóa – du lịch; làm rõ vai trò của di sản văn hóa như một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch bền vững và hình thành các chuỗi giá trị văn hóa – kinh tế. Từ việc khảo sát hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của Ninh Bình, bài viết chỉ ra những thành tựu nổi bật trong quá trình khai thác di sản để phát triển du lịch cũng như những hạn chế, bất cập đề xuất các định hướng nhằm phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa theo hướng bền vững.
Từ khóa: Di sản văn hóa; du lịch; công nghiệp văn hóa; Ninh Bình.
Abstract: This article analyzes the relationship between cultural heritage, tourism, and cultural industries in the context of the development of the creative economy, through the case study of Ninh Binh province. Based on a systematization of concepts and theoretical frameworks concerning the interaction among heritage, cultural industries, and tourism, the study clarifies the role of cultural heritage as an important resource for sustainable tourism development and for the formation of cultural economic value chains. Through an examination of Ninh Binh’s system of tangible and intangible cultural heritage, the article identifies several notable achievements in the process of utilizing heritage resources for tourism development. However, the research also points out certain limitations, including imbalances among tourist destinations, the lack of distinctive cultural tourism products, and the underutilization of many heritage sites with considerable potential. On this basis, the article proposes several orientations to promote the values of cultural heritage in connection with tourism development and cultural industries in a sustainable manner, thereby contributing to positioning Ninh Binh as a cultural and heritage tourism center of Vietnam and the world.
Keywords: Cultural heritage; tourism; cultural industries; Ninh Binh.
1. Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định: “di sản văn hoá là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước, là “sức mạnh mềm” trong đối ngoại, hội nhập quốc tế. Phát huy giá trị di sản văn hoá chính là khai thác sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng và bền vững”1.
Tỉnh Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên di sản độc đáo, đa dạng với khát vọng vươn mình trở thành “đô thị di sản thiên niên kỷ” đã xác định “phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn là cần thiết và có ý nghĩa, tạo bước chuyển từ phát triển đơn ngành sang đa ngành, gắn đổi mới sáng tạo với bảo tồn di sản, từng bước xây dựng Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch – công nghiệp văn hóa của vùng và cả nước”2. Đây không chỉ là một mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần mà còn là quá trình tái định nghĩa giá trị di sản trong đời sống đương đại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy giữa “tiềm năng di sản” và “giá trị kinh tế sáng tạo” vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể.
Vì vậy, việc nghiên cứu mối tương quan giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa là yêu cầu cấp thiết. Bài viết tập trung phân tích thực trạng, nhận diện các “nút thắt” từ đó đề xuất các định hướng chiến lược nhằm tối ưu hóa nguồn lực văn hóa, góp phần định vị thương hiệu du lịch Ninh Bình trên bản đồ di sản toàn cầu.
2. Cơ sở lý luận về di sản văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2024, di sản văn hóa được xác lập là tài sản quý báu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hóa phi vật thể là tri thức, kỹ năng, tập quán, biểu đạt văn hóa cùng đồ vật, đồ tạo tác, không gian liên quan được cộng đồng, nhóm người, cá nhân thực hành, trao truyền qua nhiều thế hệ và hình thành nên bản sắc văn hóa của họ, không ngừng được trao truyền, bảo vệ, tái tạo, sáng tạo, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có một, một số hoặc tất cả giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Năm 2007, UNESCO đưa ra khái niệm: “Công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất ra các sản phẩm vật thể và phi vật thể về nghệ thuật và sáng tạo, có tiềm năng thúc đẩy việc tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa và sản xuất các sản phẩm dịch vụ dựa vào tri thức (kể cả những giá trị văn hóa hiện đại và truyền thống). Điểm chung nhất của các ngành công nghiệp văn hóa là nó sử dụng tính sáng tạo, tri thức văn hóa và bản quyền trí tuệ để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, cũng như nó mang giá trị văn hóa”3.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đưa ra quan điểm: “Các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa”4. Chiến lược xác định 12 lĩnh vực của ngành công nghiệp văn hóa, như: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, quảng cáo, thiết kế, xuất bản, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa.
Như vậy, công nghiệp văn hóa là hệ thống các ngành sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ văn hóa dựa trên sự vận dụng sáng tạo, tri thức và kỹ năng của con người nhằm khai thác các giá trị văn hóa để tạo ra giá trị kinh tế và giá trị xã hội. Công nghiệp văn hóa gắn liền với quá trình thương mại hóa các giá trị văn hóa thông qua công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất hiện đại, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao sức mạnh mềm của quốc gia.
Trong hệ sinh thái này, di sản văn hóa được xem là nguồn “nguyên liệu đầu vào” quan trọng, còn hoạt động sáng tạo đóng vai trò là động lực chuyển hóa các giá trị văn hóa thành các sản phẩm, dịch vụ có khả năng tham gia vào thị trường, từ đó tạo ra những sản phẩm văn hóa – du lịch đặc trưng của mỗi địa phương.
Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế sáng tạo, mối quan hệ giữa di sản văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một hệ thống tương tác mang tính cấu trúc. Các yếu tố này không tồn tại tách rời mà hình thành một chỉnh thể liên kết, trong đó di sản văn hóa cung cấp nền tảng giá trị, công nghiệp văn hóa đảm nhiệm chức năng sáng tạo và gia tăng giá trị, còn du lịch đóng vai trò phân phối, lan tỏa và đưa các sản phẩm văn hóa đến với công chúng. Sự tương tác giữa ba yếu tố này tạo nên một hệ sinh thái phát triển dựa trên văn hóa, góp phần hình thành các chuỗi giá trị kinh tế – văn hóa trong bối cảnh công nghiệp văn hóa.

Trên phương diện lý luận, mối quan hệ này có thể được khái quát thông qua mô hình tam giác tương tác di sản – công nghiệp văn hóa – du lịch. Trong mô hình này, di sản văn hóa được xem là nguồn “vốn văn hóa” tích lũy qua lịch sử, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể, phản ánh bản sắc và ký ức cộng đồng. Đây chính là nguồn chất liệu cơ bản cho các hoạt động sáng tạo văn hóa và phát triển du lịch. Công nghiệp văn hóa giữ vai trò tái cấu trúc và sáng tạo các giá trị di sản, chuyển hóa các yếu tố văn hóa truyền thống thành những sản phẩm và dịch vụ có khả năng tham gia vào thị trường văn hóa – du lịch. Trong khi đó, du lịch là lĩnh vực khai thác và lan tỏa các sản phẩm văn hóa thông qua hoạt động trải nghiệm, tiêu dùng và giao lưu văn hóa của du khách.
Trong mô hình trên, di sản văn hóa là nền tảng cung cấp nội dung và chất liệu văn hóa; công nghiệp văn hóa đóng vai trò sáng tạo và gia tăng giá trị; còn du lịch là kênh đưa các sản phẩm văn hóa đến với thị trường và công chúng. Sự tương tác hai chiều giữa ba yếu tố tạo nên một cấu trúc phát triển mang tính liên ngành, trong đó các giá trị văn hóa truyền thống được tái tạo và lan tỏa trong đời sống xã hội hiện đại.
Bên cạnh cấu trúc tam giác tương tác, mối quan hệ giữa di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa và du lịch còn có thể được lý giải thông qua mô hình chuỗi giá trị văn hóa – du lịch. Theo đó, các giá trị di sản sau khi được khai thác và sáng tạo thông qua các hoạt động của công nghiệp văn hóa sẽ được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch văn hóa, phục vụ nhu cầu trải nghiệm của du khách. Quá trình tiêu dùng các sản phẩm văn hóa – du lịch không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao nhận thức xã hội về giá trị di sản, từ đó tạo nguồn lực quay trở lại cho công tác bảo tồn và phát huy di sản.

Như vậy, mối quan hệ giữa di sản văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa không chỉ là sự kết hợp đơn thuần giữa các lĩnh vực mà còn hình thành một hệ sinh thái phát triển văn hóa – kinh tế mang tính tuần hoàn. Trong hệ sinh thái này, di sản văn hóa vừa là nguồn lực khởi đầu vừa là đối tượng được bảo tồn; công nghiệp văn hóa đóng vai trò sáng tạo và gia tăng giá trị; còn du lịch là cầu nối giữa các giá trị văn hóa với thị trường xã hội. Khi được tổ chức và quản lý hợp lý, sự liên kết giữa ba yếu tố này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, đồng thời, bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản trong bối cảnh phát triển của công nghiệp văn hóa.
3. Hệ thống di sản văn hóa và tiềm năng phát triển du lịch ở Ninh Bình
Ninh Bình nằm ở “cửa ngõ” phía Nam của vùng đồng bằng sông Hồng, giữ vị trí trung chuyển quan trọng giữa các không gian kinh tế – văn hóa của Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Với diện tích tự nhiên khoảng 3.942,6 km² và dân số trên 4,41 triệu người, địa hình của tỉnh được phân hóa thành ba tiểu vùng rõ rệt gồm vùng núi đá vôi, vùng đồng bằng châu thổ và vùng ven biển. Sự đa dạng địa hình cùng hệ sinh thái phong phú đã tạo nên một không gian văn hóa – sinh thái đặc sắc, là nền tảng quan trọng để hình thành hệ thống tài nguyên du lịch phong phú gắn với di sản văn hóa.
Ninh Bình là vùng đất cổ, gắn liền với sự ra đời của quốc gia Đại Cồ Việt và kinh đô Hoa Lư – trung tâm chính trị đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam. Ninh Bình có hơn 5.069 di tích lịch sử – văn hóa các loại, trong đó có 08 di tích quốc gia đặc biệt (gồm: Đền Trần Thương, chùa Đọi Sơn, đền Xám, cụm đền Trần – chùa Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, Cố đô Hoa Lư, quần thể Tràng An – Tam Cốc – Bích Động và danh thắng Núi Non Nước); 265 di tích cấp quốc gia, 784 di tích cấp tỉnh và nhiều bảo vật quốc gia. Nổi bật trong hệ thống này là quần thể danh thắng Tràng An, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đồng thời là di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan karst, hệ thống hang động và các di tích lịch sử – khảo cổ.
Bên cạnh đó, khu vực còn có nhiều công trình kiến trúc – tôn giáo tiêu biểu, như: chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm, quần thể chùa Tam Chúc, đền Trần – chùa Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện… phản ánh chiều sâu lịch sử và sự giao thoa văn hóa của vùng châu thổ. Hệ sinh thái tự nhiên đa dạng với Vườn quốc gia Cúc Phương (22.000 ha), Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long (trên 3.000 ha) cùng dải ven biển Kim Sơn – Giao Thủy – Hải Hậu tạo nên nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái và du lịch cảnh quan.
Không gian văn hóa Ninh Bình cũng nổi bật với hệ thống di sản phi vật thể phong phú, phản ánh đời sống tinh thần đặc sắc của cư dân vùng châu thổ sông Hồng. Đến nay, Ninh Bình có 493 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 33 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, với 720 lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian. Nhiều lễ hội lớn mang tầm ảnh hưởng quốc gia như lễ hội Hoa Lư, lễ hội Tràng An, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Phủ Dầy, lễ hội Đền Trần, lễ hội chùa Keo Hành Thiện, lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn… gắn với hệ thống tín ngưỡng dân gian và tôn giáo đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Bên cạnh đó, khoảng 250 làng nghề truyền thống cùng nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, như: chèo, hát xẩm, ca trù, hát chầu văn, hát trống quân và văn hóa ẩm thực đặc sắc với các món, như: dê núi, cơm cháy Ninh Bình, nem Yên Mạc, phở Nam Định… đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng của vùng. Sự kết hợp giữa hệ thống di sản vật thể và phi vật thể đã hình thành nền tảng quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch tâm linh và du lịch trải nghiệm cộng đồng trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay.
Hệ thống di sản văn hóa của Ninh Bình không chỉ mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa mà còn tạo nên nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng cho phát triển du lịch. Trong bối cảnh kinh tế du lịch ngày càng gắn với công nghiệp văn hóa, di sản trở thành nền tảng để hình thành các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, phản ánh bản sắc văn hóa và giá trị lịch sử của địa phương.
Hệ thống di sản vật thể với các quần thể danh thắng, di tích lịch sử và kiến trúc tôn giáo tạo nên những điểm đến có giá trị thẩm mỹ, lịch sử và cảnh quan nổi bật. Những di sản, như: Tràng An, Hoa Lư, chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm hay quần thể đền Trần – chùa Phổ Minh không chỉ thu hút du khách bởi giá trị lịch sử – văn hóa mà còn góp phần hình thành các tuyến du lịch sinh thái, du lịch lịch sử và du lịch tâm linh đặc sắc. Bên cạnh đó, các di sản phi vật thể như lễ hội truyền thống, tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật trình diễn và làng nghề thủ công tạo nên không gian văn hóa sống động, giúp du khách trải nghiệm trực tiếp đời sống văn hóa của cộng đồng. Chính sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và đời sống văn hóa bản địa đã hình thành nên một hệ sinh thái du lịch đặc thù góp phần nâng cao sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của du lịch Ninh Bình trong khu vực.
4. Thực trạng khai thác di sản trong phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình
Trong những năm gần đây, việc khai thác hệ thống di sản văn hóa và thiên nhiên trong phát triển du lịch tại Ninh Bình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, từng bước khẳng định vai trò của di sản như một nguồn lực cốt lõi của ngành du lịch trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa. Trên nền tảng các di sản tiêu biểu, như: quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư, Chùa Bái Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm, Quần thể Đền Trần – Chùa Phổ Minh và Chùa Tam Chúc, tỉnh đã từng bước hình thành hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng gắn với các giá trị di sản. Các loại hình du lịch nổi bật, bao gồm: du lịch sinh thái – cảnh quan, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch tâm linh – tín ngưỡng, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm du lịch mới cũng được phát triển, như: du lịch trải nghiệm làng nghề, du lịch thể thao – giải trí, du lịch MICE, du lịch nông thôn gắn với nông nghiệp công nghệ cao hay các hoạt động du lịch ban đêm gắn với ẩm thực và biểu diễn văn hóa.
Việc khai thác di sản không chỉ dừng lại ở hoạt động tham quan mà từng bước chuyển sang xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên trải nghiệm văn hóa. Các lễ hội truyền thống như lễ hội Hoa Lư, lễ hội đền Trần hay lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Trần Thương, lễ hội chợ Viềng… được tổ chức quy mô, trở thành sự kiện văn hóa – du lịch quan trọng thu hút đông đảo du khách. Đồng thời, các hoạt động trải nghiệm, như: du lịch cộng đồng tại vùng sinh thái Tràng An – Tam Cốc, tham quan làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm hay các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng kết hợp thể thao tại hệ thống sân golf quốc tế đã góp phần làm phong phú hệ sinh thái sản phẩm du lịch của tỉnh. Toàn tỉnh hiện đã hình thành trên 70 khu, điểm du lịch với nhiều sản phẩm đặc thù gắn với di sản thiên nhiên và văn hóa.
Hiệu quả của quá trình khai thác di sản thể hiện rõ qua sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành du lịch trong giai đoạn 2020 – 2025. Lượng khách du lịch tăng từ 5,7 triệu lượt năm 2020 lên khoảng 8,7 triệu lượt năm 20245 và 19,4 triệu lượt năm 2025. Tổng thu từ du lịch cũng tăng mạnh từ hơn 3.000 tỷ đồng năm 2020 lên khoảng 13.392 tỷ đồng năm 2024 và 21.270 tỷ đồng năm 20256.
Hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch được đầu tư mạnh mẽ. Đến giữa năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 1.500 cơ sở lưu trú với hơn 20.000 phòng, 74 doanh nghiệp lữ hành và gần 40.000 lao động trong lĩnh vực du lịch. Các khu du lịch lớn, như: Tam Cốc – Bích Động, Khu du lịch Tam Chúc hay khu sinh thái thuộc quần thể danh thắng Tràng An đã trở thành những trung tâm thu hút khách du lịch quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng.
Nhiều năm liền, Ninh Bình luôn nằm trong nhóm 15 điểm đến hàng đầu, 10 tỉnh thu hút lượng khách cao nhất cả nước và được nhiều chuyên trang du lịch quốc tế có uy tín đánh giá cao. Năm 2023, Ninh Bình được Tạp chí Forbes bình chọn là một trong 23 địa điểm du lịch tuyệt vời nhất thế giới, Giải thưởng thường niên lần thứ 11 của tạp chí Traveller Review Awards bình chọn Ninh Bình đứng thứ 7 trong tốp 10 điểm đến thân thiện nhất thế giới; năm 2024, Ninh Bình đứng vị trí thứ 4 trong “Top 10 kỳ quan thế giới mới dành cho những người không thích đám đông”7.
Những kết quả này cho thấy, sức hấp dẫn ngày càng lớn của các giá trị di sản trong việc thu hút du khách và khẳng định vai trò của di sản như một “nguồn vốn văn hóa” quan trọng của ngành du lịch.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, việc khai thác hệ thống di sản trong phát triển du lịch tại Ninh Bình vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, “phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch chưa tương xứng tiềm năng; hạ tầng, sản phẩm còn thiếu đồng bộ; quy mô công nghiệp văn hóa còn nhỏ, thiếu sản phẩm mang tầm thương hiệu quốc tế; nguồn nhân lực chất lượng cao hạn chế và liên kết với du lịch chưa hiệu quả”8.
Cơ cấu sản phẩm du lịch của tỉnh tuy đã được mở rộng nhưng nhìn chung vẫn thiếu những sản phẩm văn hóa đặc thù mang tính trải nghiệm sâu. Hoạt động khai thác di sản tại nhiều điểm đến vẫn chủ yếu dừng ở tham quan cảnh quan hoặc hành hương tín ngưỡng, trong khi việc diễn giải các giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của di sản còn hạn chế. Nhiều loại hình di sản phi vật thể như nghệ thuật diễn xướng dân gian, lễ hội truyền thống hay các làng nghề thủ công mới chỉ được giới thiệu hoặc trình diễn ở mức độ minh họa, chưa hình thành chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa mang tính sáng tạo theo hướng của công nghiệp văn hóa. Bên cạnh đó, việc phân bố khách du lịch giữa các điểm đến còn chưa đồng đều.
Phần lớn du khách tập trung tại các trung tâm du lịch lớn, như: quần thể danh thắng Tràng An hay Chùa Bái Đính, trong khi nhiều di tích lịch sử – văn hóa khác vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Trường hợp Phủ Đồi Ngang cho thấy, một tiềm năng đáng kể trong phát triển du lịch văn hóa – tâm linh gắn với lịch sử và tín ngưỡng địa phương, song hiện nay hoạt động du lịch tại đây vẫn còn hạn chế và chưa được tổ chức thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù.
Ngoài ra, trong bối cảnh không gian phát triển mới của tỉnh sau khi hợp nhất các địa bàn Ninh Bình – Hà Nam – Nam Định, yêu cầu đặt ra là phải tái cấu trúc hệ thống tuyến, điểm du lịch theo hướng liên kết các trung tâm di sản lớn của vùng. Việc hình thành các tuyến du lịch văn hóa – tâm linh, như; Hoa Lư – Tràng An – Tam Cốc – Bái Đính, Tam Chúc – Phủ Dầy – Đền Trần… hay các tuyến du lịch gắn với làng nghề và văn hóa châu thổ cần được định hướng trong một chiến lược phát triển du lịch mang tính hệ sinh thái. Chỉ khi các giá trị di sản được kết nối và khai thác theo hướng sáng tạo, gắn với công nghiệp văn hóa, du lịch Ninh Bình mới có thể phát triển bền vững và phát huy đầy đủ tiềm năng của không gian di sản đặc sắc này.
5. Định hướng phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa
Thứ nhất, gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch bền vững.
Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, việc phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch cần được định hướng theo nguyên tắc bảo tồn bền vững, trong đó di sản vừa là nguồn lực phát triển vừa là giá trị văn hóa cần được gìn giữ lâu dài. Điều này đòi hỏi quá trình khai thác du lịch phải đặt trên cơ sở tôn trọng tính nguyên gốc, tính toàn vẹn và ý nghĩa lịch sử – văn hóa của các không gian di sản.
Cần gắn chặt công tác bảo tồn với quy hoạch và khai thác du lịch một cách hợp lý. Đối với các di sản tiêu biểu như Quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư hay chùa Bái Đính, việc tổ chức hoạt động du lịch cần đi đôi với quản lý chặt chẽ không gian cảnh quan, kiểm soát lưu lượng khách và hạn chế các hoạt động xây dựng, kinh doanh có nguy cơ làm biến dạng cảnh quan văn hóa. Tương tự, tại trung tâm tín ngưỡng Phủ Dầy, việc tổ chức lễ hội và các hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu cần được định hướng theo hướng bảo tồn giá trị nghi lễ, âm nhạc chầu văn và không gian văn hóa truyền thống, tránh xu hướng thương mại hóa lễ hội.
Bên cạnh đó, đối với những di tích có tiềm năng nhưng chưa được khai thác tương xứng như Phủ Đồi Ngang (xã Phú Long), cần có chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị theo hướng kết hợp nghiên cứu, giới thiệu lịch sử – văn hóa của di tích với phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với tín ngưỡng và không gian văn hóa địa phương. Việc xây dựng các tuyến du lịch kết nối Phủ Đồi Ngang với các điểm di sản lớn trong khu vực như Đền Trần (Nam Định), Phủ Dầy (Vụ Bản), đền Dâu, Quán Cháo (Tam Điệp) hay các làng nghề truyền thống có thể tạo ra những hành trình du lịch văn hóa đặc thù.
Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn và khai thác di sản. Cộng đồng không chỉ là chủ thể lưu giữ các giá trị văn hóa mà còn là lực lượng quan trọng tham gia vào hoạt động du lịch thông qua dịch vụ, hướng dẫn, tổ chức lễ hội và trình diễn nghệ thuật dân gian. Sự tham gia này sẽ góp phần bảo đảm tính bền vững của quá trình phát huy giá trị di sản, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của du lịch văn hóa trong bối cảnh công nghiệp văn hóa hiện nay.
Thứ hai, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù từ di sản.
Trong xu hướng phát triển du lịch hiện đại, giá trị cốt lõi của điểm đến không chỉ nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay các công trình kiến trúc, mà còn ở khả năng chuyển hóa các giá trị di sản thành những trải nghiệm văn hóa độc đáo cho du khách. Sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù được hình thành thông qua quá trình “diễn giải” và “sáng tạo hóa” di sản, trong đó các yếu tố lịch sử, truyền thống và đời sống văn hóa bản địa được tái hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo ra những trải nghiệm sâu sắc cho người tham quan.
Trong trường hợp của Ninh Bình, hệ thống di sản phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi để hình thành nhiều loại hình sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc. Cảnh quan thiên nhiên và giá trị lịch sử tại quần thể danh thắng Tràng An và Cố đô Hoa Lư có thể được khai thác để phát triển các sản phẩm du lịch gắn với chủ đề “không gian văn hóa Đại Cồ Việt”, trong đó các hoạt động tham quan di tích được kết hợp với chương trình diễn giải lịch sử, tái hiện các sự kiện lịch sử hoặc tổ chức các lễ hội văn hóa truyền thống. Những sản phẩm như vậy không chỉ giúp du khách hiểu rõ hơn về tiến trình hình thành nhà nước phong kiến đầu tiên của Việt Nam mà còn góp phần nâng cao giá trị trải nghiệm của điểm đến.
Bên cạnh đó, các không gian văn hóa tâm linh như Chùa Bái Đính hay các đền, phủ trong vùng có thể trở thành nền tảng để phát triển các sản phẩm du lịch gắn với tín ngưỡng và lễ hội truyền thống. Những trải nghiệm như tham gia lễ hội, thưởng thức nghệ thuật diễn xướng dân gian, tìm hiểu về nghi lễ tôn giáo hoặc khám phá đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương đều có thể trở thành những sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, góp phần làm phong phú hệ sinh thái du lịch của tỉnh.
Tuy nhiên, một hạn chế đáng chú ý trong cấu trúc sản phẩm du lịch hiện nay của Ninh Bình là sự tập trung quá lớn vào một số điểm đến nổi tiếng, trong khi nhiều di tích có giá trị văn hóa vẫn chưa được tích hợp vào hệ thống sản phẩm du lịch. Trường hợp của Phủ Đồi Ngang ở xã Phú Long là một ví dụ điển hình. Mặc dù có giá trị lịch sử và gắn với đời sống tín ngưỡng của cộng đồng địa phương, di tích này hiện chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cư dân bản địa mà chưa trở thành một điểm đến lớn trong các tuyến du lịch văn hóa của tỉnh. Nếu được nghiên cứu và xây dựng sản phẩm phù hợp, Phủ Đồi Ngang có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong việc hình thành các tuyến du lịch chuyên đề về tín ngưỡng thờ Mẫu hoặc văn hóa dân gian vùng trung du Ninh Bình. Các hoạt động như giới thiệu nghi lễ truyền thống, trình diễn nghệ thuật chầu văn, tổ chức không gian trải nghiệm văn hóa địa phương hoặc kết hợp tham quan di tích với các làng nghề truyền thống trong khu vực có thể tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo, góp phần đa dạng hóa hệ thống sản phẩm du lịch của tỉnh.
Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số trong diễn giải và quảng bá di sản cũng mở ra nhiều khả năng mới cho việc phát triển sản phẩm du lịch văn hóa. Các hình thức, như; bảo tàng số, bản đồ du lịch thông minh, tour tham quan thực tế ảo hay các nền tảng kể chuyện di sản trên môi trường số có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận của du khách đối với các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa đang ngày càng phát triển, việc kết hợp giữa di sản, công nghệ và sáng tạo nghệ thuật sẽ góp phần tạo dựng những sản phẩm du lịch có giá trị trải nghiệm cao, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Ninh Bình trong không gian văn hóa – du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng.
Thứ ba, kết nối di sản với các lĩnh vực của công nghiệp văn hóa.
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo ngày càng phát triển, di sản văn hóa không chỉ được nhìn nhận như đối tượng bảo tồn mà còn là nguồn lực quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa. Việc kết nối di sản với các lĩnh vực sáng tạo như thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế văn hóa và truyền thông số sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị văn hóa – du lịch bền vững, trong đó di sản trở thành trung tâm của quá trình sáng tạo và sản xuất các sản phẩm văn hóa.
Cần thúc đẩy phát triển các sản phẩm sáng tạo dựa trên biểu tượng và giá trị của di sản. Hệ thống làng nghề truyền thống tại Ninh Bình có nhiều điều kiện để tham gia vào quá trình này. Chẳng hạn, các sản phẩm của Làng đá mỹ nghệ Ninh Vân có thể được thiết kế gắn với hình tượng kiến trúc và cảnh quan của Quần thể danh thắng Tràng An hay các biểu tượng lịch sử của Cố đô Hoa Lư. Tương tự, các sản phẩm thêu ren của Làng thêu ren Văn Lâm có thể trở thành quà lưu niệm mang bản sắc địa phương, góp phần gia tăng giá trị kinh tế của di sản thông qua hoạt động du lịch.
Bên cạnh lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, việc gắn di sản với nghệ thuật biểu diễn và các hoạt động văn hóa cộng đồng cũng là một hướng quan trọng trong phát triển công nghiệp văn hóa. Các chương trình trình diễn nghệ thuật dân gian như chèo, hát văn, hát xẩm hay các hoạt động tái hiện lịch sử tại không gian di tích có thể tạo ra những sản phẩm văn hóa – du lịch hấp dẫn, đồng thời góp phần bảo tồn các loại hình di sản phi vật thể. Trong thực tế, các hoạt động diễn xướng chầu văn tại Phủ Dầy đã trở thành một yếu tố quan trọng thu hút du khách hành hương và du lịch tâm linh. Mô hình này có thể được nghiên cứu vận dụng tại Phủ Đồi Ngang nhằm phát huy giá trị của không gian tín ngưỡng địa phương, đồng thời, tạo thêm điểm nhấn văn hóa trong hệ thống sản phẩm du lịch của tỉnh.
Một hướng đi ngày càng quan trọng là ứng dụng công nghệ số trong diễn giải và quảng bá di sản. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về di tích, phát triển bản đồ du lịch thông minh, tour tham quan ảo hay các nền tảng kể chuyện di sản trên môi trường số sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận đối với các giá trị văn hóa. Trong trường hợp của Ninh Bình, việc số hóa thông tin về hệ thống di sản văn hóa không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch mà còn tạo nền tảng cho việc phát triển các sản phẩm văn hóa sáng tạo.
Việc kết nối di sản với các lĩnh vực của công nghiệp văn hóa không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch mà còn góp phần chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực kinh tế – sáng tạo. Đây cũng là hướng đi quan trọng để xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa của Ninh Bình dựa trên nền tảng di sản đặc sắc của vùng đất cố đô.
Thứ tư, tăng cường liên kết không gian và tuyến du lịch di sản.
Một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát huy hiệu quả giá trị di sản trong phát triển du lịch là xây dựng mạng lưới không gian và tuyến du lịch di sản mang tính hệ thống. Thay vì khai thác đơn lẻ từng điểm đến, cần tổ chức các di tích và danh thắng thành những tuyến du lịch văn hóa có chủ đề rõ ràng, phản ánh mối liên hệ lịch sử – văn hóa giữa các khu vực trong không gian địa – văn hóa của tỉnh. Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao giá trị trải nghiệm của du khách mà còn góp phần phân bố hợp lý dòng khách giữa các điểm du lịch.
Trong cấu trúc không gian du lịch của Ninh Bình, hạt nhân vẫn là các di sản có sức hút lớn, như: quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư và Chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc, Đền Trần. Trên cơ sở các trung tâm này, có thể phát triển các tuyến du lịch văn hóa theo chủ đề. Chẳng hạn, tuyến “Không gian kinh đô cổ và di sản Đại Cồ Việt” có thể kết nối Hoa Lư với các điểm di tích lịch sử trong vùng; trong khi tuyến “Không gian tín ngưỡng và văn hóa tâm linh vùng châu thổ Bắc Bộ” có thể liên kết các trung tâm tín ngưỡng lớn như Phủ Dầy với hệ thống đền, phủ trong khu vực.
Trong cấu trúc mạng lưới này, những di tích còn ít được khai thác du lịch như Phủ Đồi Ngang (xã Phú Long),… có thể được đưa vào như những điểm dừng chân văn hóa trong các tuyến du lịch tín ngưỡng hoặc du lịch cộng đồng. Việc tích hợp các di tích này vào mạng lưới tuyến điểm không chỉ giúp mở rộng không gian trải nghiệm của du khách mà còn góp phần phân bổ lợi ích du lịch tới các khu vực còn ít phát triển, qua đó thúc đẩy sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong tỉnh.
Bên cạnh việc tổ chức các tuyến du lịch, cần chú trọng đầu tư hệ thống hạ tầng giao thông, dịch vụ và thông tin hướng dẫn nhằm nâng cao khả năng tiếp cận đối với các di sản. Việc phát triển các tuyến du lịch theo hướng liên vùng và đa điểm đến sẽ giúp hình thành mạng lưới du lịch văn hóa rộng lớn, kết nối các không gian di sản của Ninh Bình với các trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước. Thông qua đó, các giá trị di sản văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được phát huy hiệu quả như một nguồn lực quan trọng của phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy vai trò của các chủ thể tham gia.
Việc phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa đòi hỏi một mô hình quản trị tổng hợp, trong đó các hoạt động bảo tồn, khai thác du lịch và sáng tạo văn hóa được tổ chức theo một chiến lược thống nhất. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế quản lý di sản theo hướng tích hợp giữa quy hoạch bảo tồn với quy hoạch phát triển du lịch và phát triển không gian văn hóa. Đối với những di sản có tầm vóc đặc biệt, như: quần thể danh thắng Tràng An, đền Trần,… công tác quản lý cần bảo đảm các nguyên tắc về tính nguyên gốc, tính toàn vẹn và cảnh quan văn hóa, đồng thời, kiểm soát hợp lý các hoạt động dịch vụ, xây dựng và khai thác du lịch nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường di sản.
Bên cạnh yếu tố thể chế, hiệu quả phát huy giá trị di sản còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Chính quyền địa phương giữ vai trò định hướng và điều phối thông qua các chính sách quản lý, quy hoạch và đầu tư hạ tầng; doanh nghiệp du lịch tham gia vào quá trình xây dựng sản phẩm, tổ chức dịch vụ và quảng bá điểm đến; trong khi các nhà nghiên cứu và cơ quan văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc khảo cứu, diễn giải và bảo tồn giá trị di sản. Đặc biệt, cộng đồng cư dân bản địa là chủ thể trực tiếp sáng tạo và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, từ lễ hội, tín ngưỡng đến nghề thủ công và nghệ thuật dân gian.
Trong thực tế, các mô hình du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa gắn với đời sống bản địa đang ngày càng cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy di sản. Sự tham gia của người dân không chỉ góp phần bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống mà còn tạo ra những trải nghiệm chân thực cho du khách. Đối với những di tích còn ít được khai thác du lịch như Phủ Đồi Ngang, việc huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương trong tổ chức lễ hội, trình diễn nghệ thuật tín ngưỡng hoặc phát triển các dịch vụ văn hóa – du lịch có thể trở thành một hướng đi quan trọng nhằm từng bước đưa di tích này tham gia vào mạng lưới du lịch văn hóa của tỉnh.
Ngoài ra, cần chú trọng công tác truyền thông và giáo dục giá trị di sản thông qua các sự kiện văn hóa, lễ hội du lịch và các nền tảng truyền thông số. Việc xây dựng hình ảnh Ninh Bình gắn với hệ thống di sản đặc sắc của vùng cố đô, với hạt nhân là Quần thể danh thắng Tràng An sẽ góp phần nâng cao vị thế của địa phương trong mạng lưới du lịch văn hóa của vùng đồng bằng sông Hồng. Đồng thời, việc huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức văn hóa và cộng đồng cũng là điều kiện quan trọng để tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn, tu bổ di tích và phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo dựa trên di sản.
6. Kết luận
Trong bối cảnh phát triển kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa, di sản văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch bền vững. Trường hợp tỉnh Ninh Bình với “không gian địa – văn hóa” Ninh Bình hiện hữu như một sinh thể lịch sử – văn hóa đặc biệt, nơi địa lý, lịch sử và văn hóa không chỉ đồng tồn tại mà còn xuyên thấm và cộng hưởng, tạo nên một chỉnh thể đa tầng ý nghĩa. Vùng đất này vừa là “bảo tàng sống” lưu giữ các trầm tích văn hóa từ buổi đầu dựng nước, vừa là một giao điểm hội tụ, nơi các dòng chảy tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa gặp gỡ, dung hợp và lan tỏa”9 là nền tảng quan trọng để hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với di sản.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc khai thác di sản trong phát triển du lịch tại Ninh Bình đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, thể hiện qua sự gia tăng lượng khách, sự hình thành các tuyến điểm du lịch văn hóa – tâm linh và việc từng bước gắn kết di sản với các hoạt động sáng tạo văn hóa. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn đặt ra nhiều thách thức như sự mất cân đối giữa các điểm du lịch, nguy cơ thương mại hóa di sản và yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với không gian tỉnh mới.
Trong thời gian tới, việc phát huy giá trị di sản cần được đặt trong cách tiếp cận hệ sinh thái, gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản, phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa. Thông qua việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, tăng cường liên kết không gian di sản và phát huy vai trò của cộng đồng, Ninh Bình có thể từng bước khẳng định vị thế là trung tâm du lịch văn hóa – di sản quan trọng của Việt Nam và khu vực.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 53.
2, 8. Tỉnh ủy Ninh Bình (2026). Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/01/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. UNESCO (2007). Statistics on Cultural Industries; Framework for the Elaboration of National Data Capacity Building Project. UNESCO Asia and Pacific Regional Bureau for Education, Bangkok, 2007, p.1.
4. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
5. Ninh Bình khẳng định vai trò cực tăng trưởng các tỉnh phía Nam đồng bằng Sông Hồng. https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-khang-dinh-vai-tro-cuc-tang-truong-cac-tinh-phia-237212.htm.
6. Báo cáo Tóm tắt tình hình kinh tế – xã hội năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2026. https://baoninhbinh.org.vn/bao-cao-tom-tat-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-nam-2025-phuong-huong-nhiem-vu-va-giai-251208142943316.html
7. Một số vấn đề về phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. https://sodulich.ninhbinh.gov.vn/vi/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ve-phat-trien-du-lich-gan-voi-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-di-san-tren-dia-ban-tinh-ninh-binh-1700.html.
9. Đinh Văn Viễn (2025). Không gian địa – văn hóa đặc biệt của Ninh Bình. Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 310 – 9/2025, tr. 88.



