The dialectics of human-nature relationship in Marxist philosophy and its orienting values for sustainable development in Vietnam
ThS. Hoàng Thị Thu Huyền
TS. Nguyễn Thị Hiền
Trường Đại học Lao động – Xã hội cơ sở II TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong hệ thống tư tưởng triết học của C. Mác, quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là một đóng góp lý luận có ý nghĩa sâu sắc và bền vững. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, C. Mác đã chỉ ra rằng tự nhiên không chỉ là điều kiện tồn tại của con người mà còn là đối tượng của hoạt động thực tiễn, nơi con người vừa phụ thuộc vào, vừa tác động trở lại để cải biến. Chính tính thống nhất giữa sự lệ thuộc và năng lực cải tạo ấy đã làm nên bản chất biện chứng của quan hệ con người – tự nhiên trong tiến trình lịch sử. Trên nền tảng lý luận, bài viết xem xét thực trạng mối quan hệ này ở Việt Nam hiện nay trong bối cảnh biến đổi môi trường ngày càng nhanh và phức tạp, qua đó, rút ra những hàm ý lý luận và thực tiễn nhằm định hướng việc xây dựng quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Từ khóa: Triết học Mác; phát triển bền vững; con người; tự nhiên; mối quan hệ.
Abstract: Within Karl Marx’s philosophical system, the conception of the human-nature relationship constitutes a theoretical contribution of profound and enduring significance. Employing the methodology of dialectical materialism, Marx demonstrated that nature is not merely a prerequisite for human existence but also the objective of practical activity, wherein humans are simultaneously dependent upon and transformative toward their environment. It is the unity of this existential dependence and transformative capacity that defines the dialectical essence of the man-nature relationship throughout history. On this theoretical premise, the article examines the current state of this relationship in Vietnam amidst increasingly rapid and complex environmental shifts. Consequently, it derives theoretical and practical implications to orient the cultivation of a harmonious synergy between humanity and nature, thereby advancing the objectives of sustainable development.
Keywords: Marxist philosophy; Sustainable development; Human-nature relationship; Dialectics; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Một trong những nghịch lý lớn của thời đại hiện nay là càng mở rộng năng lực chinh phục thế giới vật chất, con người càng phải đối diện rõ hơn với những giới hạn của chính mô hình phát triển do mình kiến tạo. Suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, mất cân bằng sinh thái và các hệ lụy xã hội do biến đổi khí hậu gây ra cho thấy cần xác lập một cách tiếp cận đúng đắn đối với quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. triết học Mác có ý nghĩa đặc biệt ở chỗ đã đưa mối quan hệ con người – tự nhiên ra khỏi lối nhìn trực quan, phiến diện để đặt nó vào chỉnh thể vận động của đời sống hiện thực. Từ cách tiếp cận duy vật biện chứng, C. Mác chỉ ra rằng, con người không tồn tại như một thực thể tách biệt khỏi tự nhiên mà được hình thành, duy trì và phát triển trong quá trình trao đổi vật chất thường xuyên với tự nhiên. Đồng thời, thông qua lao động và hoạt động thực tiễn có ý thức, con người thích nghi và cải biến giới tự nhiên, qua đó cải biến chính các điều kiện tồn tại của mình. Chính sự thống nhất giữa tính phụ thuộc và năng lực tác động trở lại ấy đã làm nên chiều sâu lý luận của quan niệm Mácxít về quan hệ con người – tự nhiên.
Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường đã được khẳng định nhất quán trong đường lối phát triển đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, khai thác tài nguyên và mở rộng sản xuất trong nhiều trường hợp vẫn bộc lộ những biểu hiện thiếu hài hòa giữa mục tiêu phát triển và yêu cầu gìn giữ nền tảng sinh thái. Điều đó cho thấy phát triển bền vững không thể chỉ được tiếp cận như một bài toán điều hành, mà trước hết đòi hỏi một nền tảng nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và giới hạn tác động của con người đối với tự nhiên. Từ phương diện này, việc nghiên cứu quan hệ con người – tự nhiên trong triết học Mác có ý nghĩa thiết thực trong việc củng cố cơ sở lý luận cho tư duy phát triển ở Việt Nam.
2. Quan hệ con người – tự nhiên trong triết học Mác
2.1. Tự nhiên – tiền đề vật chất và “thân thể vô cơ” của con người
Ngay từ thập niên 40, thế kỷ XX vượt lên các quan niệm siêu hình, duy tâm và những cách hiểu cực đoan từng chi phối tư duy triết học trước đó, C.Mác đã sớm đặt vấn đề một cách hệ thống về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đồng thời kiến tạo một nền tảng luận chứng khoa học nhằm làm sáng tỏ bản chất sâu xa của mối quan hệ này. Đầu tiên, với nhãn quan duy vật biện chứng, C.Mác chỉ rõ sai lầm kéo dài trong tư tưởng truyền thống châu Âu, vốn dựa trên “cái quan niệm phi lý và trái tự nhiên về sự đối lập giữa tinh thần và vật chất, giữa con người và giới tự nhiên, giữa linh hồn và thể xác”1, để bác bỏ triệt để quan niệm siêu hình này. Theo ông, quan điểm này làm tê liệt khả năng nhận thức đúng đắn tính thống nhất vật chất – ý thức, đồng thời, che khuất mối liên hệ giữa con người và tự nhiên.
Cùng với C. Mác, Ăng-ghen cũng phủ nhận lối giải thích coi tự nhiên là lực lượng duy nhất quyết định toàn bộ tiến trình phát triển của xã hội loài người. Ông nhận xét đó là “quan niệm phiến diện”, bởi nó “quên rằng con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới”2. Ở đây, Ăng-ghen khẳng định con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được”3. Điều này có nghĩa, sự xuất hiện của con người đánh dấu một bước ngoặt mang tính đột biến trong tiến trình tiến hóa của tự nhiên, nơi tự nhiên đạt tới một hình thái tổ chức vật chất có khả năng tự ý thức và hành động có mục đích.
C.Mác khẳng định, con người “bằng cách phát triển từ một tế bào trứng duy nhất đến một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được”4. Nghĩa là, trong quá trình tiến hóa, con người “với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc… là thuộc về giới tự nhiên… nằm trong lòng tự nhiên”5. Đó là toàn bộ những điều kiện vật chất – sinh học, những thành tố hữu cơ làm nên cấu trúc cơ thể con người và bảo đảm cho con người hoạt động như một thực thể sinh học có tổ chức phức hợp, vận hành theo các quy luật tự nhiên của sự sống. Chính những tiền đề sinh học này tạo nên nền tảng quan trọng cho sự hình thành, vận động và biến đổi của bản tính con người, đặc biệt là đối với các phương diện cấu thành đời sống xã hội. Con người mang đầy đủ đặc trưng của một sinh thể tự nhiên, từ nhu cầu sinh học, giới hạn sinh lý đến sự phụ thuộc tuyệt đối vào các điều kiện khí hậu, tài nguyên và môi trường sinh thái. Sự tồn tại của con người luôn gắn với các quy luật tự nhiên và không thể duy trì nếu thiếu nền tảng vật chất mà tự nhiên cung cấp.
Mác đưa ra luận điểm nổi tiếng là “Giới tự nhiên – cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người – là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”6.
Giới tự nhiên không chỉ là điều kiện vật chất đầu tiên, mà còn là môi trường sống tất yếu, là ‘thân thể vô cơ’ của con người, nơi con người thực hiện mọi hoạt động trao đổi chất để duy trì và tái sản xuất đời sống của mình. Từ luận điểm đó, Mác cho thấy sự phát triển của con người và xã hội loài người không bao giờ có thể diễn ra tách rời hoặc phủ nhận nền tảng vật chất tự nhiên mà chỉ có thể được hiện thực hóa thông qua việc nhận thức đúng đắn, sử dụng hợp lý và cải biến tự nhiên trên cơ sở tôn trọng các quy luật vốn có của nó. Đây là cơ sở triết học quan trọng để lý giải tính tất yếu của mô hình phát triển hài hòa con người – tự nhiên, cũng là tiền đề cho tư duy phát triển bền vững hiện đại.
2.2. Con người là sản phẩm của tự nhiên và chủ thể cải biến tự nhiên
Nếu chỉ dừng lại ở phương diện sinh học, ta sẽ không lý giải được sự khác biệt căn bản giữa con người và các loài sinh vật khác. Điểm độc đáo của triết học Mác là nhấn mạnh con người là chủ thể xã hội – lịch sử, một thực thể có ý thức, biết đặt ra mục đích và hiện thực hóa mục đích thông qua hoạt động thực tiễn. Mặc dù con người là một bộ phận của giới tự nhiên, được sinh ra trực tiếp từ động vật; nhưng còn người còn là thực thể xã hội. Con người khác xa con vật vì con người có lao động, ngôn ngữ.
Ph. Ăngghen đã viết: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã làm ảnh hưởng tới bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”7. Như vậy, “với sự phát triển của bàn tay và với quá trình lao động, con người bắt đầu thống trị tự nhiên và cứ mỗi lần sự thống trị đó tiến lên một bước, là mỗi lần nó mở rộng thêm tầm mắt của con người”8. Bàn tay không phải là một cơ quan biệt lập, mà là một bộ phận nằm trong chỉnh thể sống thống nhất của cơ thể con người. sự phát triển của bàn tay tất yếu kéo theo những biến đổi thích ứng ở các bộ phận khác trong chỉnh thể sinh học. Khi bàn tay ngày càng hoàn thiện về khả năng cầm nắm và thao tác, cơ thể con người cũng từng bước được tái cấu trúc theo hướng phù hợp hơn với tư thế đi thẳng và hoạt động lao động. Trên nền tảng đó, cùng với sự phát triển của bàn tay và quá trình lao động, con người dần hình thành năng lực tác động chủ động vào giới tự nhiên. Nhờ năng lực này làm con người “in cái dấu của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di chuyển các loài thực vật và động vật từ chỗ này sang chỗ khác mà còn làm biến đổi cả diện mạo, khí hậu của nơi họ ở, thậm chí còn làm biến đổi cả cây cỏ và các thú vật”9.
Tuy nhiên, các nhà kinh điển của triết học Mác đưa ra một cảnh báo có giá trị vượt thời gian về giới hạn tự nhiên của quyền năng con người. Trong biện chứng của tự nhiên, các ông viết “chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta. Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó”10. Đây là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở rằng, mọi hành vi cải biến tự nhiên của con người luôn kéo theo những hệ quả nhất định, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, trước mắt và lâu dài. Tự nhiên không phải là thực thể câm lặng để con người áp đặt ý chí mà là một hệ thống có quy luật vận động khách quan, buộc con người phải tôn trọng trong quá trình tác động và cải biến.
Từ góc nhìn duy vật biện chứng, quan hệ con người – tự nhiên cần được nhận thức như là mối quan hệ tác động qua lại. Trong đó tác động của con người vào tự nhiên luôn tạo ra những “phản ứng trở lại” mà con người phải đối diện. Mỗi thành tựu kỹ thuật, từ thủy lợi, khai khoáng đến công nghiệp hóa hay cải tiến nông nghiệp đều đồng thời chứa đựng khả năng tạo ra hệ quả vượt khỏi dự kiến ban đầu. Cơ chế này là một biểu hiện sinh động cho sự can thiệp của con người vào tự nhiên có thể đạt được hiệu quả trước mắt, nhưng khi vượt quá giới hạn trao đổi vật chất giữa xã hội và tự nhiên, nó tất yếu dẫn đến những tác động tiêu cực làm suy giảm hoặc phá hủy chính lợi ích ban đầu.
Bất kỳ sự bất chấp nào dù xuất phát từ tham vọng phát triển, từ lợi ích kinh tế hay từ ảo tưởng sức mạnh đều sẽ dẫn đến sự trả đũa biện chứng của tự nhiên: suy thoái đất, cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và đứt gãy các hệ sinh thái. Để khẳng định tính đúng đắn trong cảnh báo của mình, Ăng-ghen đưa ra nhiều dẫn chứng lịch sử nhằm chứng minh mọi hành vi can thiệp tùy tiện vào tự nhiên đều dẫn đến những hệ quả phản tác động không thể tránh khỏi. Theo ông, sự “trả đũa” của tự nhiên không phải là hiện tượng thần bí hay siêu hình mà là hệ quả trực tiếp của việc con người vi phạm các quy luật vận động vốn có của hệ sinh thái. Các ví dụ được Ăng-ghen nêu ra trải rộng từ những trường hợp cổ điển ở Mêxôpôtami và vùng Địa Trung Hải, nơi việc tàn phá rừng đã phá vỡ khả năng giữ nước tự nhiên, khiến đất đai bạc màu và các đồng bằng ngập lụt11, đến thực tế ở châu Mỹ La-tinh, nơi việc đốt rừng làm phân bón cho cây cà phê đem lại lợi nhuận trước mắt nhưng đồng thời khiến sườn núi trở nên trơ trụi, dễ bị mưa nhiệt đới cuốn trôi lớp đất mặt12.
Lời cảnh báo của các nhà kinh điển của triết học Mác là sự nhấn mạnh rằng “chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống ở bên ngoài giới tự nhiên”13, bởi tự nhiên luôn vận hành theo các quy luật khách quan độc lập với ý muốn chủ quan của con người. Mọi hành vi can thiệp thiếu kiểm soát vào tự nhiên, dù được biện minh bởi khát vọng phát triển, lợi ích kinh tế hay ảo tưởng quyền lực, đều tất yếu kéo theo những phản ứng trở lại của tự nhiên. Những biểu hiện như suy thoái đất, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu hay sự đứt gãy của các hệ sinh thái chính là những “lời đáp trả” khắc nghiệt đó. Chúng trở thành bằng chứng sinh động khẳng định tầm nhìn tiên tri trong cảnh báo mà Ăng-ghen đã đưa ra từ thế kỷ XIX.
3. Thực trạng mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở Việt Nam – nhìn từ yêu cầu phát triển bền vững
Quá trình đổi mới đã tạo ra những thành tựu kinh tế – xã hội quan trọng, góp phần đưa Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Từ nền kinh tế có quy mô khoảng từ 31,2 tỷ USD năm 2000 lên 346,6 tỷ USD năm 2020, 476,4 tỷ USD năm 2025 và đạt khoảng 514 tỷ USD năm 202514, đưa Việt Nam vào top 32 thế giới. GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) cũng tăng từ khoảng 395 USD năm 2000 lên xấp xỉ 4.700 USD năm 2024 và khoảng 5.026 USD năm 2025 đưa Việt Nam từ nhóm thu nhập thấp lên cận trên trung bình15. Riêng năm 2025, GDP tăng 8,02%, cho thấy quỹ đạo tăng trưởng vẫn được duy trì ở mức cao. Cùng thời điểm, dân số Việt Nam đạt khoảng 102,3 triệu người, thành thị chiếm khoảng 38,2%, trong khi nông thôn chiếm 61,8%16. Những thành tựu kinh tế – xã hội mà Việt Nam đạt được trong thời kỳ đổi mới cho thấy, năng lực ngày càng lớn của con người trong việc huy động, tổ chức và cải biến các nguồn lực tự nhiên phục vụ phát triển.
Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, Việt Nam đã mở rộng mạnh mẽ việc khai thác tài nguyên, làm biến đổi sâu sắc mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, để lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế cao làm gia tăng mạnh mẽ nhu cầu khai thác đất đai, rừng, khoáng sản, năng lượng và thủy sản, khiến cho hệ sinh thái vượt quá khả năng tự tái tạo. Các dự án giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp thường xuyên lấn chiếm lòng sông, kênh rạch hoặc nắn dòng chảy để phục vụ mục tiêu phát triển.
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu, nếu không có các biện pháp thích ứng hiệu quả, tác động khí hậu có thể làm sản lượng quốc gia giảm 9,1% so với kịch bản cơ sở vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050; riêng giai đoạn 2025-2050, tăng trưởng GDP thực có thể mất trung bình 0,33 điểm phần trăm mỗi năm17. Điều đó cho thấy, tự nhiên không chỉ là nền tảng của phát triển mà còn đang “phản ứng trở lại” trước mô hình phát triển có cường độ khai thác cao.
Sự căng thẳng trong quan hệ con người – tự nhiên còn thể hiện ở áp lực phát thải và tiêu dùng tài nguyên. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), cường độ carbon của nền kinh tế Việt Nam hiện cao hơn mức trung bình của nhóm nước thu nhập trung bình tới 45,6%, trong khi phát thải khí nhà kính đã tăng bình quân 6,2% mỗi năm trong suốt thập niên qua; ba khu vực phát thải chính là năng lượng, công nghiệp và nông nghiệp18.
Dưới góc nhìn phát triển bền vững, điều này cho thấy, tăng trưởng ở Việt Nam vẫn còn phụ thuộc tương đối lớn vào mô hình tiêu hao năng lượng và tài nguyên. Thành quả kinh tế tuy rõ rệt, nhưng “dấu chân sinh thái” của tăng trưởng vẫn khá lớn, làm gia tăng nguy cơ va chạm giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với đòi hỏi bảo đảm cân bằng sinh thái lâu dài.
Đặc biệt, rừng ngập mặn vốn được xem là tuyến “phòng thủ tự nhiên” quan trọng trước biến đổi khí hậu đang chịu suy giảm đáng kể. Trong giai đoạn 1995-2019, Việt Nam mất 13.261 ha rừng ngập mặn, tương đương 7,3% diện tích, với tốc độ khoảng 0,3%/năm; diện tích rừng ngập mặn giảm mạnh giai đoạn 1995-2010 rồi mới phục hồi một phần sau 201019. Nguyên nhân chính của tình trạng mất rừng là việc mở rộng nuôi trồng thủy sản (chiếm 43,4% diện tích mất) và mở rộng nông nghiệp (24,8%). Tuy nhiên, trong giai đoạn 2020-2025, bức tranh rừng ngập mặn Việt Nam hiện lên với những gam màu đan xen, nơi các mầm xanh phục hồi vừa mới nhen lên thì cũng là lúc sự mong manh của hệ sinh thái ven biển bị phơi lộ rõ hơn trước sóng gió của phát triển và khí hậu biến đổi. Nếu như năm 2020, diện tích rừng ngập mặn cả nước ước đạt khoảng 155 nghìn ha, thì đến năm 2024, diện tích này đã tăng lên khoảng 200 nghìn ha.
Sự tăng trưởng hơn 40 – 50 nghìn ha trong vòng vài năm đã phần nào phản ánh nỗ lực bền bỉ của các chương trình trồng mới, phục hồi và bảo vệ rừng ven biển trên khắp các tỉnh, thành phố. Song, sự phục hồi về “số lượng” lại tương phản mạnh mẽ với thực trạng “chất lượng” của rừng ngập mặn. Phần lớn diện tích rừng trồng mới là các dải rừng phòng hộ đơn loài, chủ yếu gồm Đước và Mắm. Chính đặc điểm cấu trúc sinh thái đơn giản khiến những diện tích rừng này chưa thể đạt được hiệu quả tương đương rừng tự nhiên trước đây trong việc cung cấp sinh cảnh, hấp thụ carbon, điều hòa thủy văn và duy trì đa dạng sinh học.
Ở những vùng trọng điểm như Cà Mau, mỗi năm vẫn có từ 300 – 400 ha rừng bị xói lở, cuốn trôi bởi sóng biển ngày càng dữ dội. Ở Sóc Trăng, có nơi diện tích rừng ngập mặn đã giảm tới 55% trong vòng ba thập kỷ, trong khi tại Bạc Liêu, mức độ suy giảm từng lên đến 90%. Những con số này cho thấy, sự phục hồi của rừng ngập mặn ở Việt Nam hiện nay mới chủ yếu biểu hiện ở bình diện diện tích, trong khi tính bền vững về chất lượng hệ sinh thái, độ đa dạng sinh học và chức năng phòng hộ tự nhiên vẫn chưa được bảo đảm tương xứng.
Quá trình chuyển đổi đất rừng sang nuôi tôm vẫn là “vết thương kéo dài”. Tại đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1973 – 2020, mỗi năm trung bình 2.150 ha rừng ngập mặn bị mất do mở rộng nuôi trồng thủy sản và thêm 430 ha bị cuốn đi bởi xói lở bờ biển20. Dù tốc độ mất rừng đã giảm trong thập niên 2020 nhưng xu hướng này vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Tại nhiều nơi, ao tôm vẫn lấn dần vào rìa rừng; đất phù sa và thủy văn tiếp tục suy yếu. Không chỉ thế, quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng ven biển cũng tạo ra những sức ép không nhỏ đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn. Những tuyến đường ven biển, các khu kinh tế, khu du lịch hay dự án điện gió trải dài khắp miền Trung và Nam Bộ đã thu hẹp không gian sinh thái.
Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, đô thị hóa nhanh đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự chuyển dịch không gian phát triển ở Việt Nam. Quá trình này không chỉ tạo ra các cực tăng trưởng mới mà còn làm nảy sinh những sức ép cấu trúc đối với yêu cầu phát triển bền vững. Việc mở rộng nhanh các khu đô thị, khu công nghiệp, hạ tầng giao thông và hoạt động xây dựng đã diễn ra với cường độ ngày càng lớn, trong nhiều trường hợp vượt quá khả năng chịu tải và điều tiết của các hệ sinh thái tự nhiên. Hệ quả là, tại các đô thị lớn, áp lực dân số cùng mật độ xây dựng cao đã góp phần làm gia tăng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và suy giảm chất lượng môi trường sống.
Thực tế này còn được phản ánh ở chỗ, “cứ mỗi khi tỷ lệ đô thị hóa tăng thêm 1 điểm phần trăm thì nồng độ bụi mịn PM₂.₅ trung bình lại tăng khoảng 0,54 µg/m³”21. Trong giai đoạn 2015 – 2021, nồng độ PM₂.₅ trung bình mỗi năm tại Hà Nội luôn vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT hơn 1,3 lần, phản ánh tình trạng ô nhiễm không khí mang tính hệ thống gắn với giao thông, xây dựng và công nghiệp đô thị. Đặc biệt năm 2023, nồng độ PM₂.₅ của Hà Nội trung bình đạt khoảng 43,7 µg/m³, gấp nhiều lần giới hạn khuyến nghị của World Health Organization22. Tại TP. Hồ Chí Minh, đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra với cường độ đặc biệt mạnh, tạo ra một “siêu đô thị” vừa là trung tâm tài chính – sản xuất, vừa là điểm nóng về môi trường.
Nghiên cứu về PM₂.₅ cho thấy, TP. Hồ Chí Minh có mật độ dân số khoảng 4.097 người/km², cao hơn nhiều so với Hà Nội, đồng thời, nồng độ PM₂.₅ trung bình năm quanh mức 20–24 µg/m³ trong các năm gần đây, cao gấp khoảng 4-5 lần ngưỡng khuyến nghị của WHO. Riêng năm 2023 ước tính rằng nồng độ PM₂.₅ trong các mùa, đặc biệt mùa khô có thể lên tới 69.6 µg/m³, đẩy chất lượng không khí vào vùng “cảnh báo cho sức khỏe”23.
Đà Nẵng mặc dù được coi là đô thị có môi trường tương đối “dễ chịu” hơn so với Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nhưng điều đó không có nghĩa là áp lực sinh thái không hiện hữu. Các số liệu gần đây cho thấy nồng độ PM₂.₅ tại Đà Nẵng dao động quanh mức 15–25 µg/m³, tức vẫn cao hơn nhiều lần so với chuẩn WHO, dù thấp hơn hai đô thị lớn kia24. Những con số nêu trên phản ánh hệ quả trực tiếp của quá trình đô thị hóa với sự thiếu đồng bộ giữa mở rộng không gian đô thị với quy hoạch phát triển bền vững, xây dựng hạ tầng xanh và kiểm soát nguồn phát thải.
Áp lực sinh thái ở Việt Nam còn bộc lộ ở sự gia tăng nhanh chóng của các dòng chất thải phát sinh từ quá trình đô thị hóa, tiêu dùng và sinh hoạt xã hội. Nói cách khác, nếu ô nhiễm bụi mịn phản ánh sức ép mà hoạt động phát triển đang đặt lên môi trường khí quyển, thì sự gia tăng khối lượng chất thải rắn, đặc biệt là chất thải nhựa, lại cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với khả năng hấp thụ, xử lý và tự phục hồi của các hệ sinh thái. Theo số liệu của cơ quan quản lý môi trường, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 25,3 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt, trong đó có khoảng 1,8 triệu tấn chất thải nhựa.
Mặc dù tỷ lệ thu gom, xử lý ở đô thị đã đạt khoảng 96,6% và một số báo cáo cập nhật ghi nhận tỷ lệ này đạt 97,28% trong năm 2024, nhưng ở nông thôn chỉ đạt khoảng 77,69%; đáng chú ý, khoảng 64% chất thải vẫn được xử lý chủ yếu bằng chôn lấp25. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã cải thiện được “khâu cuối” của quản lý rác nhưng chưa thật sự chuyển mạnh sang mô hình giảm phát sinh, phân loại tại nguồn, tái sử dụng và tái chế theo logic của kinh tế tuần hoàn
Từ thực tế tăng trưởng của Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, có thể nhận thấy, quá trình đô thị hóa thiếu bền vững đang đẩy nhiều đô thị Việt Nam vào trạng thái “phát triển nóng”. Những hiện tượng như ô nhiễm không khí, ngập úng đô thị, suy giảm diện tích mặt nước và không gian xanh không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay tách rời mà là những mắt xích trong một chuỗi hệ quả có tính hệ thống. Các biểu hiện đó cho thấy mâu thuẫn biện chứng giữa động lực mở rộng phát triển và giới hạn sinh thái của tự nhiên đang ngày càng gay gắt, nhất là khi tiến trình đô thị hóa tăng tốc nhưng thiếu những thiết chế sinh thái đủ mạnh để cân bằng và điều chỉnh. Khi quá trình phát triển đặt nặng lợi ích trước mắt, xem nhẹ tính hữu hạn của tài nguyên và sức chịu tải môi trường, xã hội vô tình phá vỡ những tiền đề vật chất bảo đảm cho quá trình tái sản xuất đời sống dài hạn.
C.Mác từng khẳng định, tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người; do đó, sự phá vỡ mối tương hỗ giữa con người và tự nhiên tất yếu dẫn đến những “phản tác dụng biện chứng” mà tự nhiên gửi trả lại. Những hiện tượng ngập úng kéo dài, ô nhiễm không khí ở mức nguy hiểm, suy giảm chất lượng sống đô thị hay hiệu ứng đảo nhiệt không phải là cảnh báo nhất thời mà chính là biểu hiện cụ thể cho sự mài mòn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới tác động của mô hình phát triển lệch chiều.
Sự mở rộng công nghiệp và đô thị hóa nhanh tạo áp lực lên các hệ sinh thái, dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học. Công nghiệp hóa và đô thị hóa kéo theo nhu cầu đất đai lớn cho khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng giao thông và các dự án kinh tế. Quá trình chuyển đổi đất rừng, đất ngập nước và đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp – xây dựng đã làm thu hẹp mạnh mẽ diện tích sinh cảnh tự nhiên. Sinh cảnh bị chia cắt kéo theo sự suy giảm số lượng cá thể, phân mảnh quần thể và gia tăng số loài bị đe doạ, cho thấy hệ sinh thái đang bị tổn thương từ nền tảng.
Theo nghiên cứu, năm 2024, Việt Nam có khoảng 1.398 loài bị đe dọa sẽ biến mất, tăng thêm hơn 560 loài chỉ trong chưa đầy hai thập niên (năm 2007 chỉ có 836 loài). Một số loài đã được xác nhận tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ở Việt Nam, như: tê giác một sừng, cá sấu Xiêm, gấu ngựa ở nhiều vùng, trĩ sao mào trắng, rùa Batagur phương Nam. Điều đáng lưu ý là vòng xoáy suy giảm diễn ra âm thầm, không ồn ào như thiên tai, nhưng hậu quả mang tính tích lũy, lâu dài và khó đảo ngược. Khi đa dạng sinh học suy giảm sẽ làm giảm khả năng thực hiện SDG13 (ứng phó biến đổi khí hậu) và SDG15 (bảo tồn hệ sinh thái trên cạn), đe dọa SDG14 (tài nguyên biển), cản trở việc thực hiện SDG1 (xóa đói nghèo), SDG2 (an ninh lương thực), ảnh hưởng tới SDG8 (tăng trưởng kinh tế bền vững), SDG12 (sản xuất và tiêu dùng bền vững), tác động tới an toàn sức khỏe (SDG3) và an toàn cư trú (SDG11 – đô thị và cộng đồng bền vững). Suy giảm đa dạng sinh học là một hình thức tha hóa của quan hệ con người – tự nhiên, trong đó chi phí xã hội lại chủ yếu do những nhóm yếu thế phải gánh chịu.
Thực trạng mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở Việt Nam hiện nay cho thấy, quá trình phát triển đang bộc lộ nhiều mâu thuẫn nội tại. Sự gia tăng sức ép từ khai thác tài nguyên quá mức, chuyển đổi đất đai quy mô lớn, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và khả năng chịu tải của tự nhiên đang ngày một nới rộng. Điều đó phản ánh một sự mất cân bằng đáng lo ngại trong cách con người khai thác, sử dụng và ứng xử với tự nhiên, qua đó đặt ra thách thức trực tiếp đối với mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Bởi vậy, yêu cầu hiện nay không chỉ dừng lại ở việc khắc phục từng vấn đề môi trường riêng lẻ mà quan trọng hơn là phải đổi mới mô hình phát triển, tổ chức lại hoạt động sản xuất, tiêu dùng và quản trị tài nguyên theo hướng hài hòa hơn, trên cơ sở nhận thức đầy đủ về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và tự nhiên.
4. Giá trị định hướng của triết học Mác đối với phát triển bền vững ở Việt Nam
Từ việc luận giải mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên, triết học Mác đã cung cấp một cách hiểu đúng đắn về vị trí của con người trong thế giới tự nhiên, qua đó gợi mở một phương pháp luận quan trọng cho việc định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam.
Thứ nhất, định hướng cho Việt Nam đổi mới tư duy phát triển theo hướng khắc phục quan niệm xem tự nhiên chỉ như nguồn lực đầu vào cho tăng trưởng. Từ góc nhìn Mácxít, tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người đã định hướng cho Việt Nam phải chuyển từ tư duy phát triển thiên về chinh phục, khai thác và tận dụng tự nhiên sang tư duy phát triển coi trọng tính thống nhất hữu cơ giữa con người, xã hội và giới tự nhiên. Mọi chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng vị trí của tự nhiên trong đời sống xã hội. Không thể tiếp tục xem tài nguyên chỉ là nguồn vốn tự nhiên để khai thác tối đa, mà phải coi đó là nền tảng sinh tồn cần được bảo tồn, tái tạo và sử dụng hợp lý giữa các thế hệ.
Thứ hai, gợi mở cách tiếp cận đúng đắn về phát triển bền vững như một quá trình phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ cơ bản giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Một mô hình phát triển chỉ chú trọng gia tăng của cải vật chất mà xem nhẹ công bằng xã hội hoặc đánh đổi môi trường sớm muộn cũng sẽ làm xói mòn những điều kiện tồn tại của chính nó. Đối với Việt Nam hiện nay, giá trị định hướng của tư tưởng Mác thể hiện ở chỗ mọi chủ trương, chiến lược và mô hình tăng trưởng không thể chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng GDP hay quy mô vốn đầu tư mà phải được xem xét trong tương quan với khả năng nâng cao chất lượng sống của nhân dân, thu hẹp chênh lệch xã hội, bảo đảm công bằng giữa các vùng miền, đồng thời gìn giữ các điều kiện sinh thái cho các thế hệ tương lai. Chỉ khi đặt phát triển trong sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế, tiến bộ xã hội và trách nhiệm môi trường, Việt Nam mới có thể xây dựng được một quỹ đạo phát triển thực sự bền vững.
Thứ ba, đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại vai trò của con người trong phát triển bền vững. Con người vừa là chủ thể khai thác và sử dụng tự nhiên, vừa là chủ thể phải gánh vác trách nhiệm bảo vệ, phục hồi và tái tạo những điều kiện sinh thái bảo đảm cho sự phát triển lâu dài. Nếu chỉ dừng ở quan niệm con người là trung tâm hưởng thụ thành quả phát triển, thì rất dễ dẫn đến lối sống tiêu dùng quá mức và tư duy chinh phục tự nhiên một chiều. Ngược lại, con người chỉ thực sự khẳng định được bản chất của mình khi hoạt động thực tiễn của họ phù hợp với các quy luật khách quan và hướng tới sự phát triển toàn diện của đời sống xã hội. Điều đó có nghĩa Việt Nam muốn phát triển bền vững ở cần được xây dựng trên nền tảng nâng cao ý thức sinh thái, trách nhiệm xã hội và đạo đức phát triển của con người, từ cấp độ cá nhân đến cộng đồng, doanh nghiệp và bộ máy quản lý nhà nước.
Thứ tư, cung cấp phương pháp luận trong việc định hướng hoàn thiện thể chế quản lý phát triển theo hướng tích hợp hơn, dài hạn hơn và có năng lực phòng ngừa rủi ro sinh thái tốt hơn. Từ quan điểm duy vật lịch sử, mọi quan hệ giữa con người và tự nhiên đều được trung gian bởi những điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, bởi phương thức sản xuất và cơ chế tổ chức xã hội nhất định. Vì vậy, những bất cập trong quan hệ con người – tự nhiên không thể được giải quyết chỉ bằng lời kêu gọi đạo đức hay các biện pháp kỹ thuật đơn lẻ mà cần được xử lý ở cấp độ thể chế, chính sách và mô hình phát triển. Đối với Việt Nam, điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế phối hợp liên ngành, công cụ kinh tế môi trường, quy hoạch tích hợp, quản trị tài nguyên và cơ chế giám sát thực thi theo hướng coi bảo vệ môi trường không phải là “phần phụ” của phát triển mà là điều kiện nội tại của phát triển.
Thứ năm, xác lập cơ sở lý luận cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam theo hướng xanh hơn, tuần hoàn hơn và có khả năng thích ứng cao hơn. Nếu xét theo logic biện chứng, mọi mô hình phát triển chỉ có thể bền vững khi nó không ngừng tự điều chỉnh để khắc phục những mâu thuẫn do chính mình tạo ra. Trong trường hợp Việt Nam, sức ép từ biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và yêu cầu cạnh tranh mới của nền kinh tế toàn cầu đang buộc mô hình tăng trưởng phải dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác tài nguyên sang sử dụng hiệu quả tài nguyên, từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa. Triết học Mác không đưa ra các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho quá trình chuyển đổi đó nhưng cung cấp nền tảng nhận thức để khẳng định rằng sự chuyển đổi ấy không phải lựa chọn tùy nghi mà là tất yếu khách quan nếu muốn bảo đảm sự phát triển lâu dài của xã hội.
Thứ sáu, khẳng định bản chất nhân văn của phát triển bền vững. Trong tư tưởng của Mác, con người luôn là mục tiêu cao nhất của lịch sử nhưng là con người hiện thực, gắn với những điều kiện sinh tồn vật chất, với quan hệ xã hội và với môi trường tự nhiên cụ thể.
Phát triển bền vững ở Việt Nam cần được hiểu không chỉ như yêu cầu bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường mà còn như yêu cầu giữ vững định hướng vì con người trong toàn bộ tiến trình phát triển. Mọi thành tựu kinh tế, mọi cải cách thể chế và mọi chiến lược môi trường, xét đến cùng, đều phải quy tụ vào việc nâng cao chất lượng sống, bảo vệ phẩm giá con người và mở rộng những điều kiện để mỗi cá nhân phát triển trong một không gian sinh thái an toàn, công bằng và lành mạnh. Chính điều đó làm nên chiều sâu nhân văn của phát triển bền vững và cũng là phương diện thể hiện rõ giá trị định hướng lâu dài của triết học Mác đối với con đường phát triển ở Việt Nam hiện nay.
5. Kết luận
Triết học Mác có giá trị định hướng sâu sắc đối với phát triển bền vững ở Việt Nam cả trên phương diện nhận thức, phương pháp luận và thực tiễn chính sách. Giá trị bền vững của tư tưởng ấy không chỉ nằm ở ý nghĩa triết học mà còn ở khả năng soi sáng những vấn đề thực tiễn của thời đại, khi khủng hoảng sinh thái, biến đổi khí hậu và sự giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống đang buộc nhân loại phải xem xét lại chính nền tảng tư duy phát triển. Trước yêu cầu thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, nhất là trong việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, việc vận dụng sáng tạo những gợi mở từ triết học Mác vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập (2002). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 655, 720, 475, 475, 655.
6. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (2002). Tập 42. H. NXB Chính trị quốc gia, tr.135.
7, 8, 9, 10, 11, 12, 13. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (1994). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 646, 644, 475, 652, 654-655, 658, 655.
14. Vietnam GDP. https://www.macrotrends.net/global-metrics/countries/vnm/vietnam/gdp-gross-domestic-product.
15. GDP per capita (current US$) – Viet Nam. https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD?locations=VN
16. Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025, Hà Nội.
17, 18. World Bank (2025). Viet Nam 2045: Growing greener: Pathways to a resilient and sustainable future. World Bank.
19. Pham Hong Tinh & cộng sự (2022). Distribution and drivers of Vietnam mangrove deforestation from 1995 to 2019. Mitigation and Adaptation Strategies for Global Change. 27(4): 14745. Doi: https://doi.org/10.1007/s11027-022-10005-w
20. Manh Hung Phan & Marcel JF Stive (2022). Managing mangroves and coastal land cover in the Mekong Delta. Ocean & Coastal Management, 219, https://doi.org/10.1016/j.ocecoaman.2021.106013
21. Duy Hung Bui & Xuan Hoa Nghiem (2025). The effects of urbanization on air pollution and public health in Vietnam: An empirical analysis. Asian Journal of Water, Environment and Pollution. Vol. 22, No. 3, pp. 198-210. https://doi.org/10.36922/AJWEP025130088
22. IQAir (2024). World Air Quality Report 2023 (Báo cáo chất lượng không khí thế giới 2023). IQAir, Thụy Sĩ.
23. Long Ta Bui, Phong Hoang Nguyen, Duyen Chau My Nguyen (2023). Spatio-temporal modelling and related factors analysis of PM2.5 pollution: A case study of Ho Chi Minh city, Vietnam. Physics and Chemistry of the Earth, Parts A/B/C Volume 131, October 2023, Page 103417. https://doi.org/10.1016/j.pce.2023.103417
24. IQAir (2025). Air quality in Da Nang. https://www.iqair.com/vietnam/da-nang/da-nang
25. Khương Trung (2025). Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và quyền lợi của mọi người dân. https://mae.gov.vn/bao-ve-moi-truong-la-trach-nhiem-va-quyen-loi-cua-moi-nguoi-dan-20145.htm.



