Education in Binh Phuoc in the period of integration (2010 – 2024): achievements, challenges, and development orientations today
ThS. Nguyễn Thị Hương
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
(Quanlynhanuoc.vn) – Bình Phước là tỉnh biên giới thuộc vùng Đông Nam Bộ, nơi sinh sống của 41 dân tộc anh em, đã trải qua quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ giai đoạn 2010 – 2024, làm gia tăng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng. Bài viết phân tích thực trạng phát triển giáo dục của tỉnh trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số; đồng thời, đánh giá tác động của việc sáp nhập với tỉnh Đồng Nai (tháng 7/2025) đối với định hướng phát triển giáo dục và nguồn nhân lực. Bài viết đề xuất các định hướng phát triển sau sáp nhập, như: chuyển đổi lực lượng lao động, thu hẹp khoảng cách kỹ năng, thu hút nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực tại các vùng khó khăn.
Từ khóa: Giáo dục Bình Phước; nguồn nhân lực chất lượng cao; sáp nhập hành chính; vùng Đông Nam Bộ; dân tộc thiểu số.
Abstract: Binh Phuoc, a border province in Vietnam’s Southeast region and home to 41 ethnic groups, has undergone rapid industrialization during the period 2010 – 2024, leading to an increasing demand for high-quality human resources. This article analyzes the current state of educational development in the province in the context of international integration and digital transformation, and evaluates the impact of the administrative consolidation with Dong Nai province (July 2025) on education and human resource development orientations. The article proposes post-consolidation development orientations, such as: workforce transformation, narrowing the skills gap, attracting high-quality human resources, and developing human resources in disadvantaged areas.
Keywords: Education in Binh Phuoc; high-quality human resources; administrative consolidation; Southeastern region; ethnic minority groups.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội. Trước khi sáp nhập với tỉnh Đồng Nai, Bình Phước là tỉnh biên giới thuộc vùng Đông Nam Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng, giáp Campuchia với đường biên giới dài 260 km, nơi sinh sống của 41 dân tộc. Sau 50 năm giải phóng (23/3/1975 – 23/3/2025), tỉnh đã có những chuyển biến sâu sắc, từ một “vùng trũng” về giáo dục với cơ sở vật chất tạm bợ, như: tranh, tre, nứa, lá, đến nay đã xây dựng được hệ thống trường lớp khang trang với 235/390 trường đạt chuẩn quốc gia¹.
Cơ cấu dân số của tỉnh mang đậm dấu ấn lịch sử, hình thành từ các chương trình khai hoang, xây dựng kinh tế mới và định cư sau năm 1975. Điều này lý giải cho tỷ lệ lao động nông thôn (69,41%) cao hơn đáng kể so với thành thị (30,59%) vào năm 2024², với lực lượng lao động chủ yếu gắn bó với nông, lâm nghiệp. Giai đoạn 2010 – 2024 đánh dấu sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2024 đạt 8,7%, GRDP bình quân đầu người đạt 108,4 triệu đồng³. Quá trình này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực chất lượng, kéo theo áp lực đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo của địa phương.
Tháng 6/2025, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, tỉnh Bình Phước sáp nhập với tỉnh Đồng Nai, hình thành tỉnh Đồng Nai mới với diện tích 12.737,18 km² và quy mô dân số 4.491.408 người⁴. Đây là sự kiện có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh địa phương có đặc thù biên giới và đa dân tộc. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba lĩnh vực đột phá, hướng tới mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40%⁵. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tích hợp hệ thống giáo dục, đồng bộ hóa chính sách và khai thác hiệu quả các lợi thế bổ sung giữa hai địa phương.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết vốn nhân lực của Schultz (1961) và Becker (1964) khẳng định, đầu tư vào giáo dục và đào tạo chính là đầu tư vào vốn con người, qua đó mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Trong bối cảnh vùng Đông Nam Bộ, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, vốn nhân lực có tác động tích cực và lâu dài đến năng suất lao động, đặc biệt khi kết hợp với khả năng hấp thụ công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài⁶. Đối với địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số như Bình Phước, cách tiếp cận này cần được mở rộng thông qua các nghiên cứu về phát triển giáo dục vùng dân tộc, trong đó nhấn mạnh vai trò của các yếu tố, như: ngôn ngữ, văn hóa và bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục⁷.
Về chất lượng giáo dục, UNESCO (2005) định nghĩa, đây là mức độ phù hợp với mục tiêu phát triển của người học và xã hội, bao gồm các yếu tố, như: người học, môi trường, nội dung, quá trình và kết quả giáo dục. Trong nghiên cứu này, chất lượng giáo dục được đo lường thông qua các chỉ số, như: tỷ lệ đi học, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ lao động qua đào tạo và năng suất lao động. Đặc biệt, nghiên cứu chú trọng phân tích sự khác biệt giữa các vùng trong tỉnh, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa vùng người Kinh và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Lý thuyết về hội nhập giáo dục quốc tế của Knight (2008) nhấn mạnh quá trình tiếp thu các chuẩn mực tiên tiến và tăng cường hợp tác đào tạo. Đối với tỉnh Bình Phước, hội nhập được thể hiện thông qua các hoạt động, như: ký kết thỏa thuận với Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh để thành lập phân hiệu (2024), cũng như triển khai chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, qua đó tạo cơ hội việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt đối với khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn⁸.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai trên cơ sở kết hợp các phương pháp định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính toàn diện trong phân tích. Trước hết, phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng để làm rõ bối cảnh hình thành và quá trình biến đổi của cơ cấu lao động, đặc biệt là quá trình di dân và định cư của các dân tộc sau năm 1975. Nghiên cứu tiến hành thu thập, rà soát và phân tích các tài liệu lưu trữ, báo cáo phát triển kinh tế – xã hội cùng các văn bản chính sách liên quan đến giai đoạn 2019 – 2024.
Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu thống kê được vận dụng nhằm xử lý các dữ liệu định lượng về lực lượng lao động, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh – đối chiếu lịch sử được sử dụng để làm rõ tính động và đặc thù của nguồn nhân lực địa phương, thông qua việc so sánh cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực tại các mốc thời gian khác nhau,
Ngoài ra, phương pháp phân tích bối cảnh được áp dụng nhằm đánh giá tác động của các yếu tố vĩ mô, như: đại dịch Covid-19, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: EVFTA, CPTPP, và chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, đến quá trình phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thành tựu của giáo dục Bình Phước qua 15 năm phát triển
Trước năm 1975, Bình Phước là địa bàn còn nhiều khó khăn, với cơ sở vật chất giáo dục hết sức thô sơ. Sau ngày giải phóng, tỉnh trở thành điểm đến của các chương trình khai hoang, xây dựng kinh tế mới và định cư cho đồng bào các dân tộc từ nhiều vùng miền. Một bước ngoặt quan trọng được ghi nhận vào năm 1998, khi tỉnh hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Đến năm 2009, Bình Phước tiếp tục đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở⁹.
Giai đoạn 2010 – 2024 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của hệ thống giáo dục địa phương. Số lượng trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh, từ 34 trường (năm 2011) lên 235 trường (năm 2025), chiếm tỷ lệ 60,25%¹⁰. Quy mô mạng lưới trường học được mở rộng đáng kể, như: 37 trường trung học phổ thông, 108 trường trung học cơ sở và 169 cơ sở giáo dục mầm non.
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, với tỷ lệ đạt chuẩn ở các cấp học duy trì trên 99%¹¹, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và bảo đảm tính ổn định của hệ thống giáo dục.
Bảng 1. Quy mô mạng lưới trường học Bình Phước (2010 – 2025)
| Cấp học | 2010 – 2011 | 2020 – 2021 | 2024 – 2025 |
| Mầm non (trường) | 69 | 160 | 167 |
| Tiểu học (trường) | 166 | 134 | 122 |
| Trung học cơ sở (trường/lớp) | 95/1.648 | 108/1.902 | 108/1.888 |
| Trung học phổ thông (trường/lớp) | 31/744 | 34/855 | 37/892 |
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2024 đạt 99,21%, tăng 5 bậc so với năm 2023. Đội tuyển học sinh giỏi quốc gia đạt 62 giải, xếp thứ 7 toàn quốc về tỷ lệ học sinh đạt giải¹². Đặc biệt, năm 2024, tỉnh ký kết thỏa thuận với Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thành lập phân hiệu tại địa phương, đánh dấu sự xuất hiện của cơ sở giáo dục đại học đầu tiên trên địa bàn¹³.
3.2. Những thách thức đối với giáo dục và nguồn nhân lực
Thứ nhất, sự chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng nội tỉnh vẫn còn rõ nét. Mặc dù các chỉ số bình quân được cải thiện, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa vùng người Kinh và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức đáng kể. Sự phân bố lao động trong doanh nghiệp không đồng đều giữa các địa phương phản ánh lịch sử phát triển không gian kinh tế, trong đó các khu vực có lợi thế về hạ tầng, như: Chơn Thành, Đồng Xoài, sớm trở thành trung tâm công nghiệp, trong khi các huyện biên giới, vùng sâu, như: Bù Gia Mập, Bù Đốp, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn về kết nối và phát triển¹⁴.
Chênh lệch này được thể hiện rõ qua các chỉ số giáo dục, như: tại huyện Bù Gia Mập, tỷ lệ học sinh đi học cấp trung học cơ sở đạt 82,4%, trong khi tại thành phố Đồng Xoài đạt 94,2%¹⁵. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ điều kiện kinh tế mà còn liên quan đến các rào cản, như: ngôn ngữ, văn hóa và khả năng tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp và cơ cấu nguồn nhân lực chưa hợp lý. Số liệu năm 2024 cho thấy, 79,2% dân số chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong khi chỉ 7,2% đạt trình độ đại học trở lên¹⁶. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 21,6%, thấp hơn so với mức bình quân cả nước (28,4%) và vùng Đông Nam Bộ (30,0%)¹⁷, đồng thời, tồn tại khoảng cách đáng kể giữa khu vực thành thị (36,92%) và nông thôn (14,90%)¹⁸. Điều này phản ánh sự bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội đào tạo, gắn với sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các tiểu vùng trong tỉnh, vốn có nguồn gốc từ quá trình phát triển không đồng đều trong lịch sử¹⁹.
Thứ ba, năng suất lao động và hiệu quả sử dụng lao động còn hạn chế. Năng suất lao động của Bình Phước năm 2024 đạt 169,8 triệu đồng/người và 49% so với TP. Hồ Chí Minh (310,8 triệu đồng/người)²⁰. Sự chênh lệch này phản ánh cơ cấu kinh tế của Bình Phước vẫn phụ thuộc lớn vào các ngành, như: nông, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến giản đơn; đồng thời, cho thấy hiệu quả sử dụng lao động còn thấp so với các địa phương có mức độ công nghiệp hóa cao trong vùng.
Thứ tư, tình trạng thiếu hụt giáo viên và bất cập về cơ cấu vẫn còn rõ nét. Việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tạo ra áp lực lớn đối với đội ngũ giáo viên. Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo (2024), toàn tỉnh thiếu 127 giáo viên Tin học, 89 giáo viên Ngoại ngữ và 156 giáo viên Khoa học tự nhiên21. Tình trạng này nghiêm trọng hơn tại các huyện vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi gặp khó khăn trong thu hút giáo viên do thiếu nhà ở công vụ và chế độ phụ cấp chưa đủ hấp dẫn. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ yêu cầu của chương trình mới, như: dạy học tích hợp các môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử – Địa lý, trong khi đội ngũ hiện tại chủ yếu được đào tạo theo đơn môn, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu đổi mới và năng lực thực tế.
Thứ năm, đặc thù vùng biên giới và đồng bào dân tộc thiểu số đặt ra nhiều thách thức riêng biệt. hiện là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, như: S’tiêng, M’nông, Khmer. Các huyện biên giới, như: Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh, có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn mức bình quân, khoảng cách đến trường xa và tồn tại rào cản ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng tiếp cận giáo dục.
4. Định hướng phát triển sau sáp nhập (2025 – 2030)
Thứ nhất, vấn đề chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Hiện tồn tại khoảng cách giữa cơ cấu lao động truyền thống, với trình độ thấp, và yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng của các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ hiện đại. Tốc độ chuyển dịch kinh tế vượt quá tốc độ nâng cấp kỹ năng của người lao động. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, quá trình này càng khó khăn do rào cản ngôn ngữ và văn hóa. Giải pháp cần tập trung đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại theo nhu cầu thị trường, gắn với các ngành nghề mà khu công nghiệp và doanh nghiệp FDI có nhu cầu cao. Đồng thời, phát triển mô hình liên kết “ba nhà”, như: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, hỗ trợ đào tạo và tiếp nhận lao động sau đào tạo.
Thứ hai, vấn đề thu hẹp khoảng cách kỹ năng và trình độ đáp ứng yêu cầu hội nhập. Nguồn nhân lực của tỉnh còn hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và kỹ năng số, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giải pháp cần cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng hiện đại, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng và tích hợp kỹ năng số, ngoại ngữ. Đồng thời, thúc đẩy hợp tác với các cơ sở đào tạo lớn để triển khai các chương trình đào tạo tại chỗ hoặc từ xa.
Thứ ba, vấn đề thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Hạn chế về môi trường sống, hạ tầng xã hội và cơ hội phát triển nghề nghiệp làm gia tăng nguy cơ “chảy máu chất xám”. Giải pháp cần xây dựng chính sách thu hút nhân lực toàn diện, như: hỗ trợ nhà ở, nâng cao phúc lợi, cải thiện môi trường làm việc và tạo cơ hội nghiên cứu, phát triển. Đồng thời, cần đầu tư nâng cấp hạ tầng y tế, giáo dục, văn hóa và dịch vụ đô thị nhằm nâng cao chất lượng sống và tăng sức hấp dẫn của địa phương.
Thứ tư, vấn đề phát triển nguồn nhân lực tại vùng khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Sự chênh lệch về cơ hội đào tạo và việc làm giữa các tiểu vùng vẫn ở mức lớn, gắn với các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và điều kiện tiếp cận. Giải pháp cần triển khai các chương trình đào tạo nghề linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa phương, kết hợp đào tạo tại chỗ và hỗ trợ sau đào tạo. Đồng thời, cần gắn đào tạo nghề với các chính sách hỗ trợ sinh kế, như: vốn, thị trường tiêu thụ và hạ tầng thiết yếu, nhằm tạo điều kiện để người lao động áp dụng kỹ năng vào thực tiễn.
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế mà còn là yếu tố quyết định vị thế phát triển của địa phương trong cấu trúc kinh tế – xã hội mới21. Theo định hướng đến năm 2030, địa phương đặt mục tiêu GRDP bình quân đầu người đạt trên 250 triệu đồng, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40% và tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia từ 80% trở lên22. Những mục tiêu này đòi hỏi sự triển khai đồng bộ, linh hoạt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng người lao động.
5. Kết luận
Giáo dục Bình Phước giai đoạn 2010 – 2024 đã đạt được những thành tựu quan trọng song so với các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ vẫn đối mặt với nhiều thách thức, như: chênh lệch chất lượng giữa các vùng, đặc biệt tại khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, nơi tỷ lệ bỏ học còn cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (21,6% so với mức bình quân vùng 30,0%).
Việc sáp nhập với tỉnh Đồng Nai mở ra cơ hội quan trọng để khai thác các lợi thế bổ sung trong phát triển giáo dục và nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, định hướng phát triển cần tập trung vào bốn vấn đề trọng tâm, như: chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; thu hẹp khoảng cách kỹ năng nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập; thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao; và phát triển nguồn nhân lực tại các vùng khó khăn, đặc biệt là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp và sự quyết tâm trong tổ chức thực hiện, địa phương có thể từng bước xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại, bảo đảm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.
Chú thích
1. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội của Bình Phước có nhiều tiến bộ sau 50 năm ngày giải phóng (23/3/1975 23/3/2025). https://tuyengiaobinhphuoc.org.vn/dinh-huong-tuyen-truyen/cac-linh-vuc-van-hoa-xa-hoi-cua-binh-phuoc-co-nhieu-tien-bo-sau-50-nam-ngay-giai-phong-23-3-1975-23-3-2025-3435.html
2. Cục Thống kê tỉnh Bình Phước (2025). Niên giám thống kê Bình Phước năm 2024. H. NXB Thống kê, tr. 95.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước (2024). Báo cáo số 391-BC/UBND ngày 21/11/2024 về tình hình kinh tế – xã hội năm 2024 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.
4. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/06/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
5. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2025). Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 30/09/2025 tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
6. Tran, K. H., Dang, T. B., Tieu, V. T., Hoang, V. H., Do, Q. A., & Pham, H. T. (2023). Impact of FDI absorptive capacity on labor productivity in Vietnam. Journal of Social Economics Research, 11(2).
7, 19, 21, 22. Chất lượng nguồn nhân lực ở Bình Phước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự chuyển đổi địa chính trị trước khi sáp nhập vào Đồng Nai. https://tapchidongnama.vn/chat-luong-nguon-nhan-luc-o-binh-phuoc-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-va-su-chuyen-doi-dia-chinh-tri-truoc-khi-sap-nhap-vao-dong-nai/
8. Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước (2025). Báo cáo số 31/BC-SNV ngày 01/02/2024 về kết quả “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
9. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Bình Phước (2025). Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng tỉnh Bình Phước (23/3/1975 – 23/3/2025).
10, 11, 12, 13, 14, 15. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước (2024). Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2023 – 2024; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2024 – 2025.
16. Tổng cục Thống kê (2024). Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2024. Nhà xuất bản Thống kê, tr. 146 – 148.
17, 18, 20. Cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê, tr. 183 – 184, 189 – 190.



