Gender equality in the party’s theoretical thinking: from a traditional perspective to a sustainable development approach
Trung tá, TS. Hoàng Văn Mạnh
Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Bình đẳng giới là một nội dung quan trọng trong tư duy lý luận và đường lối, chính sách của Đảng nhằm phát huy tiềm năng của phụ nữ và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội. Qua các giai đoạn lịch sử, nhận thức của Đảng về bình đẳng giới không ngừng được bổ sung và phát triển, từ cách tiếp cận truyền thống nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng phụ nữ đến quan điểm toàn diện hơn gắn với bảo đảm quyền con người và mục tiêu phát triển bền vững. Bài viết phân tích quá trình vận động, phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bình đẳng giới trong các giai đoạn lịch sử và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới gắn với phát triển bền vững hiện nay.
Từ khóa: Bình đẳng giới; tư duy lý luận của Đảng; phát triển bền vững; chính sách xã hội.
Abstract: Gender equality is a crucial element in the theoretical thinking and policies of the Communist Party of Vietnam, aimed at unleashing women’s potential and promoting the comprehensive development of society. Throughout history, the Party’s understanding of gender equality has been continuously refined and developed, from a traditional approach emphasizing the task of women’s liberation to a more comprehensive perspective linked to ensuring human rights and sustainable development goals. Based on this, the article analyzes the evolution of the Party’s theoretical thinking on gender equality across historical periods and proposes several solutions to promote gender equality in conjunction with sustainable development today.
Keywords: ender equality; Party’s theoretical thinking; Sustainable development; Social policy.
1. Đặt vấn đề
Bình đẳng giới là một trong những giá trị cơ bản của xã hội tiến bộ, đồng thời là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới. Từ những quan điểm ban đầu về giải phóng phụ nữ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đến những chủ trương trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, nhận thức của Đảng về bình đẳng giới đã có sự phát triển đáng kể cả về nội dung và phương thức tiếp cận. Việc nghiên cứu sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn góp phần làm rõ cơ sở chính trị – tư tưởng cho việc xây dựng và thực thi các chính sách về giới trong giai đoạn hiện nay.
2. Quan điểm truyền thống của Đảng về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới là một bộ phận quan trọng trong mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Quan điểm này được hình thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề phụ nữ, đồng thời xuất phát từ thực tiễn lịch sử và điều kiện xã hội của Việt Nam.
Giải phóng phụ nữ gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Trong tư duy lý luận ban đầu của Đảng, giải phóng phụ nữ được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống áp bức dân tộc và bất công xã hội. Trong xã hội phong kiến và thuộc địa trước đây, phụ nữ không chỉ chịu sự bóc lột về kinh tế mà còn bị ràng buộc bởi nhiều định kiến xã hội và quan niệm bất bình đẳng giới. Vì vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt đã xác định: “Nam nữ bình quyền”1 là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam và của cách mạng tư sản dân quyền. Quan điểm này nhấn mạnh rằng phụ nữ không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ mà còn là lực lượng quan trọng tham gia vào sự nghiệp cách mạng.
Khẳng định vai trò và vị trí của phụ nữ trong cách mạng và xã hội. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất vào tháng 10-1930 đã chỉ rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được”2. Trong các phong trào đấu tranh cách mạng, phụ nữ Việt Nam đã tham gia tích cực vào hoạt động chính trị, sản xuất và hậu cần phục vụ chiến đấu. Đảng khẳng định rằng phụ nữ là lực lượng quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời nhấn mạnh cần tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực, trí tuệ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Quan điểm này đã góp phần thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của phụ nữ, từng bước xóa bỏ những định kiến truyền thống vốn hạn chế sự tham gia của phụ nữ trong đời sống xã hội.
Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh việc khẳng định vai trò của phụ nữ, Đảng còn chủ trương thực hiện các chính sách nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và được hiến định. Hiến pháp năm 1959, khẳng định: “nam, nữ bình đẳng về mọi mặt và đặt trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của phụ nữ lên Nhà nước”3. Sau khi đất nước giành được độc lập, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội, như quyền bầu cử và ứng cử, quyền lao động, quyền học tập và tham gia quản lý nhà nước. Những chính sách này đã góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và tạo nền tảng cho việc thực hiện bình đẳng giới trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Xây dựng tổ chức và phong trào phụ nữ để thúc đẩy bình đẳng giới. Một nội dung quan trọng trong quan điểm truyền thống của Đảng là việc phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng nhằm tập hợp và vận động phụ nữ tham gia vào các phong trào cách mạng. Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương tháng 8/1946, xác định: “Phải đào tạo cán bộ phụ nữ lớp trên để kéo họ; Mở những lớp huấn luyện riêng cho phụ nữ; Chú ý đời sống phụ nữ; Hình thức tổ chức cho thích hợp, không cần nêu hai chữ “cứu quốc”, như hội “áo chiến sĩ”, “xã tế”, v.v. giúp cho Đoàn phụ nữ Việt Nam phát triển”4. Các tổ chức phụ nữ được thành lập và phát triển nhằm đại diện cho quyền và lợi ích của phụ nữ, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới. Thông qua các phong trào thi đua và hoạt động xã hội, phụ nữ không chỉ nâng cao vị thế của mình mà còn đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước. Điều này cho thấy Đảng không chỉ quan tâm đến việc ban hành chủ trương, chính sách mà còn chú trọng xây dựng các cơ chế tổ chức để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong thực tiễn.
Quan điểm truyền thống của Đảng về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới đã đặt nền tảng quan trọng cho sự phát triển của tư duy lý luận về giới trong các giai đoạn sau. Những quan điểm này không chỉ góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội mà còn tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện các chính sách và chương trình hành động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
3. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về bình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới
Sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bình đẳng giới thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội. Từ việc nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế – xã hội đến việc tiếp cận bình đẳng giới như một yếu tố của phát triển bền vững, quan điểm của Đảng đã có sự bổ sung và phát triển phù hợp với bối cảnh mới.
Đại hội VI: bước đầu đổi mới nhận thức về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế – xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng về kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ cũng bắt đầu được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với yêu cầu phát triển. Đại hội nhấn mạnh: “Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp”5. Quan điểm này khẳng định phụ nữ là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng tích cực vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội và quản lý nhà nước. Mặc dù thuật ngữ “bình đẳng giới” chưa được sử dụng phổ biến trong các văn kiện thời kỳ này, nhưng tư duy về việc mở rộng cơ hội và điều kiện để phụ nữ tham gia bình đẳng vào đời sống kinh tế – xã hội đã bước đầu được hình thành.
Đại hội VII và VIII: khẳng định vai trò của phụ nữ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh đổi mới và phát triển, các kỳ Đại hội VII (1991) và VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục làm rõ quan điểm của Đảng về vị trí và vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển đất nước. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng khẳng định: “Thực hiện nam nữ bình đẳng, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ”6. Quan điểm này không chỉ nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ mà còn đặt cơ sở chính trị – xã hội cho việc bảo đảm quyền, lợi ích và vị thế của phụ nữ trong đời sống xã hội, qua đó tạo tiền đề để phụ nữ tham gia tích cực hơn vào quá trình phát triển đất nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục cụ thể hóa chủ trương phát huy vai trò của phụ nữ khi nhấn mạnh: “Nâng cao kiến thức văn hóa, nghề nghiệp cho phụ nữ; bồi dưỡng lực lượng cán bộ nữ”7. Nội dung này thể hiện bước phát triển trong tư duy của Đảng, từ việc khẳng định nguyên tắc bình đẳng sang chú trọng nâng cao năng lực và trình độ của phụ nữ, coi đây là điều kiện quan trọng để phụ nữ tham gia hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Như vậy, các quan điểm được nêu trong Đại hội VII và VIII đã từng bước gắn vấn đề bình đẳng nam – nữ với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều này cho thấy phụ nữ không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ cần được bảo vệ về quyền và nhân phẩm, mà còn được xác định là lực lượng quan trọng cần được đào tạo, bồi dưỡng để phát huy tiềm năng và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước.
Đại hội IX và X: từng bước hình thành cách tiếp cận bình đẳng giới trong chính sách phát triển. Vấn đề bình đẳng giới từng bước được đặt ra trong mối liên hệ với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng khẳng định: “thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành”8. Quan điểm này thể hiện sự chú trọng nâng cao vị thế của phụ nữ và mở rộng cơ hội để phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục nhấn mạnh: “nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”9. Nội dung này cho thấy nhận thức của Đảng về bình đẳng giới ngày càng rõ ràng hơn, gắn với yêu cầu bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, việc ban hành Luật Bình đẳng giới đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam, đánh dấu bước chuyển từ định hướng chính sách sang xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ.
Đại hội XI và XII: gắn bình đẳng giới với phát triển con người và tiến bộ xã hội. Vấn đề bình đẳng giới được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển con người và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước”10. Quan điểm này thể hiện sự chú trọng của Đảng trong việc nâng cao vị thế phụ nữ và phát huy vai trò của họ trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội.
Kế thừa và phát triển tinh thần đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội”11. Việc lặp lại và nhấn mạnh những nội dung này cho thấy bình đẳng giới được xem là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển con người. Qua đó, Đảng định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Những quan điểm trên phản ánh nhận thức ngày càng toàn diện của Đảng khi gắn bình đẳng giới với chiến lược phát triển nguồn nhân lực và mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội, qua đó khẳng định bình đẳng giới không chỉ là vấn đề riêng của phụ nữ mà còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Đại hội XIII: bình đẳng giới gắn với phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, nhấn mạnh: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”12. Quan điểm này cho thấy Đảng không chỉ chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, mà còn yêu cầu tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật để phòng ngừa và xử lý các hành vi xâm hại. Thông qua đó, bình đẳng giới được đặt trong mối liên hệ với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để mọi người phát huy năng lực và đóng góp cho sự phát triển đất nước. Cách tiếp cận này thể hiện bước phát triển trong tư duy của Đảng, khi vấn đề bình đẳng giới không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ chính sách xã hội mà còn gắn chặt với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
4. Bình đẳng giới trong cách tiếp cận phát triển bền vững
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn nhận vấn đề bình đẳng giới ngày càng toàn diện hơn khi đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu phát triển bền vững. Theo cách tiếp cận này, bình đẳng giới không chỉ được xem là mục tiêu xã hội nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, mà còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước. Việc bảo đảm cơ hội và điều kiện bình đẳng cho cả nam và nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng của nguồn lực con người, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình phát triển. Quan điểm này được khẳng định trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…; chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em, nhất là trẻ em gái, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn”13.
Thúc đẩy bình đẳng giới cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khi phụ nữ được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng với giáo dục, đào tạo, việc làm và các nguồn lực phát triển, họ có thể phát huy tốt hơn năng lực và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo và quản lý không chỉ giúp nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn góp phần đa dạng hóa góc nhìn trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách, từ đó nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thực hiện bình đẳng giới còn gắn với yêu cầu bảo đảm quyền con người và thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển. Đặc biệt, bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc, thể hiện rõ ở mục tiêu về trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái. Việc thúc đẩy bình đẳng giới vì vậy không chỉ góp phần xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ trong nước mà còn nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Như vậy, trong tư duy phát triển hiện nay, bình đẳng giới được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển bền vững. Cách tiếp cận này phản ánh sự phát triển trong nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam khi coi việc bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn có giá trị chiến lược đối với sự phát triển lâu dài của đất nước.
5. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới gắn với mục tiêu phát triển bền vững hiện nay
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về bình đẳng giới. Cần rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả Luật Bình đẳng giới và các chính sách liên quan đến phụ nữ. Đồng thời, tăng cường lồng ghép vấn đề giới trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ hai, nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức và xóa bỏ các định kiến giới còn tồn tại trong xã hội. Nội dung bình đẳng giới cần được tích hợp trong chương trình giáo dục, hoạt động truyền thông và các phong trào xã hội nhằm xây dựng môi trường văn hóa tôn trọng và bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ.
Thứ ba, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ. Tăng cường tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận giáo dục, đào tạo nghề, khoa học – công nghệ và các nguồn lực phát triển. Việc nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực quản lý của phụ nữ sẽ góp phần phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển đất nước.
Thứ tư, thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý. Cần có các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội. Đồng thời, chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực và đóng góp tích cực vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách.
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và thực hiện các cam kết về bình đẳng giới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới, đặc biệt là các mục tiêu trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Đồng thời, chủ động học hỏi kinh nghiệm quốc tế và huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả các chương trình thúc đẩy bình đẳng giới.
6. Kết luận
Sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bình đẳng giới phản ánh quá trình vận động và hoàn thiện nhận thức về vai trò của phụ nữ trong tiến trình phát triển đất nước. Từ cách tiếp cận ban đầu chủ yếu nhấn mạnh mục tiêu giải phóng phụ nữ và bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, tư duy của Đảng đã từng bước được mở rộng theo hướng toàn diện hơn, gắn chặt với chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực và mục tiêu phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát huy tối đa nguồn lực con người, việc thúc đẩy bình đẳng giới không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển quốc gia. Do đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, nâng cao nhận thức xã hội và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu rộng hơn vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội sẽ góp phần giải phóng và phát huy tiềm năng to lớn của nguồn lực nữ. Đây chính là một trong những nhân tố quan trọng tạo động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững và bao trùm của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 2, 190.
3. Quốc hội (1959). Hiến pháp năm 1959, Điều 24.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 111 – 112.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 114.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 436.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 125.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 126.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 120.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 243.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 163.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 169.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 110



