Islam and economic development among the cham community in An Giang
ThS. Bùi Thị Hường
Trường Đại học An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của Islam giáo trong đời sống kinh tế của cộng đồng người Chăm ở tỉnh An Giang và làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển hiện nay. Islam giáo không tồn tại tách rời đời sống xã hội mà thâm nhập vào các quan hệ kinh tế thông qua hệ giá trị đạo đức, niềm tin xã hội, tính cố kết cộng đồng và kỷ luật xã hội. Kinh tế của cộng đồng người Chăm đang vận động trong quá trình chuyển đổi, vừa chịu tác động của kinh tế thị trường, vừa gắn chặt với cấu trúc xã hội truyền thống. Việc nhận diện đúng vai trò của Islam giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng các giải pháp phát triển phù hợp cho cộng đồng người Chăm ở An Giang.
Từ khóa: Islam giáo; người Chăm; An Giang; đời sống kinh tế; cộng đồng dân tộc thiểu số.
Abstract: This article investigates the role of Islam in economic development among the Cham community in An Giang, Vietnam. Drawing on perspectives from socio-economic and cultural analysis, the study explores how Islamic values shape economic behavior, social organization, and community-based economic practices. The findings indicate that Islam functions as both a normative framework and a social institution that influences economic decision-making and collective action. At the same time, the Cham economy is undergoing a complex transformation under the pressures of market integration while remaining closely linked to traditional social structures. The paper argues that recognizing the embedded role of religion in economic life is essential for formulating culturally responsive and sustainable development policies for ethnic minority communities.
Keywords: Islam; Cham community; An Giang; economic development; ethnic minority.
1. Đặt vấn đề
Tỉnh An Giang hiện nay được sáp nhập từ tỉnh An Giang cũ và tỉnh Kiên Giang cũ, có diện tích 9.888,91 km2, dân số 4.952.238 người, trong đó: đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 472.132 người, chiếm tỷ lệ 9,53% dân số toàn tỉnh, gồm: đồng bào Kh’mer có 399.002 người, chiếm 8,06%; đồng bào Hoa có 46.515 người, chiếm 0,94%; đồng bào Chăm có 21.594 người, chiếm 0,43% và đồng bào các dân tộc thiểu số khác khoảng 5.021 người, chiếm 0,10%. Toàn tỉnh An Giang hiện có 102 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 85 xã, 14 phường và 3 đặc khu)1. Với đặc điểm địa bàn rộng, đa dạng về dân tộc và cũng rất đa dạng về tôn giáo, trong đó, có những dân tộc gắn liền với tôn giáo đặc trưng, điển hình là dân tộc Chăm gắn liền với Islam giáo. Hầu hết người Chăm ở An Giang đều theo tôn giáo Islam, ngược lại trong các dân tộc ở An Giang, Islam giáo chỉ có trong cộng đồng dân tộc Chăm.
Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam hiện nay, việc phát huy các nguồn lực văn hóa và tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm và chú trọng. Đối với cộng đồng người Chăm ở An Giang, Islam giáo không chỉ là một hệ thống tín ngưỡng mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều phương diện của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động kinh tế. Những chuẩn mực đạo đức, quy định sinh hoạt và tổ chức cộng đồng của Islam giáo đã góp phần định hình cách thức lao động, sản xuất và kinh doanh của người Chăm, đời sống kinh tế của cộng đồng Chăm ở An Giang cũng có nhiều chuyển biến.
2. Vai trò của Islam giáo trong đời sống kinh tế của cộng đồng người Chăm ở An Giang
Kinh tế của cộng đồng Chăm An Giang hiện nay không chỉ vận động trong bối cảnh kinh tế – xã hội chung mà còn vận động trong môi trường xã hội đã được định hình bởi tôn giáo Islam.
Thứ nhất, Islam tạo ra khuôn khổ đạo đức cho hoạt động kinh tế.
Đối với người Chăm ở An Giang, kinh tế trong cộng đồng không chỉ được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật mà còn được nuôi dưỡng từ giáo lý, từ sinh hoạt tôn giáo và từ sự giám sát của cộng đồng. Những phẩm chất như thật thà, giữ chữ tín, trọng danh dự, biết chia sẻ… của giáo lý Islam được xem là những giá trị sống thiết thân.
Giáo lý Islam giáo khuyên tín đồ phải coi trọng tính trung thực trong lao động, kinh doanh, buôn bán. Kinh Qur’an yêu cầu tín đồ Islam giáo phải “cân đúng, đo đủ”, không gian lận… Những giá trị ấy trở thành tiêu chuẩn xã hội, đi vào hoạt động sản xuất và kinh doanh. Từ đó, kinh tế ở đây không vận hành thuần theo logic của lợi nhuận mà còn vận hành trong logic của chuẩn mực, hành vi kinh tế bị đánh giá bằng cả hiệu quả vật chất lẫn giá trị đạo đức, tinh thần. Đây là điểm rất quan trọng, cho thấy Islam giáo góp phần hình thành một cơ chế điều chỉnh mềm trong đời sống kinh tế của cộng đồng.
Từ nền tảng đạo đức, Islam giáo tiếp tục giữ vai trò củng cố niềm tin xã hội trong các quan hệ kinh tế. Người Chăm ở An Giang sinh sống trong cộng đồng xã hội có tính gần gũi và gắn bó xoay quanh thánh đường. Trong cộng đồng đó, con người biết nhau, đánh giá nhau và kiểm chứng nhau không chỉ qua hoạt động kinh tế mà qua toàn bộ đời sống xã hội. Chính vì vậy, niềm tin tôn giáo không còn là yếu tố trừu tượng mà là kết quả của quá trình sống cùng nhau trong cùng một hệ chuẩn. Islam giáo góp phần duy trì hệ chuẩn đó, từ đó nâng đỡ niềm tin giữa các thành viên cộng đồng. Khi niềm tin xã hội được bảo đảm, giao dịch kinh tế trở nên thuận lợi hơn, các quan hệ hợp tác cũng dễ hình thành hơn. Uy tín cá nhân trong cộng đồng trở thành một loại vốn xã hội có giá trị thực. Đó là lý do vì sao trong nhiều hoạt động kinh tế của cộng đồng, nhất là buôn bán nhỏ và dịch vụ của người Chăm ở An Giang, chữ tín có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ quyết định một lần mua bán mà quyết định khả năng tồn tại lâu dài của chủ thể kinh tế trong cộng đồng.
Thứ hai, Islam giáo tạo ra tính cố kết cộng đồng, tác động đến hình thức tổ chức kinh tế của người Chăm ở An Giang.
Kinh tế của người Chăm An Giang nhìn chung chưa phát triển theo mô hình quy mô lớn và phân công chuyên biệt cao. Nhiều hoạt động sinh kế vẫn gắn với hộ gia đình, với nhóm thân tộc có quy mô nhỏ. Trong bối cảnh ấy, sự cố kết cộng đồng trở thành điều kiện để duy trì sản xuất và ổn định đời sống. Islam giáo tạo ra cố kết cộng đồng thông qua lễ nghi, sinh hoạt tập thể và sự gắn bó quanh các thiết chế tôn giáo là Ban quản trị thánh đường và Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo (Islam) tỉnh An Giang. Theo đó, các cá nhân không tồn tại rời rạc mà được đặt trong một chỉnh thể có trật tự, có liên đới và có trách nhiệm. Từ đó, trong cộng đồng có sự giúp đỡ lẫn nhau để phát triển kinh tế. Đây không phải là cơ chế thay thế cho thị trường nhưng trong điều kiện kinh tế cộng đồng, là nguồn lực thực tế, giúp giảm thiểu rủi ro và duy trì sức chịu đựng của kinh tế cộng đồng trước những biến động của các yếu tố thị trường hiện nay.
Islam giáo cũng tác động đến đời sống kinh tế thông qua việc định hình nếp sống và kỷ luật xã hội. Mọi cộng đồng muốn phát triển bền vững đều cần một mức độ kỷ luật nhất định trong hành vi của các thành viên. Kỷ luật ấy có thể được điều chỉnh từ bên ngoài bằng pháp luật nhưng cũng có thể được hình thành từ bên trong bằng niềm tin và thói quen.
Trong cộng đồng người Chăm ở An Giang, Islam giáo tạo ra một nhịp sống có tổ chức. Nhịp sống ấy gắn với thời gian sinh hoạt tôn giáo, với các nghĩa vụ cộng đồng và với những giới hạn đạo đức đã được thừa nhận. Khi con người quen sống trong khuôn khổ của những quy tắc ổn định, họ có xu hướng hành động chừng mực và biết tự điều chỉnh hơn trong lĩnh vực kinh tế. Kỷ luật xã hội vì thế không chỉ có ý nghĩa trong đời sống tinh thần mà còn là điều kiện cho lao động, cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và cho việc duy trì trật tự cộng đồng. Vai trò này rất đáng chú ý, giúp lý giải vì sao tôn giáo có thể trở thành một yếu tố hỗ trợ cho ổn định kinh tế ở cấp độ cộng đồng.
Tuy nhiên, Islam giáo không chỉ tạo ra đạo đức, niềm tin và cố kết xã hội mà đã tham gia vào quá trình biến kinh tế từ hoạt động mưu sinh thuần túy thành một bộ phận của lối sống cộng đồng. Khi đó, kinh tế không còn là việc riêng của từng cá nhân. Nó liên hệ với danh dự gia đình, với uy tín dòng họ, với vị thế của con người trong cộng đồng. Cách thức tổ chức kinh tế, cách ứng xử trong sản xuất, kinh doanh đều có thể trở thành đối tượng đánh giá xã hội. Chính điều này làm cho hoạt động kinh tế của người Chăm không tách khỏi đạo đức cộng đồng.
Trong điều kiện hiện nay, khi tỉnh An Giang đang đẩy mạnh phát triển kinh tế và tái cấu trúc các nguồn lực xã hội, vai trò của Islam giáo càng cần được nhận diện đúng. Một cộng đồng chỉ có thể phát triển bền vững nếu những động lực kinh tế được đặt trên nền xã hội phù hợp. Với người Chăm ở An Giang, Islam giáo đang là một bộ phận giữ vai trò định chuẩn hành vi, kết nối cá nhân với cộng đồng, chuyển hóa niềm tin thành vốn xã hội và chuyển hóa đạo đức thành sức điều tiết trong đời sống kinh tế. Vì thế, khi xem xét đời sống kinh tế của cộng đồng người Chăm, không thể coi Islam giáo là yếu tố bên lề mà là một thành tố đang tham gia vào việc định hình cách thức tổ chức lao động sản xuất, kinh doanh. Theo đó, Islam giáo đã trở thành một lực lượng xã hội thẩm thấu vào các quan hệ kinh tế, tạo nên diện mạo riêng của kinh tế cộng đồng Chăm ở An Giang trong bối cảnh hiện nay.
3. Phát huy vai trò của Islam giáo để phát triển kinh tế của cộng đồng người Chăm ở An Giang
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, đời sống kinh tế của người Chăm An Giang chịu sự tác động của nhiều yếu tố, như: các yếu tố thị trường, quá trình đô thị hóa, sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các vùng…và tất yếu có vai trò tác động, điều chỉnh của giáo lý, giáo luật Islam giáo. Theo đó, Islam giáo đã tác động, tạo cho người Chăm An Giang có tinh thần, ý thức lao động chăm chỉ, trung thực và có ý thức hợp tác trong phát triển kinh tế; có cách thức tổ chức lao động, sản xuất tích cực và khá hiệu quả.
Theo kết quả điều tra người Chăm ở An Giang, cho thấy: có 98,3% số người trả lời Islam giáo giúp cho mọi người cách làm ăn tốt, nâng cao đời sống2. Đời sống kinh tế của người Chăm có sự phát triển hơn so với mặt bằng chung của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở An Giang. Số liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang năm 2024 cũng cho thấy, số hộ nghèo trong người Chăm ít hơn nhiều so với số hộ nghèo là người Kh’mer. Cụ thể, tổng số hộ nghèo người dân tộc thiểu số của tỉnh An Giang (cũ) năm 2024 là 2.347 hộ; trong đó, số hộ nghèo người Kh’mer: 2.232 hộ, chiếm 95,1%; số hộ nghèo người Chăm: 115 hộ, chiếm 4,9%. Tổng số hộ cận nghèo người dân tộc thiểu số của tỉnh An Giang năm 2024 là 1.784 hộ; trong đó số hộ cận nghèo người Kh’mer: 1.586 hộ, chiếm 88,9%; số hộ cận nghèo người Chăm: 198 hộ, chiếm 11,1%3. Kết quả này thể hiện vai trò tích cực của Islam giáo đối với đời sống kinh tế của người Chăm ở An Giang.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy kinh tế của cộng đồng Chăm ở An Giang vẫn còn những vấn đề đặt ra cần được nhận diện để có cách tác động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cộng đồng.
Thứ nhất, kinh tế của cộng đồng người Chăm ở An Giang vẫn mang nhiều đặc điểm của kinh tế hộ gia đình với quy mô sản xuất nhỏ. Hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào lao động của các thành viên trong gia đình. Các lĩnh vực sinh kế phổ biến bao gồm buôn bán nhỏ, chăn nuôi, làm dịch vụ và một số nghề thủ công truyền thống.
Kết quả khảo sát người Chăm Islam giáo ở tỉnh An Giang, cho thấy, nghề buôn bán chiếm tỷ lệ cao nhất (44.4%), tiếp đến là nghề nội trợ và nghề làm thuê đều chiếm tỷ lệ 16.7%4. Kết quả khảo sát của tác giả trong 150 người Chăm ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang vào tháng 1/2026 cũng cho thấy, số người có nghề buôn bán là cao nhất (85/150 phiếu, chiếm tỷ lệ 56,6%)5.
Hình thức tổ chức sản xuất như vậy giúp cộng đồng duy trì được tính linh hoạt, thuận lợi trong thực hiện nghi lễ tôn giáo. Tuy nhiên, cũng đặt ra giới hạn nhất định đối với khả năng mở rộng quy mô và nâng cao năng suất. Khi hoạt động kinh tế chủ yếu diễn ra trong phạm vi hộ gia đình với quy mô nhỏ, khả năng tích lũy vốn và tiếp cận công nghệ mới thường gặp nhiều khó khăn. Điều này làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cộng đồng gặp khó khăn. Đây là điều cần chú ý trong việc đưa ra các giải pháp để mở rộng quy mô, gia tăng khả năng phát triển kinh tế của cộng đồng.
Thứ hai, hoạt động kinh tế gắn bó chặt chẽ với cộng đồng Islam giáo tạo nên những khó khăn nhất định khi tiếp cận và mở rộng thị trường ngoài phạm vi cộng đồng.
Kinh tế cộng đồng Chăm ở An Giang gắn bó chặt chẽ với mạng lưới quan hệ xã hội trong cộng đồng. Những quan hệ thân tộc, làng xóm và tôn giáo tạo thành nền tảng của nhiều hoạt động kinh tế. Trong môi trường đó, các cơ hội phát triển kinh tế, thông tin về việc làm, nguồn hàng hay thị trường tiêu thụ… thường lan truyền trong mạng lưới cộng đồng, thông qua vai trò điều tiết nhất định của Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo (Islam) tỉnh An Giang. Cơ chế này giúp nhiều hộ gia đình người Chăm tìm được sinh kế ổn định mà không cần dựa quá nhiều vào các thiết chế kinh tế chính thức. Tuy nhiên, khi kinh tế thị trường phát triển mạnh, mạng lưới quan hệ truyền thống đôi khi không đủ để bảo đảm khả năng cạnh tranh. Khi đó, những hoạt động kinh tế chỉ dựa trên quan hệ cộng đồng có thể gặp khó khăn trong sự cạnh tranh ở thị trường rộng lớn hơn.
Sự vận động của kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu mới đối với cộng đồng người Chăm. Khi các quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng ra ngoài phạm vi cộng đồng, mạng lưới cộng đồng truyền thống đôi khi không đủ để bảo đảm kết nối hoạt động kinh tế. Hoạt động sản xuất và kinh doanh cần đến vốn, công nghệ và kiến thức quản lý. Những yếu tố này đòi hỏi người Chăm cần mở rộng sự kết nối bên ngoài xã hội.
Theo kết quả khảo sát người Chăm tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang vào tháng 01/2026, có 133/150 (tỷ lệ 88,6%) người trả lời: cần hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế6. Vì vậy, một trong những vấn đề đặt ra là làm thế nào để cộng đồng người Chăm có thể tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế hiện đại, tiếp cận được nhiều nguồn lực để phát triển mà vẫn duy trì được những giá trị văn hóa và tôn giáo trong cộng đồng. Điều này đòi hỏi cần có hệ thống giải pháp để thúc đẩy người Chăm ở An Giang mở rộng quy mô, tăng cường các kênh thông tin giúp người Chăm thuận lợi hơn trong tiếp cận với các nguồn lực vốn tín dụng, thông tin thị trường hoặc các chương trình hỗ trợ sản xuất để nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh tế của cộng đồng.
Thứ ba, người Chăm ở An Giang có sự kết nối chặt chẽ với cộng đồng Islam giáo tại các nước láng giềng, như: Campuchia, Malaysia… cũng như giữ quan hệ với các tổ chức Islam giáo quốc tế. Mối liên kết này giúp người Chăm An Giang có cơ hội làm ăn, phát triển kinh tế, như: buôn bán các mặt hàng nhu yếu phẩm, vải dệt sang Campuchia… đồng thời, giúp họ thu hút được một số nguồn lực hỗ trợ từ nước ngoài, như: được tài trợ học bổng du học, được tài trợ xây dựng cầu đường, nhà ở, vốn từ thiện từ các quỹ Islam giáo…
Chẳng hạn, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất hằng năm tài trợ cho các thôn ấp Chăm ở 12 thánh đường và tiểu thánh đường tỉnh An Giang trên 1 tỷ đồng. Cộng đồng Chăm An Giang đã được tài trợ xây cầu dân sinh ở xã Châu Phong trị giá 25.000 USD; xây trạm xá trị giá 70.000 USD; mua xe cứu thương trị giá 32.000 USD; tài trợ xây 15 ngôi nhà đại đoàn kết (mỗi ngôi 25 triệu đồng); tài trợ 200 chiếc xe đạp cho học sinh Trường Trung học cơ sở Châu Phong; 300 bộ quần áo đồng phục cho học sinh trường mầm non…7. Tuy nhiên, việc dựa vào các mối quan hệ kinh tế – tôn giáo bên ngoài có thể giảm động lực vươn lên trong việc tự lực cánh sinh để phát triển kinh tế địa phương. Hơn nữa, các biến động chính trị, xã hội ở nước ngoài đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế của cộng đồng.
Thực tế đó đặt ra vấn đề đặt ra là làm sao tăng cường tính tự chủ và đa dạng hóa nền kinh tế trong cộng đồng người Chăm An Giang. Theo đó, cộng đồng người Chăm ở An Giang cần phát huy nội lực, xây dựng các mô hình kinh doanh bền vững ngay tại địa phương; đồng thời Nhà nước và chính quyền địa phương cũng cần có cách thức hỗ trợ kết nối người Chăm vào các chuỗi giá trị trong nước, tạo thị trường ổn định cho sản phẩm và dịch vụ của họ. Chỉ khi khả năng tự chủ kinh tế được nâng cao, kết hợp hợp tác kinh tế với bên ngoài, kinh tế của cộng đồng Chăm ở An Giang mới có thể phát triển bền vững.
4. Kết luận
Đời sống kinh tế của cộng đồng người Chăm ở An Giang được hình thành và vận động trong mối liên hệ chặt chẽ với cấu trúc xã hội và hệ giá trị văn hóa của cộng đồng. Trong cấu trúc đó, Islam giáo giữ vị trí quan trọng trong việc định hướng hành vi xã hội và tạo nên những chuẩn mực điều chỉnh hoạt động kinh tế. Các giá trị đạo đức gắn với tôn giáo góp phần hình thành môi trường xã hội dựa trên niềm tin, kỷ luật và tinh thần cộng đồng, từ đó tạo nền tảng cho sự ổn định của các quan hệ kinh tế trong cộng đồng người Chăm. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thị trường và quá trình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, kinh tế của cộng đồng người Chăm cũng đang đứng trước nhiều yêu cầu chuyển đổi và thích ứng. Việc nhận diện đúng vai trò của Islam giáo trong đời sống kinh tế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần định hướng các giải pháp phát triển phù hợp với điều kiện xã hội và văn hóa của cộng đồng người Chăm ở An Giang.
Chú thích:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2025). Báo cáo số 535/BC-UBND ngày 21/12/2025 về kết quả công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo năm 2025, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2026.
2, 4, 7. Lê Đức Hạnh (2023). Sống đạo Islam và ảnh hưởng trong văn hóa Chăm. H. NXB Khoa học xã hội, tr. 12, tr. 215, tr. 186 – 187.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2024). Báo cáo số 1444/BC-UBND ngày 27/12/2024 về kết quả thực hiện công tác dân tộc năm 2024 và nhiệm vụ năm 2025 của UBND tỉnh An Giang.
5, 6. Bùi Thị Hường (2026). Kết quả khảo sát trong người Chăm Islam giáo tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang. https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSewoUMordpK_EQZ88-X-lR_4zMswSfDhPFdvhA63FsngEwBdQ/viewform?
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2024). Báo cáo số số 98/BC-BCĐ ngày 31/12/2024 tại Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh An Giang lần thứ IV năm 2024 của UBND tỉnh An Giang.
2. Trần Thị Phương Anh (2021). Một số đặc điểm của người Chăm ở Việt Nam hiện nay qua kết quả điều tra thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, số 4 (72), 2021.



