Training public administration personnel in the context of digital transformation: a developmental political science approach
TS. Nguyễn Thị Thành
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Từ tiếp cận chính trị học phát triển, bài viết phân tích đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, vai trò của chính trị học phát triển đối với đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước, đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà là vấn đề chiến lược gắn với năng lực nhà nước và phát triển bền vững. Từ thực trạng đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất hàm ý đối với đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước nhằm phát triển năng lực nhà nước gắn với mục tiêu phát triển bền vững số 16 của Liên Hợp quốc (SDG 16), bảo đảm nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và lợi ích công dân.
Từ khóa: Chính trị học phát triển; chuyển đổi số; nguồn nhân lực quản lý nhà nước; quản trị số.
Abstract: From the perspective of development political science, this article analyzes the training of public administration personnel in Vietnam in the context of digital transformation. By clarifying the concepts and the role of development political science in the training of public administration personnel, the article asserts that this is not merely a professional requirement but a strategic issue linked to state capacity and sustainable development. Based on the current state of public administration human resource development in Vietnam within the context of digital transformation, this paper proposes implications for public administration human resource development aimed at enhancing state capacity in alignment with the United Nations’ Sustainable Development Goal 16 (SDG 16), ensuring improved national governance effectiveness and the interests of citizens.
Keywords: Developmental political science; digital transformation; public administration human resources; digital governance.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, quản lý nhà nước đứng trước yêu cầu phải đổi mới toàn diện cả về phương thức vận hành, cơ chế điều hành và chất lượng nguồn nhân lực. Ở Việt Nam, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng công nghệ mà còn là định hướng chiến lược nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ người dân tốt hơn. Tuy nhiên, để quá trình này thực sự đi vào chiều sâu, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở hạ tầng kỹ thuật hay nền tảng dữ liệu, mà trước hết là ở chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp tham gia quản lý nhà nước.
Đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam được tiếp cận theo các tầng năng lực nhà nước về thể chế, nghề nghiệp và học thuật. Cụ thể là xem xét trên các khía cạnh: chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, bồi dưỡng nhân lực quản lý nhà nước trong quá trình thực thi công vụ, đào tạo nguồn nhân lực này tại các cơ sở giáo dục. Kết quả việc đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước đã có những điều chỉnh bước đầu, song vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu của nền quản trị số. Trong bối cảnh đó, tiếp cận chính trị học phát triển cho phép tìm hiểu, đánh giá đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước không chỉ như một hoạt động nghiệp vụ, mà như một bộ phận của chiến lược nâng cao năng lực nhà nước và chất lượng phát triển quốc gia.
2. Chính trị học phát triển – cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số
2.1. Một số khái niệm
Chính trị học phát triểnlà một khoa học của khoa học chính trị, nghiên cứu sự tương tác của chính trị với các yếu tố khác của đời sống xã hội, hướng xã hội tới sự phát triển bền vững, đưa xã hội vận động và phát triển theo quy luật của nó1. Khác biệt với cách tiếp cận truyền thống chỉ tập trung vào phân tích các hoạt động của bộ máy nhà nước, các đảng phái hay các thiết chế quyền lực, chính trị học phát triển mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm lý giải vai trò, tác động và sự tương tác giữa chính trị với kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và con người. Theo cách tiếp cận này, phát triển không chỉ được hiểu là tăng trưởng kinh tế mà còn bao hàm chất lượng thể chế, năng lực quản trị, công bằng xã hội và khả năng thích ứng của hệ thống chính trị. Vì vậy, nghiên cứu đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước từ góc nhìn này cho phép xem đội ngũ quản lý không chỉ là lực lượng thực thi công vụ mà còn là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển quốc gia.
Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Trong đó công nghệ số là: trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và chuỗi khối (Cloud Computing)2. Trong khu vực công, chuyển đổi số gắn với xây dựng chính phủ số, quản trị số, dịch vụ công trực tuyến, điều hành dựa trên dữ liệu và nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình. Do đó, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu mới đối với bộ máy nhà nước, đặc biệt là chất lượng và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực quản lý nhà nước.
Đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước là quá trình có mục tiêu và tổ chức nhằm trang bị, cập nhật và phát triển kiến thức, kỹ năng, mức tự chủ và chịu trách nhiệm thực thi công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong bối cảnh chuyển đổi số, đào tạo không thể chỉ dừng ở kiến thức hành chính hay pháp luật, mà phải hướng tới phát triển đạo đức số, năng lực số, năng lực phân tích chính sách, sử dụng dữ liệu, giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng chủ động, linh hoạt với môi trường quản trị hiện đại.
Từ tiếp cận chính trị học phát triển, đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà cần được nhìn nhận như một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia, tác động trực tiếp đến năng lực nhà nước trong việc lựa chọn mô hình phát triển, hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển, hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững trong thời đại số.
2.2. Vai trò của chính trị học phát triển đối với đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số
Tiếp cận chính trị học phát triển có vai trò quan trọng trong việc định hình mục tiêu, nội dung và phương thức đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số. Giá trị của cách tiếp cận này nằm ở chỗ giúp vượt qua cách nhìn thuần túy hành chính hay kỹ thuật đối với hoạt động đào tạo, để đặt vấn đề trong mối liên hệ rộng hơn giữa nhà nước, thể chế và phát triển bền vững.
Trước hết, chính trị học phát triển giúp định hình lại vai trò của nhà nước trong quá trình phát triển, từ đó định hướng lại mục tiêu đào tạo. Theo hướng tiếp cận này, nhà nước không chỉ là thiết chế duy trì trật tự hay thực thi pháp luật, mà còn là chủ thể kiến tạo phát triển, điều phối lợi ích và tổ chức các nguồn lực xã hội. Điều đó cho thấy, nhân lực quản lý nhà nước cần được đào tạo, bồi dưỡng để hiểu bối cảnh phát triển, nhận diện vấn đề công và tham gia xây dựng giải pháp quản trị phù hợp.
Tiếp cận chính trị học phát triển định hướng nội dung đào tạo theo tinh thần phát triển bao trùm và bền vững, chú trọng trách nhiệm giải trình, minh bạch và nguyên tắc phục vụ nhân dân. Do vậy, quá trình đào tạo cần gắn với yêu cầu nâng cao năng lực nhà nước và chất lượng quản trị công.
Từ góc nhìn chính trị học phát triển, phẩm chất của nguồn nhân lực quản lý nhà nước được mở rộng theo hướng kết hợp giữa bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, tư duy phát triển và năng lực thích ứng, tạo nền tảng con người cho một nền quản trị hiện đại, hiệu quả và vì sự phát triển bền vững.
Chính trị học phát triển góp phần mở rộng nội hàm năng lực của nguồn nhân lực quản lý nhà nước. Nếu cách tiếp cận truyền thống thường nhấn mạnh kiến thức hành chính, pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ, thì cách tiếp cận phát triển đòi hỏi cao hơn ở năng lực phân tích thể chế, điều phối liên ngành, nhận diện và xử lý xung đột lợi ích, dự báo và thích ứng với thay đổi. Những năng lực này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh số các vấn đề công ngày càng phức hợp, liên thông và không thể giải quyết bằng tư duy hành chính đơn tuyến.
3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số
3.1. Chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước và yêu cầu mới đối với nhân lực quản lý nhà nước
Hiện nay, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước ở Việt Nam đã có bước phát triển rõ nét, trở thành một nội dung trọng tâm trong tiến trình cải cách hành chính và hiện đại hóa nền công vụ. Đây là sự thay đổi không chỉ về công cụ kỹ thuật mà còn về phương thức tổ chức, điều hành và cung ứng dịch vụ công.
Thể chế và chính sách về chuyển đổi số định hình, từng bước hoàn thiện với các văn bản, như: Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Luật Chuyển đổi số năm 2025 và các chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ, bộ, ngành, địa phương đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho quá trình số hóa toàn diện. Nhiều nền tảng số quốc gia đã đi vào vận hành, từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng Dịch vụ công quốc gia đến hạ tầng định danh và xác thực điện tử, tạo nền tảng cho người dân và doanh nghiệp tham gia giao dịch điện tử an toàn, thuận tiện.
Theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 (EGDI) của Liên Hợp quốc, Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam năm 2024 tăng 15 bậc, xếp hạng 71/193. Trong bảng Chỉ số tham gia điện tử (EPI) năm 2024, Việt Nam đạt 0.6027, xếp thứ 72 trên thế giới, cao hơn mức trung bình của thế giới (gần 0.5). Điều này cho thấy sự nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành trong việc tăng cường sự tham gia của người dân vào các dịch vụ công trực tuyến3.
Về quản trị điều hành trên môi trường số: trong tháng 8/2025, hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ đã phục vụ 2 phiên họp, xử lý 88 Phiếu lấy kiến thành viên Chính phủ, thay thế khoảng 11.757 hồ sơ, tài liệu giấy. Lũy kế đến nay, hệ thống đã phục vụ 130 hội nghị, phiên họp của Chính phủ và thực hiện xử lý 3.444 phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ, thay thế khoảng 1.117.852 hồ sơ, tài liệu giấy. Có 73 bộ, ngành, địa phương đã báo cáo chỉ số chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu theo quy định tại Quyết định số 1012/QĐ-TTg; 40 bộ, ngành, địa phương đã ban hành bộ chỉ số chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu; 67 bộ, ngành, địa phương đã xây dựng hệ thống báo cáo và kết nối với hệ thống của Văn phòng Chính phủ”4.
Nhìn chung, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước ở Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực và tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới quản trị công. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đang trong giai đoạn chuyển tiếp, còn đối mặt với những rào cản về hạ tầng, dữ liệu, thể chế và đặc biệt là con người. Điểm nghẽn là một bộ phận cán bộ, công chức chưa thành thạo kỹ năng số, chưa quen với phương thức làm việc trên nền tảng điện tử và chưa có tư duy khai thác dữ liệu trong thực thi công vụ. Điều này làm hiệu quả đầu tư cho hạ tầng và nền tảng số chưa được phát huy đầy đủ. Chính thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước theo hướng thích ứng với môi trường quản trị số.
3.2. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong quá trình thực thi công vụ
Để đáp ứng được với quá trình chuyển đổi số quốc gia, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam đã có chuyển động theo yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số. Ở khu vực công vụ, hoạt động bồi dưỡng được triển khai theo hệ thống chương trình tiêu chuẩn, chương trình theo ngạch, theo chức danh và các lớp cập nhật kiến thức chuyên đề. “Năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 60 khóa học về chuyển đổi số trên nền tảng MOOCS cho 305 nghìn lượt người là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước; tổ chức 20 khóa phổ cập kỹ năng số với 23 triệu lượt người truy cập học; 2 khóa tập huấn cho các thành viên tổ CNS cộng đồng. Công tác tập huấn ở các bộ, ngành, địa phương diễn ra rất tích cực với sự hỗ trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông, có 140 nghìn cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã tập huấn về công tác chuyển đổi số”5. Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ vẫn chủ yếu mang tính bổ sung, cập nhật theo chuyên đề, chưa thật sự tái cấu trúc theo chuẩn năng lực quản trị số.
Tuy nhiên, sự phát triển của hạ tầng số và học liệu số trong giáo dục không đồng nghĩa với đổi mới thực chất về chất lượng đào tạo nhân lực quản lý nhà nước. Không ít chương trình vẫn được xây dựng theo logic môn học tách rời, nặng về truyền thụ kiến thức hơn là phát triển năng lực hành động trong môi trường quản trị số. Một số cơ sở đã ứng dụng LMS, bài giảng số và học liệu điện tử, nhưng việc tổ chức học tập theo tình huống quản trị, mô phỏng quy trình điện tử, phân tích dữ liệu thực tiễn hay huấn luyện năng lực phối hợp liên ngành vẫn còn hạn chế.
Nhìn chung, thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam đã bước đầu thích ứng với chuyển đổi số, nhưng mức độ thích ứng còn chưa tương xứng với tốc độ thay đổi của môi trường quản trị công. Trong khu vực công vụ, bồi dưỡng đã có xu hướng cập nhật nội dung số nhưng còn phân tán, ngắn hạn và thiếu chuẩn đầu ra theo năng lực. Trong các cơ sở giáo dục, hạ tầng dữ liệu và quản trị số đã có bước tiến, song việc tái cấu trúc chương trình, phương pháp và mô hình đào tạo nhân lực quản lý nhà nước theo logic của chính trị học phát triển và quản trị số vẫn là nhiệm vụ đang đặt ra cấp thiết.
3.3. Vấn đề đặt ra
Từ thực trạng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy, công tác đào tạo ở Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề mới có tính hệ thống. Những vấn đề này không chỉ xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp, kỹ thuật đào tạo, mà sâu xa hơn là từ sự thay đổi bản chất của môi trường quản trị nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Trước hết là việc hoàn thiện chuẩn phẩm chất, năng lực của nguồn nhân lực quản lý nhà nước; nội dung đào tạo cần được tái cấu trúc theo hướng gắn với quản trị số; phương pháp đào tạo và đánh giá đang đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ; đội ngũ giảng viên và năng lực của cơ sở đào tạo cần được bổ sung tri thức mới về quản trị số, kỹ năng sư phạm hiện đại và khả năng kết nối lý luận với thực tiễn. Đồng thời, cơ sở đào tạo phải có hạ tầng số, học liệu số và mô hình quản trị đào tạo linh hoạt, đáp ứng yêu cầu học tập liên tục; gắn đào tạo với sử dụng và phát triển nhân lực trong khu vực công.
4. Hàm ý đối với đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước ở Việt Nam từ tiếp cận chính trị học phát triển
Thứ nhất, đổi mới tư duy và quan điểm đào tạo.
Từ góc độ chính trị học phát triển, nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật và bộ máy hành chính, mà còn giữ vai trò kiến tạo phát triển, điều phối lợi ích, phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Do đó, quan điểm đào tạo cần chuyển từ đào tạo để người lao động hoàn thành công việc sang đào tạo giúp họ hình thành phẩm chất, đạo đức công vụ năng lực thích ứng và năng lực kiến tạo phát triển. Bởi nếu mục tiêu đào tạo chỉ là giúp công chức, viên chức thực hiện đúng quy định, quy trình sẵn có, đào tạo sẽ dễ rơi vào thụ động, lối mòn kỹ thuật, ngắn hạn và thiếu đổi mới. Ngược lại, khi hướng tới phát triển năng lực thích ứng, đội ngũ quản lý nhà nước sẽ có khả năng học hỏi, điều chỉnh và xử lý các vấn đề công mới nảy sinh trong bối cảnh số hóa, toàn cầu hóa và biến động xã hội. Mặt khác, quan điểm đào tạo nên xác lập lại mối quan hệ giữa công nghệ và con người trong quá trình chuyển đổi số. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được vận hành bởi đội ngũ có tư duy số, có năng lực khai thác dữ liệu và có ý thức phục vụ lợi ích công. Như vậy, đào tạo không thể chỉ dừng ở việc bổ sung kỹ năng số, mà phải hướng tới tái cấu trúc năng lực quản trị của đội ngũ quản lý nhà nước trong môi trường mới.
Bên cạnh đó, đổi mới tư duy đào tạo đòi hỏi chuyển từ tiếp cận hành chính thuần túy sang tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững. Đào tạo cần chú trọng đồng thời năng lực chuyên môn, phẩm chất công vụ và trách nhiệm phát triển. Đồng thời, phải xem đào tạo là quá trình học tập liên tục gắn với nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người lao động để thực hiện 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc thông qua Chương trình nghị sự 21 và cam kết của Chính phủ Việt Nam về phát triển bền vững. Như vậy, hàm ý cốt lõi là phải tái định vị đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước như một phương thức nâng cao năng lực phát triển của nhà nước. Đây là tiền đề để đổi mới mục tiêu, nội dung và phương thức đào tạo trong giai đoạn mới.
Thứ hai, tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực quản trị số.
Mục tiêu đào tạo cần chuyển từ trọng tâm truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thực thi công vụ trong môi trường số. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là giúp người học nắm được quan điểm chính trị, hệ thống pháp luật, quy trình hành chính và kỹ năng xử lý công việc theo chức trách, thì hiện nay đội ngũ quản lý nhà nước không chỉ cần làm đúng mà còn phải làm hiệu quả, minh bạch, và thích ứng linh hoạt trước sự thay đổi nhanh của môi trường số. Vì vậy, mục tiêu đào tạo cần hướng tới hình thành ở người học năng lực phân tích chính sách, sử dụng dữ liệu, phối hợp liên ngành, ra quyết định trong điều kiện bất định và tổ chức hướng dẫn công dân thực thi chính sách trong cả điều kiện thực tiễn và trên nền tảng số.
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cần được xây dựng, hoàn thiện theo hướng tích hợp giữa năng lực hành chính truyền thống với năng lực số và năng lực phát triển. Năng lực hành chính vẫn giữ vai trò nền tảng, bao gồm hiểu biết chính trị, pháp luật, quy trình, trách nhiệm công vụ và khả năng thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền. Tuy nhiên, trong bối cảnh số, những năng lực này phải được bổ sung bởi khả năng làm việc với dữ liệu, sử dụng nền tảng điện tử, bảo đảm an toàn thông tin, tương tác với người dân qua môi trường số và xử lý các tình huống quản trị có tính liên thông, liên ngành.
Nội dung chương trình đào tạo cần được cấu trúc theo hướng vừa giữ vững nền tảng lý luận của quản lý nhà nước, vừa tích hợp các thành tố mới của quản trị số. Nội dung có thể gồm ba lớp: tri thức nền tảng về nhà nước, thể chế, quản lý công và đạo đức công vụ. Ngoài ra, chú trọng phân tầng chuẩn đầu ra theo vị trí việc làm và cấp độ trách nhiệm. Đội ngũ quản lý cần được chú trọng về tư duy chiến lược, năng lực ra quyết định và dẫn dắt chuyển đổi; trong khi chuyên viên cần nhấn mạnh kỹ năng vận hành hệ thống số, xử lý quy trình điện tử, phân tích dữ liệu và tương tác với người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, thiết kế nội dung đào tạo cần dựa trên logic vấn đề thực tiễn thay vì logic môn học khép kín, để người học hình thành năng lực vận dụng và giải quyết tình huống.
Thứ ba, phương thức và mô hình đào tạo đổi mới theo hướng linh hoạt, liên ngành và gắn với thực tiễn quản trị công.
Mô hình đào tạo chuyển đổi từ truyền thống, mang tính hành chính sang mô hình học tập linh hoạt và liên tục. Trong điều kiện công nghệ và yêu cầu công vụ thay đổi nhanh, tri thức không thể được trang bị một lần rồi sử dụng ổn định trong thời gian dài. Vì vậy, hoạt động đào tạo cần được tổ chức theo mô-đun, cập nhật thường xuyên và gắn với nhu cầu cụ thể của vị trí việc làm. Cách tiếp cận này giúp người học tiếp cận nội dung thiết thực, giảm tính hình thức và tăng khả năng vận dụng vào thực tiễn công vụ.
Phương pháp đào tạo phải chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển năng lực hành động. Điều này đòi hỏi tăng cường các phương pháp như nghiên cứu tình huống, mô phỏng xử lý quy trình điện tử, học theo dự án, thảo luận chính sách, phân tích dữ liệu thực tiễn và giải quyết vấn đề liên ngành. Những phương pháp đó phù hợp với đặc thù của quản lý nhà nước hiện đại khi cán bộ, công chức thường xuyên đối diện với các vấn đề phức hợp, cần phối hợp nhiều chủ thể và ra quyết định trong điều kiện thông tin biến động nhanh. Khi người học được đặt vào các tình huống quản trị cụ thể, quá trình đào tạo sẽ gắn chặt hơn với thực tiễn.
Hoạt động đào tạo cần được tổ chức theo hướng liên ngành. Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước là sự giao thoa giữa khoa học chính trị, hành chính học, luật học, quản trị công, khoa học dữ liệu và công nghệ thông tin. Vì vậy, mô hình đào tạo liên ngành không chỉ mở rộng nền tảng tri thức mà còn hình thành năng lực phối hợp, rất cần thiết trong bối cảnh các chính sách công ngày càng đòi hỏi sự kết nối giữa nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều chủ thể.
Điều quan trọng là cần tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo với cơ quan sử dụng nhân lực, đồng thời đổi mới đánh giá theo hướng đo lường năng lực vận dụng và hiệu quả thực thi công vụ sau đào tạo. Do vậy, đổi mới phương thức và mô hình tổ chức đào tạo là điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu phát triển năng lực quản trị số, qua đó giúp đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trở thành động lực của chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính.
Thứ tư, hoàn thiện các điều kiện bảo đảm cho đổi mới đào tạo.
(1) Về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng chuyển mạnh từ quản lý đào tạo theo thủ tục sang quản trị chất lượng theo chuẩn năng lực và vị trí việc làm. Thực tiễn cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam đã có cơ sở pháp lý tương đối rõ, nhưng yêu cầu mới của chuyển đổi số đòi hỏi thể chế phải cụ thể hơn ở các nội dung như chuẩn năng lực số, chuẩn đầu ra theo từng nhóm chức danh, cơ chế công nhận kết quả học tập tích lũy, đánh giá sau đào tạo và liên thông dữ liệu giữa cơ quan sử dụng nhân lực với cơ sở đào tạo.
Hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các học viện, trường đại học và các cơ quan sử dụng công chức trong xây dựng chương trình, chuẩn hóa học liệu và xác lập nhu cầu đào tạo theo vị trí việc làm. Chỉ khi nhu cầu của nền công vụ được phản ánh trực tiếp vào chương trình đào tạo thì đào tạo mới thực sự tạo ra năng lực cho bộ máy nhà nước, thay vì chỉ tạo ra bằng cấp hay chứng chỉ. Thể chế cũng cần tạo dư địa cho mô hình học tập linh hoạt, mô-đun, học trực tuyến kết hợp trực tiếp, học theo tín chỉ bồi dưỡng ngắn hạn, từ đó thúc đẩy học tập suốt đời trong khu vực công.
(2) Về đội ngũ giảng viên, đây là điều kiện then chốt quyết định chất lượng đổi mới. Trong đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước, giảng viên không chỉ truyền đạt tri thức lý luận mà còn phải là chủ thể kiến tạo năng lực hành động cho người học. Do đó, yêu cầu hiện nay không chỉ là giảng viên am hiểu hành chính học, chính trị học, pháp luật hay quản trị công, mà còn phải có năng lực liên ngành, năng lực số và khả năng gắn giảng dạy với thực tiễn điều hành công vụ. Vì vậy, cần triển khai chính sách phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng kép. Một mặt, bồi dưỡng lại đội ngũ hiện có về kỹ năng số, thiết kế học liệu số, phương pháp dạy học tích cực, giảng dạy trên LMS, khai thác dữ liệu phục vụ nghiên cứu và hướng dẫn người học giải quyết tình huống quản trị. Mặt khác, cần mở rộng cơ chế mời giảng viên kiêm nhiệm, chuyên gia thực tiễn từ cơ quan nhà nước, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia an toàn thông tin, chuyên gia chính sách công tham gia giảng dạy.
(3) Về hệ sinh thái học tập số, đây là điều kiện vật chất và công nghệ không thể thiếu cho đổi mới đào tạo. Trong bối cảnh chuyển đổi số, học tập không còn diễn ra chủ yếu trong lớp học vật lý, mà ngày càng gắn với nền tảng số, học liệu số, cơ sở dữ liệu mở, mô phỏng nghiệp vụ và môi trường học tập cá thể hóa. Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt về hạ tầng dữ liệu giáo dục. Tuy vậy, hệ sinh thái học tập số cho đào tạo nhân lực quản lý nhà nước cần được phát triển theo hướng chuyên biệt hơn. Không chỉ cần hệ thống LMS hay thư viện số thông thường, mà cần có ngân hàng tình huống quản trị công, kho dữ liệu mô phỏng xử lý thủ tục hành chính, bộ học liệu về chính phủ số, dữ liệu công, an ninh mạng, đạo đức số, quản trị đổi mới sáng tạo và phân tích chính sách dựa trên bằng chứng. Đồng thời, cần phát triển cơ chế kết nối giữa hệ thống học tập của cơ sở đào tạo với dữ liệu thực tiễn từ cơ quan nhà nước ở mức phù hợp, an toàn và đúng pháp luật, để người học có cơ hội tiếp cận những bài toán quản trị thật thay vì chỉ học qua ví dụ giả định.
Hệ sinh thái học tập số cũng phải bảo đảm tính bao trùm và khả năng tiếp cận. Không phải mọi cơ sở đào tạo, mọi địa phương hay mọi nhóm công chức đều có điều kiện như nhau về hạ tầng số, thiết bị và kỹ năng học tập trực tuyến. Vì vậy, đầu tư hạ tầng phải đi liền với hỗ trợ sử dụng, chuẩn hóa nền tảng, hỗ trợ kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin và thiết kế học liệu thân thiện.
5. Kết luận
Từ tiếp cận chính trị học phát triển, có thể khẳng định, chất lượng đội ngũ quản lý nhà nước không chỉ quyết định hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến khả năng kiến tạo phát triển, điều phối lợi ích xã hội và thích ứng thể chế trong điều kiện mới. Thực tiễn chuyển đổi số đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước, từ phương thức điều hành, cung ứng dịch vụ công đến chuẩn năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, đổi mới đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước cần được thực hiện theo hướng toàn diện, từ đổi mới tư duy, tái cấu trúc chương trình, chuẩn đầu ra đến hoàn thiện phương thức tổ chức và các điều kiện bảo đảm. Trọng tâm của quá trình này là chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực quản trị số, từ tiếp cận hành chính sang tiếp cận phát triển. Bởi, việc đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số chính là đầu tư cho năng lực phát triển bền vững của nhà nước Việt Nam.
Chú thích:
1. Võ Thị Hoa (chủ biên) (2019). Giáo trình Chính trị học phát triển. H. NXB Lý luận chính trị, tr.20.
2. Vasudha Chotray and Gerry Stoker (2009). Governance Theory and Practice: A Cross-Disciplinary Approach, Palgrave Macmillan.
3. Việt Nam tăng 15 bậc trong bảng xếp hạng Chính phủ điện tử toàn cầu năm 2024. https://mst.gov.vn/viet-nam-tang-15-bac-trong-bang-xep-hang-chinh-phu-dien-tu-toan-cau-nam-2024-197240918233011444.htm, ngày 18/09/2024.
4. Kết quả chuyển đổi số quốc gia tháng 8/2025. http://caicachhanhchinh.gov.vn/tin-tuc/ket-qua-chuyen-doi-so-quoc-gia-thang-82025.
5. Phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam – Những cơ hội và thách thức. https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-nguon-nhan-luc-so-trong-tien-trinh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-359223.htm.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71- NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và Đào tạo.
3. Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
4. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
5. OECD (2020). The OECD digital government policy framework: Six dimensions of a digital government. OECD Public Governance Policy Papers No. 2, OECD Publishing.
6. OECD (2021). The e-leaders handbook on the governance of digital government. OECD Publishing.
7. United Nations (2024). United Nations e-government survey 2024: Accelerating digital transformation for sustainable development. United Nations Department of Economic and Social Affairs.



