Hiệu suất ESG, nhận thức của nhà quản lý và chuyển đổi số trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ: đề xuất khung lý thuyết tích hợp TOE-IE-ESG

ESG performance, managerial perceptions, and digital transformation in small and medium-sized enterprises: proposing an integrated TOE-IE-ESG theoretical framework

TS. Phạm Việt Thắng
Trường Kinh tế Phenikaa – Đại học Phenikaa

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đã nổi lên như một mệnh lệnh chiến lược đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tuy nhiên, các cơ chế liên kết giữa quản trị bền vững và phát triển năng lực số vẫn chưa được khám phá đầy đủ. Bài viết tích hợp ba dòng nghiên cứu – mô hình công nghệ – tổ chức – môi trường mở rộng (TOE-IE), lý thuyết nhận thức nguồn lực của nhà quản lý và nghiên cứu về đổi mới sáng tạo ESG để phát triển một khung lý thuyết mới: mô hình TOE-IE-ESG. Bài viết cho thấy, hiệu suất ESG đóng vai trò như một cơ chế điều tiết môi trường phi chính thức, thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua 2 kênh riêng biệt: hiệu ứng giám sát (giảm bớt các ràng buộc tài chính) và hiệu ứng khuyến khích (nâng cao nhận thức về số hóa).

Từ khóa: Chuyển đổi số; xếp hạng ESG; sự thiển cận của nhà quản lý; khung lý thuyết TOE-IE; doanh nghiệp vừa và nhỏ; nhận thức quản lý; số hóa thực chất; lý thuyết tầng lớp lãnh đạo cấp cao.

Abstract: Digital transformation has emerged as a strategic imperative for small and medium-sized enterprises; however, the mechanisms linking sustainable governance and digital capability development have not yet been fully explored. This paper integrates three lines of research- the Technology-Organization-Environment-Extended (TOE-IE) model, the theory of managerial resource perception, and research on ESG innovation- to develop a new theoretical framework: the TOE-IE-ESG model. The paper demonstrates that ESG performance acts as an informal environmental regulatory mechanism, driving digital transformation in small and medium-sized enterprises through two distinct channels: the monitoring effect (reducing financial constraints) and the incentive effect (raising awareness of digitalization).

Keywords: Digital transformation; ESG ratings; managerial myopia; TOE-IE theoretical framework; small and medium-sized enterprises; managerial awareness; substantive digitalization; top-level leadership theory.

1. Đặt vấn đề

Sự hội tụ giữa các yêu cầu về tính bền vững và sự gián đoạn kỹ thuật số mang lại cả cơ hội lẫn thách thức cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chuyển đổi số – sự tích hợp sâu sắc các công nghệ kỹ thuật số vào mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, thay đổi căn bản cách thức doanh nghiệp tạo ra và phân phối giá trị – đã trở thành yếu tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh và sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp vừa và nhỏ (Ramos – Vecino và cộng sự, 2026; Ben Slimane và cộng sự, 2022). Đồng thời, việc thể chế hóa toàn cầu các khung ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) đã tạo ra các hình thức áp lực điều tiết phi chính thức mới, ngày càng định hình các quyết định chiến lược của doanh nghiệp, bao gồm cả các quyết định về đầu tư công nghệ (Guo và cộng sự, 2026; Zhang và cộng sự, 2024).

Mặc dù ngày càng có sự công nhận rằng cả ESG và chuyển đổi số đều là những trụ cột của chiến lược doanh nghiệp bền vững, mối quan hệ giữa hai yếu tố này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong bối cảnh doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các học giả về số hóa đã tập trung vào các tiền tố về tổ chức, công nghệ và môi trường của việc áp dụng công nghệ bằng cách sử dụng khung TOE (Ramos-Vecino và cộng sự, 2026; Chauhan và cộng sự, 2024), trong khi các học giả về ESG đã kiểm tra cách hiệu suất bền vững ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh và hành vi doanh nghiệp (Guo và cộng sự, 2026; Liu và cộng sự, 2023). Hướng nghiên cứu thứ ba – Lý thuyết về nhận thức quản lý – chứng minh rằng các doanh nghiệp có điều kiện cấu trúc tương tự nhau lại phân kỳ mạnh mẽ trong cách họ phát triển năng lực dữ liệu và số hóa, tùy thuộc vào cách các nhà quản lý diễn giải và định hình các cơ hội tài nguyên, nguồn lực số (Nykänen và cộng sự, 2026; Eggers và Kaplan, 2013). Quan trọng là chưa có nghiên cứu nào trước đây tích hợp ba hướng nghiên cứu này để hiểu áp lực từ ESG, định hướng nhận thức của nhà quản lý và sự phát triển năng lực số ảnh hưởng đến kết quả chuyển đổi số của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Về mặt lý thuyết, khoảng trống này có ý nghĩa quan trọng vì có 3 lý do liên quan đến nhau.

Thứ nhất, trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, các quyết định chiến lược tập trung trong tay chủ sở hữu hoặc nhà quản lý cấp cao (Hambrick và Mason, 1984; Ramos-Vecino và cộng sự, 2026), làm cho các đặc điểm nhận thức cá nhân của lãnh đạo – bao gồm tầm nhìn thời gian và các sơ đồ diễn giải của họ – trở thành những yếu tố quyết định quan trọng về cách thức các áp lực môi trường được chuyển hóa thành hành động chiến lược.

Thứ hai, chuyển đổi số có những đặc điểm chính tương đồng với đổi mới sáng tạo xanh: yêu cầu vốn cao, thời gian hoàn vốn dài, sự không chắc chắn về công nghệ và rủi ro ban đầu đáng kể – tất cả những điều này khiến nó đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi sự thiển cận của nhà quản lý (Guo và cộng sự, 2026; Nykänen và cộng sự, 2026).

Thứ ba, bằng chứng gần đây cho thấy dưới áp lực ESG, các nhà quản lý thiển cận có xu hướng chuyển từ đổi mới thực chất sang đổi mới mang tính hình thức – làm tăng số lượng đầu ra đổi mới có thể nhìn thấy được trong khi giảm chiều sâu chuyển đổi thực sự của chúng (Guo và cộng sự, 2026). Nghiên cứu này cũng lập luận rằng, một sự đánh đổi chất lượng – số lượng tương tự cũng hoạt động trong chuyển đổi số, tạo ra sự phân biệt giữa “số hóa thực chất” (substantive digitalization – áp dụng công nghệ sâu sắc, tích hợp và có mục đích chiến lược) và “số hóa hình thức/chiến lược” (strategic digitalization – áp dụng công cụ hữu hình, thúc đẩy bởi sự tuân thủ mà không có sự chuyển đổi vận hành thực sự).

Nghiên cứu này đề xuất khung lý thuyết TOE-IE-ESG mở rộng – một mô hình lý thuyết tích hợp kết hợp hiệu suất ESG như một động lực điều tiết môi trường chính thức trong mô hình TOE-IE (Ramos-Vecino và cộng sự, 2026), giới thiệu sự thiển cận của nhà quản lý (Guo và cộng sự, 2026) như một yếu tố điều tiết tiêu cực của mối quan hệ ESG – số hóa và sử dụng lý thuyết nhận thức nguồn lực (Nykänen và cộng sự, 2026) để làm sáng tỏ các cơ chế sơ đồ vi mô mà thông qua đó sự điều tiết này hoạt động. Các câu hỏi nghiên cứu sau đây định hướng cho việc thực hành đánh giá:

RQ1: Hiệu suất ESG ảnh hưởng như thế nào đến cường độ và chất lượng của chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ?

RQ2: Sự thiển cận của nhà quản lý điều tiết mối quan hệ giữa ESG và số hóa như thế nào?

RQ3: Các sơ đồ nhận thức của nhà quản lý đóng vai trò gì trong việc định hình chất lượng chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ?

Nghiên cứu này đóng góp vào sự phát triển của tài liệu nghiên cứu thông qua bốn điểm chính: (1) Lần đầu tiên tích hợp tài liệu về ESG với nghiên cứu về chuyển đổi số trong bối cảnh doanh nghiệp vừa và nhỏ. (2) Giới thiệu việc phân biệt giữa số hóa thực chất và số hóa chiến lược, mở rộng khuôn khổ chất lượng – số lượng từ đổi mới, sáng tạo xanh sang việc áp dụng công nghệ số. (3) Đề xuất một cơ chế nhận thức liên kết các mô hình quản lý với việc điều tiết các tác động của ESG; và (4) Cung cấp một khuôn khổ tích hợp, khả thi, với các giả thuyết có thể kiểm chứng thực nghiệm và các khuyến nghị chính sách cụ thể.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Khung lý thuyết TOE-IE và chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

Mô hình Công nghệ – Tổ chức – Môi trường (TOE) (Tornatzky và Fleischer, 1990) là khung lý thuyết chủ đạo để phân tích việc áp dụng công nghệ của tổ chức, doanh nghiệp, đánh giá các quyết định trên ba bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau: Công nghệ (tính tương thích, độ phức tạp và lợi thế tương đối), Tổ chức (quy mô doanh nghiệp, nguồn nhân lực và sự hỗ trợ của quản lý), và môi trường (áp lực cạnh tranh, quy định của chính phủ và xu hướng thị trường). Nghiên cứu gần đây đã mở rộng mô hình này để nắm bắt tốt hơn động lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ramos-Vecino và cộng sự (2026) đã đề xuất mô hình TOE-IE, tích hợp các yếu tố cá nhân (thái độ lãnh đạo, kỹ năng số và chương trình đào tạo) và các yếu tố kinh tế (chi phí cảm nhận, khả năng tiếp cận tài chính và đánh giá chi phí-lợi ích) vào khung nguyên bản.

Sự mở rộng này đại diện cho một bước tiến lý thuyết quan trọng. Trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc ra quyết định được tập trung hóa cao độ ở chủ sở hữu – nhà quản lý, khiến các đặc điểm nhận thức cá nhân trở nên quan trọng hơn nhiều so với trong các tập đoàn lớn. Xác nhận thực nghiệm về mô hình TOE-IE sử dụng PLS-SEM trên 270 doanh nghiệp vừa và nhỏ Tây Ban Nha khẳng định rằng yếu tố Cá nhân (β = 0.302, p < 0.001) là động lực chi phối của quá trình số hóa, trong khi yếu tố Kinh tế không có ý nghĩa thống kê – một phần được cho là do hiệu ứng giảm nhẹ của các chương trình trợ cấp công cộng Kit Digital của Tây Ban Nha (Ramos-Vecino và cộng sự, 2026). Số hóa hơn nữa đóng vai trò là biến trung gian hoàn toàn đối với hiệu suất hoạt động (β = 0.549, p < 0.001), thiết lập rằng các yếu tố bối cảnh phải được chuyển hóa thành việc áp dụng công nghệ thực tế để tạo ra lợi ích về hiệu suất.

Tuy nhiên, mô hình TOE-IE thiếu một động lực môi trường quan trọng ngày càng hiện diện trong bối cảnh doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đại: hệ thống đánh giá hiệu suất ESG. Khi các khung ESG ngày càng được thể chế hóa trên toàn cầu – 26 sàn giao dịch chứng khoán hiện yêu cầu công bố thông tin liên quan đến ESG (Guo và cộng sự, 2026) – chúng cấu thành một hình thức áp lực điều tiết phi chính thức mang tính đặc thù. Xếp hạng ESG đánh giá các công ty trên các khía cạnh môi trường, xã hội và quản trị, tạo ra các động lực và ràng buộc do thị trường thúc đẩy mà không được các biến số như áp lực cạnh tranh hoặc trợ cấp của chính phủ truyền thống nắm bắt. Bài viết đề xuất mở rộng bối cảnh môi trường của mô hình TOE-IE để chính thức kết hợp hiệu suất ESG như một tiền đề mới cho chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2.2. ESG như một cơ chế điều tiết môi trường phi chính thức đối với chuyển đổi số

Dựa trên lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976) và tài liệu về điều tiết môi trường phi chính thức, bài báo này khái niệm hóa rằng hiệu suất ESG có ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp thông qua hai con đường phân tích riêng biệt, theo khung “the dual-channel” do Guo và cộng sự (2026) đề xuất.

Con đường đầu tiên mà các tác giả đó gọi là “hiệu ứng giám sát” – hoạt động thông qua khả năng của xếp hạng ESG: khi các doanh nghiệp thể hiện quản trị bền vững mạnh mẽ, họ giảm bớt sự bất cân xứng thông tin giữa ban quản lý và các nhà cung cấp vốn bên ngoài, qua đó thu hút các nhà đầu tư định hướng bền vững và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn tài chính xanh hoặc liên kết ESG. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ràng buộc về vốn, cơ chế này trực tiếp làm giảm các rào cản tài chính vốn cản trở đầu tư số chính xác là yếu tố kinh tế được xác định trong mô hình TOE-IE. Guo và cộng sự (2026) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về kênh này trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo xanh, phát hiện rằng hiệu suất ESG làm giảm đáng kể điểm số ràng buộc tài chính của các doanh nghiệp, từ đó nâng cao mức độ tham gia vào các hoạt động đổi mới thực chất.

Con đường thứ hai – “hiệu ứng khuyến khích” theo cách gọi của Guo và cộng sự (2026) – hoạt động thông qua các áp lực chuẩn mực và uy tín được tích hợp trong các hệ thống đánh giá ESG. Bằng cách đối chiếu các doanh nghiệp với các đối thủ cùng ngành và xác định các thiếu sót cụ thể về môi trường và quản trị, các khung ESG nâng cao nhận thức của nhà quản lý về các rủi ro và cơ hội bền vững. Áp dụng vào bối cảnh chuyển đổi số, nhận thức này tạo ra một logic nội bộ để áp dụng các công nghệ số như các đòn bẩy chiến lược nhằm cải thiện ESG: ví dụ, phần mềm hậu cần tiên tiến có thể giảm lượng khí thải carbon; các ứng dụng blockchain có thể tăng cường tính minh bạch của chuỗi cung ứng; các nền tảng truyền thông kỹ thuật số có thể làm sâu sắc thêm sự tương tác với các bên liên quan; và các hệ thống giám sát tích hợp có thể hỗ trợ báo cáo môi trường dựa trên dữ liệu. Bằng cách làm như vậy, cơ chế này mở rộng chiều kích Môi trường của mô hình TOE-IE bằng cách giới thiệu các động lực về uy tín và chuẩn mực trong việc áp dụng công nghệ, bên cạnh các áp lực cạnh tranh và quy định đã được nắm bắt trong khung nguyên bản.

2.3. Nhận thức của nhà quản lý và phát triển năng lực số

Nykänen và cộng sự (2026) đưa ra một lời giải thích nhận thức nền tảng về lý do tại sao các doanh nghiệp có cấu trúc tương tự lại phân kỳ về năng lực xây dựng năng lực dữ liệu và số hóa. Thông qua một cuộc điều tra đa trường hợp về 8 doanh nghiệp tăng trưởng trẻ, định hướng công nghệ, các tác giả chỉ ra rằng quỹ đạo phát triển năng lực được định hình, đồng thời bởi cách các nhà quản lý diễn giải vai trò chiến lược của dữ liệu và bởi các thực tiễn tổ chức mà những diễn giải đó sau đó cho phép hoặc ngăn cản. Hai thành phần riêng biệt của nhận thức nguồn lực của nhà quản lý là trung tâm của quá trình này.

Thành phần đầu tiên – được Nykänen và cộng sự (2026) gọi là “niềm tin về tính hữu dụng khái niệm” (conceptual utility beliefs) – nắm bắt các mô hình tinh thần trước đây của các nhà quản lý về giá trị tiềm năng của dữ liệu và công nghệ số đối với doanh nghiệp: liệu các nguồn lực này được coi là các công cụ hỗ trợ bên lề hay là các tài sản tạo ra giá trị cốt lõi. Sự hình thành của những niềm tin như vậy bị ảnh hưởng bởi nền tảng giáo dục, lịch sử nghề nghiệp và chất lượng mạng lưới ngành của các nhà quản lý. Thành phần thứ hai – “kiến thức dữ liệu quy trình” (procedural data knowledge) – đề cập đến sự hiểu biết mang tính vận hành, chuyên môn về cách các năng lực số có thể được thiết kế, lắp ráp và nhúng vào các quy trình của doanh nghiệp theo những cách tạo ra giá trị có thể đo lường được.

Sự tương tác giữa hai chiều kích nhận thức này tạo ra các mô hình tham gia nguồn lực số khác biệt rõ rệt. Khi các nhà quản lý nắm giữ những gì Nykänen và cộng sự (2026) đặc trưng là niềm tin “chi phối bởi cơ hội” – xem việc tích hợp kỹ thuật số là tương thích với bản sắc doanh nghiệp và khả thi về mặt tổ chức – họ có xu hướng theo đuổi việc áp dụng công nghệ có chủ đích, gắn liền với chiến lược, dần dần định vị dữ liệu như một tài sản tổ chức cốt lõi. Ngược lại, các nhà quản lý có định hướng nhận thức “chi phối bởi rào cản” – coi các năng lực số là gánh nặng kỹ thuật, gây gián đoạn vận hành hoặc không phù hợp với bản sắc doanh nghiệp – tham gia vào công nghệ theo những cách phân mảnh, bên lề, không tạo ra năng lực thực sự. Nykänen và cộng sự (2026) cũng xác định việc bổ nhiệm một lãnh đạo số chuyên trách (chẳng hạn như Giám đốc kỹ thuật số – CDO) là một sự kiện tổ chức then chốt có khả năng làm phong phú cả hai chiều kích niềm tin: những cuộc bổ nhiệm như vậy giới thiệu tư duy về các trường hợp sử dụng mới và làm sắc nét kiến thức thực tế cần thiết để triển khai hiệu quả.

Chuyển sang bối cảnh chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ, khung nhận thức này gợi ý rằng chất lượng của việc áp dụng công nghệ không thể được giải thích chỉ bằng các nguồn lực cấu trúc hoặc áp lực bên ngoài. Thay vào đó, chính định hướng diễn giải của nhà quản lý – sự phong phú của niềm tin vào khái niệm về giá trị số và chiều sâu của kiến thức triển khai thực tế của họ – cuối cùng chi phối việc liệu các động lực môi trường có chuyển hóa thành sự phát triển năng lực thực chất hay không. Một nhà quản lý có các sơ đồ nhận thức định vị công nghệ số là không thể thiếu về mặt chiến lược, có hiểu biết về quy trình để hiện thực hóa niềm tin đó và có khả năng coi áp lực do ESG tạo ra như một chất xúc tác cho sự chuyển đổi thực sự. Ngược lại, một nhà quản lý có các sơ đồ nhận thức kém phát triển hoặc bị bóp méo bởi tư duy ngắn hạn có thể phản ứng với các áp lực bên ngoài tương tự bằng cách áp dụng ở mức độ bề mặt, định hướng tuân thủ, tránh sự phức tạp của tổ chức và khoản đầu tư trả trước mà sự tích hợp số thực sự đòi hỏi.

2.4. Sự thiển cận của nhà quản lý và sự đánh đổi chất lượng – số lượng

Lý thuyết tầng lớp lãnh đạo cấp cao (Hambrick và Mason, 1984) cho rằng, các quyết định của tổ chức phản ánh các đặc điểm nhận thức, giá trị và kinh nghiệm của các nhà quản lý cấp cao. Sự thiển cận của nhà quản lý (managerial myopia) – việc ưu tiên có hệ thống các lợi ích ngắn hạn hơn việc tạo ra giá trị dài hạn – là một đặc điểm như vậy với những hàm ý sâu sắc đối với việc ra quyết định chiến lược trong điều kiện không chắc chắn. Bắt nguồn từ lý thuyết đại diện, sự thiển cận của nhà quản lý nảy sinh từ sự không phù hợp về lợi ích giữa các cổ đông (những người tìm kiếm tối đa hóa giá trị dài hạn) và các nhà quản lý (những người có thù lao, thăng chức và phát triển sự nghiệp gắn chặt với các chỉ số hiệu suất ngắn hạn).

Guo và cộng sự (2026) cung cấp bằng chứng thực nghiệm mang tính nền tảng về hiệu ứng bóp méo của sự thiển cận đối với đổi mới và sáng tạo xanh do ESG thúc đẩy, sử dụng phân tích văn bản của các phần thảo luận và phân tích của ban quản lý (MD&A) để đo lường định hướng ngắn hạn của nhà quản lý. Các phát hiện chính của họ thiết lập rằng sự thiển cận trực tiếp kìm hãm đổi mới sáng tạo xanh thực chất (β = −0.082, p < 0.001), điều tiết tiêu cực mối quan hệ ESG – đổi mới sáng tạo thực chất (β = −0.058, p < 0.001), và – quan trọng nhất – tạo ra sự đánh đổi chất lượng – số lượng: tương tác ESG * Sự thiển cận là dương (+) và có ý nghĩa thống kê đối với đổi mới sáng tạo xanh mang tính chiến lược (chất lượng thấp) (β = 0.042, p < 0.05) trong khi đồng thời âm (-) và có ý nghĩa thống kê đối với đổi mới sáng tạo xanh thực chất (chất lượng cao). Dưới áp lực ESG, các nhà quản lý thiển cận làm tăng số lượng bằng sáng chế hữu hình, đồng thời chuyển hướng nguồn lực khỏi đầu tư R&D thực sự.

Nghiên cứu này cho thấy, một động lực tương tự cũng đặc trưng cho chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chuyển đổi số tồn tại trên một phổ từ số hóa thực chất – triển khai công nghệ sâu sắc, tích hợp, được thúc đẩy bởi chiến lược, thực sự chuyển đổi hoạt động, mô hình kinh doanh và quy trình tạo ra giá trị – đến số hóa hình thức/chiến lược – việc áp dụng các công cụ số hữu hình, được thúc đẩy bởi sự tuân thủ nhằm mục đích phát tín hiệu uy tín mà không có sự tích hợp vận hành thực chất. Các ví dụ về số hóa hình thức bao gồm thiết lập hồ sơ truyền thông xã hội mà không có sự chuyển đổi quy trình hậu cần, áp dụng thương mại điện tử cấp độ nhập môn mà không có sự tích hợp chuỗi cung ứng, hoặc triển khai các biện pháp an ninh mạng cơ bản để đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan mà không triển khai các hệ thống ERP, IoT hoặc phân tích thực sự cải thiện hiệu quả hoạt động.

Các nhà quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ thiển cận, phải đối mặt với áp lực do ESG tạo ra để chứng minh sự sẵn sàng số hóa đối với các nhà đầu tư và các bên liên quan, có thể phản ứng bằng cách chọn lọc tăng cường việc áp dụng các tín hiệu số hữu hình (số hóa hình thức) trong khi giảm thiểu đầu tư vào các quy trình tích hợp hệ thống, phát triển nhân tài và quản lý thay đổi tổ chức tốn kém, dài hạn cần thiết cho sự chuyển đổi thực chất. Mô hình hành vi này phù hợp với các động lực nhận thức được ghi nhận bởi Nykänen và cộng sự (2026): các nhà quản lý tiếp cận sự phát triển năng lực số chủ yếu thông qua lăng kính chi phí triển khai, độ phức tạp kỹ thuật và rủi ro gián đoạn ngắn hạn có xu hướng áp dụng các thực tiễn công nghệ phân mảnh, bên lề, phát tín hiệu tham gia số hóa ra bên ngoài trong khi không tạo ra sự tích hợp tổ chức sâu sắc đặc trưng của sự chuyển đổi thực sự.

3. Khung lý thuyết tích hợp và các giả thuyết

Dựa trên các nền tảng lý thuyết được xem xét ở trên, tác giả đề xuất khung lý thuyết TOE-IE-ESG mở rộng – được minh họa về mặt khái niệm trong Hình 1 – Mô hình khái niệm TOE-IE-ESG mở rộng như một lực lượng điều tiết môi trường chính thức thúc đẩy chuyển đổi số, điều chỉnh chất lượng của nó thông qua tương tác với sự thiển cận của nhà quản lý và chuyển hóa thành hiệu suất hoạt động thông qua vai trò trung gian của số hóa thực chất. Yếu tố cá nhân của mô hình TOE-IE đóng vai trò là điều kiện biên dương tính, tăng cường cả mối quan hệ ESG – số hóa và lợi nhuận hiệu suất trong việc áp dụng số hóa một cách thực chất. Yếu tố kinh tế được giữ lại nhưng dự kiến có ý nghĩa thống kê không đáng kể trong bối cảnh có các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số từ các tổ chức công mạnh mẽ, phù hợp với phát hiện thực nghiệm của Ramos-Vecino et al. (2026).

3.1. Hiệu suất ESG và chuyển đổi số (H1)

Dựa trên các hiệu ứng giám sát và khuyến khích được lý thuyết hóa ở trên, hiệu suất ESG dự kiến sẽ có mối liên hệ tích cực với cả cường độ và chất lượng của chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua kênh giám sát, xếp hạng ESG cao hơn làm giảm các ràng buộc tài chính bằng cách cải thiện sự tin tưởng của nhà đầu tư và khả năng tiếp cận các công cụ tài chính bền vững, qua đó trực tiếp giải quyết các rào cản vốn hạn chế đầu tư số trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế về nguồn lực.

Thông qua kênh khuyến khích, các đánh giá ESG nâng cao nhận thức của nhà quản lý về các công nghệ số như những yếu tố hỗ trợ chiến lược cho các mục tiêu bền vững, qua đó thúc đẩy số hóa chủ động. Cả hai kênh đều được kỳ vọng sẽ thúc đẩy số hóa thực chất hơn là số hóa hình thức, bởi vì các động lực cơ bản – định vị cạnh tranh dài hạn và cải thiện tính bền vững thực sự – phù hợp hơn với sự tích hợp số sâu sắc so với việc phát tín hiệu tuân thủ ở mức độ bề mặt.

H1: Hiệu suất ESG và chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

H1a: Hiệu suất ESG có mối liên hệ tích cực với mức độ chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

H1b: Hiệu suất ESG có mối liên hệ tích cực với chất lượng (tính thực chất) của chuyển đổi số tại doanh nghiệp vừa và nhỏ.

H1c: Mối quan hệ ESG – chuyển đổi số được trung gian một phần nhờ việc giảm bớt các ràng buộc tài chính (hiệu ứng giám sát).

3.2. Chuyển đổi số và hiệu suất hoạt động (H2)

Phù hợp với phát hiện thực nghiệm của Ramos-Vecino và cộng sự (2026) rằng việc áp dụng chuyển đổi số đóng vai trò là biến trung gian hoàn toàn đối với hiệu suất hoạt động (β = 0.549, p < 0.001), nghiên cứu cho rằng chuyển đổi số thực chất là cơ chế chính thông qua đó áp lực ESG và các động lực bối cảnh chuyển hóa thành kết quả kinh doanh. Số hóa thực chất cho phép cải thiện thực sự về hiệu quả quy trình, chất lượng sản phẩm, sự hài lòng của khách hàng, khả năng phản ứng trước thị trường và, cuối cùng, hiệu quả tài chính. Ngược lại, số hóa hình thức – được áp dụng chủ yếu để tuân thủ về mặt uy tín – tạo ra lợi nhuận hoạt động hạn chế vì các công nghệ được áp dụng không được tích hợp thực sự vào các quy trình tạo ra giá trị.

H2: Chất lượng chuyển đổi số (thực chất so với hình thức) là trung gian dương trong mối quan hệ giữa hiệu suất ESG và hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó số hóa thực chất tạo ra lợi nhuận hiệu quả cao hơn đáng kể.

3.3. Vai trò điều tiết của sự thiển cận của nhà quản lý (H3)

Dựa trên khung đánh đổi chất lượng – số lượng của Guo và cộng sự (2026) và động lực niềm tin chi phối bởi rào cản của Nykänen và cộng sự (2026), chúng tôi đề xuất rằng sự thiển cận của nhà quản lý, điều kiện hóa chất lượng – nhưng không nhất thiết là số lượng – của phản ứng chuyển đổi số trước áp lực ESG. Các nhà quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ thiển cận, hoạt động dưới áp lực phải mang lại kết quả hiệu suất ngắn hạn, sẽ phản ứng với các kỳ vọng do ESG tạo ra bằng cách áp dụng các tín hiệu số có khả năng hiển thị cao nhưng chi phí thấp (số hóa hình thức) trong khi giảm thiểu đầu tư vào các quy trình sâu sắc, phức tạp về mặt tổ chức và có tầm nhìn dài hạn cần thiết cho sự chuyển đổi thực chất. Mô hình hành vi này phản ánh hiệu ứng thay thế của đổi mới sáng tạo xanh, được Guo và cộng sự (2026) ghi nhận, trong đó sự thiển cận tạo ra sự đánh đổi chất lượng – số lượng dưới áp lực ESG.

H3: Sự thiển cận của nhà quản lý điều tiết các mối quan hệ của ESG và chuyển đổi số.

H3a: Sự thiển cận của nhà quản lý điều tiết tiêu cực mối quan hệ giữa ESG và chất lượng chuyển đổi số, làm suy yếu tác động tích cực của hiệu suất ESG đối với số hóa một cách thực chất.

H3b: Dưới áp lực ESG, sự thiển cận của nhà quản lý khiến việc chuyển đổi số từ thực chất sang hình thức, tạo ra sự đánh đổi giữa chất lượng và số lượng tương tự như đã được ghi nhận trong nghiên cứu về đổi mới sáng tạo xanh.

H3c: Tác động điều tiết tiêu cực của sự thiển cận của nhà quản lý đối với số hóa thực chất mạnh hơn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức độ hiển thị ESG cao hơn (nhận được nhiều sự giám sát ESG hơn), vì các doanh nghiệp này phải đối mặt với áp lực bên ngoài lớn hơn để phát tín hiệu tuân thủ số hóa mang tính biểu tượng.

3.4. Các yếu tố TOE-IE như một biến điều tiết dương (H4)

Minh chứng của Ramos-Vecino và cộng sự (2026) rằng các yếu tố cá nhân, tổ chức, công nghệ và môi trường là động lực chi phối việc áp dụng số hóa trong doanh nghiệp vừa và nhỏ dẫn chúng tôi đến đề xuất rằng chúng cũng điều kiện hóa chất lượng của phản ứng chuyển đổi số trước áp lực ESG. Dựa trên khung nhận thức của Nykänen và cộng sự (2026), các nhà quản lý nắm giữ những niềm tin được phát triển tốt về giá trị chiến lược của các công nghệ số và có kiến thức vận hành thực chất về cách triển khai chúng sẽ ở vị trí tốt hơn để chuyển hóa nhận thức do ESG thúc đẩy thành sự phát triển năng lực sâu sắc, tích hợp trong tổ chức. Các nguồn lực nhận thức này khuếch đại tác động tích cực của hiệu suất ESG đối với số hóa một cách thực chất bằng cách cho phép các nhà quản lý xác định các cơ hội số có giá trị cao và xây dựng các lộ trình triển khai cụ thể, có thể hành động. Ngược lại, khi sự thiển cận và năng lực nhận thức số hạn chế cùng xảy ra, tác động kết hợp của tư duy ngắn hạn và trí tưởng tượng chiến lược bị hạn chế dự kiến sẽ vô hiệu hóa hoàn toàn ảnh hưởng có lợi của áp lực ESG, khiến số hóa hình thức (bề mặt) trở thành phản ứng khả thi duy nhất.

H4: Yếu tố TOE-IE (Yếu tố: cá nhân, tổ chức, công nghệ, môi trường) ảnh hưởng tích cực tới mối quan hệ giữa ESG và chuyển đổi số.

4. Phương pháp nghiên cứu 

Để kiểm định thực nghiệm các giả thuyết được đề xuất, nghiên cứu này khuyến nghị thiết kế khảo sát định lượng, gắn với việc xác nhận hiệu suất khách quan và hướng tới mục tiêu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) là phương pháp phân tích phù hợp nhất cho nghiên cứu này, phù hợp với tiền lệ do Ramos-Vecino và cộng sự (2026) thiết lập, do định hướng dự đoán, độ mạnh mẽ đối với các độ lệch so với phân phối chuẩn đa biến và sự phù hợp cho các mô hình phức tạp với nhiều cấu trúc và mối quan hệ điều tiết (Hair và cộng sự, 2019).

Tổng thể, mục tiêu nên bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại, xây dựng và dịch vụ chuyên nghiệp (loại trừ các lĩnh vực tài chính, y tế và hành chính công) ở cả 3 khu vực Bắc, Trung, Nam, có mức độ thực hiện các quy định ESG và cơ sở hạ tầng hỗ trợ số hóa công cộng khác nhau. Việc sao chép và mở rộng bối cảnh Extremadura của Ramos-Vecino và cộng sự (2026) sang một khu vực có GDP cao hơn (ví dụ: Catalonia hoặc Randstad) sẽ cho phép phân tích so sánh theo khu vực và kiểm tra xem liệu tính không có ý nghĩa thống kê của yếu tố kinh tế có tổng quát hóa được hay không, vượt ra ngoài các môi trường được trợ cấp tốt. Một mẫu tối thiểu gồm 500 phản hồi hợp lệ, được phân tầng theo quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực và trạng thái công bố thông tin ESG, cung cấp đủ kích cỡ mẫu thống kê để phân tích PLS-SEM với các yếu tố tương tác phức tạp.

Phù hợp với lý thuyết tầng lớp lãnh đạo cấp cao và mô hình TOE-IE (Ramos-Vecino và cộng sự, 2026), đơn vị phân tích là người ra quyết định cấp cao (chủ sở hữu – nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc tổng giám đốc có trách nhiệm trực tiếp đối với các quyết định đầu tư và công nghệ). Để giảm thiểu thiên lệch phương pháp chung, được Ramos-Vecino và cộng sự (2026) thừa nhận là một hạn chế, thiết kế nghiên cứu nên thu thập dữ liệu hiệu suất khách quan từ các cơ sở dữ liệu tài chính (ví dụ: SABI, Bureau van Dijk) và các thước đo đại diện ESG một cách độc lập với công cụ khảo sát.

Bảng 1: Tóm tắt vận hành biến số

Cấu trúc (Construct)Vận hành (Operationalization)Nguồn
Hiệu suất ESGXếp hạng ESG của bên thứ ba (MSCI, Sustainalytics); đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được xếp hạng: thước đo đại diện công bố thông tin đã được xác thực (số lượng và loại báo cáo bền vững).Guo và cộng sự (2026)
Số hóa thực chấtChiều sâu tích hợp công nghệ trên các quy trình hậu cần (ERP, AI, IoT, điện toán đám mây, dữ liệu lớn); đổi mới mô hình kinh doanh được hỗ trợ bởi kỹ thuật số.Mở rộng từ Ramos-Vecino và cộng sự (2026)
Số hóa hình thức (chiến lược)Sự hiện diện kỹ thuật số ở mặt tiền (trang web, truyền thông xã hội, thương mại điện tử cơ bản) mà không có sự chuyển đổi hậu cần tương ứng; việc áp dụng công cụ được thúc đẩy bởi sự tuân thủ.Thích nghi từ Guo và cộng sự (2026)
Sự thiển cận của nhà quản lýPhân tích văn bản của các thông điệp quản lý sử dụng từ điển 43 thuật ngữ đã được xác thực của Hu và cộng sự (2021); phương án thay thế dựa trên khảo sát sử dụng thang đo đa chiều của Czakon và cộng sự (2023).Guo và cộng sự (2026); Hu và cộng sự (2021)
Yếu tố Cá nhânBa mục FAEDPYME: sự chuẩn bị về kỹ thuật số của nhân viên, chất lượng đào tạo kỹ thuật số của nhà quản lý, tần suất đào tạo của tổ chức; được bổ sung bởi các thang đo niềm tin về tính hữu dụng khái niệm và kiến thức quy trình số.Ramos – Vecino và cộng sự (2026); Nykänen và cộng sự (2026)
Hiệu suất Hoạt độngBảy mục hiệu suất cạnh tranh so với các đối thủ trực tiếp (chất lượng, hiệu quả quy trình, sự hài lòng của khách hàng, khả năng thích ứng thị trường, sự hài lòng của nhân viên, khả năng sinh lời, tăng trưởng doanh số); được bổ sung bằng dữ liệu tài chính khách quan.Ramos – Vecino và cộng sự (2026)
Ràng buộc Tài chínhChỉ số ràng buộc tài chính tổng hợp kết hợp các chỉ báo về quy mô, tuổi đời và cấu trúc vốn của doanh nghiệp, thích nghi từ đặc tả được sử dụng bởi Guo và cộng sự (2026): FC = −0.737×Size + 0.043×Size² − 0.04×AgeGuo và cộng sự (2026)
Nguồn: Tác giả tổng hợp, đề xuất

Việc đánh giá mô hình đo lường tuân theo các tiêu chuẩn PLS-SEM đã được thiết lập: tải trọng của các chỉ báo cá nhân vượt quá 0.707; Cronbach’s Alpha và độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability) vượt quá 0.70; phương sai trích trung bình (AVE) vượt quá 0.50; và giá trị phân biệt được xác nhận thông qua các tỷ lệ Heterotrait-Monotrait (HTMT) dưới 0.85 (phù hợp với Ramos – Vecino và cộng sự, 2026). Việc đánh giá mô hình cấu trúc bao gồm đánh giá các hệ số xác định (R²), kích thước hiệu ứng (f²) và ý nghĩa của hệ số đường dẫn thông qua kiểm định bootstrap với 5.000 mẫu bootstrap.

Việc kiểm định điều tiết cho H3-H5 sử dụng các thuật ngữ tương tác theo cách tiếp cận của Guo và cộng sự (2026): tất cả các hiệu ứng chính (ESG, sự thiển cận, yếu tố cá nhân) và các tương tác trọng tâm (ESG×sự thiển cận; ESG×yếu tố cá nhân; ESG×sự thiển cận×yếu tố cá nhân cho H5) được bao gồm trong một mô hình duy nhất với các sai số chuẩn mạnh mẽ được phân cụm ở cấp độ doanh nghiệp. Phân tích trung gian cho H1c và H2 áp dụng khung ba bước của Baron-Kenny được bổ sung bằng các khoảng tin cậy bootstrap cho các hiệu ứng gián tiếp (5.000 lần lặp). Để giải quyết vấn đề nội sinh tiềm ẩn trong xếp hạng ESG, các biến công cụ dựa trên mức trung bình ESG của các doanh nghiệp ngang hàng trong khu vực theo chiến lược nhận dạng của Guo và cộng sự (2026), nên được sử dụng như một kiểm tra độ mạnh mẽ.

5. Thảo luận và hàm ý

5.1. Đóng góp lý thuyết

Nghiên cứu này đưa ra 5 đóng góp lý thuyết riêng biệt.

Thứ nhất, bằng cách định vị hiệu suất ESG như một yếu tố môi trường chính thức thúc đẩy chuyển đổi số trong khung TOE-IE, chúng tôi thiết lập mô hình tích hợp ESG – số hóa đầu tiên dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này giải quyết một khoảng trống cấu trúc trong cả hai hướng nghiên cứu: các học giả về ESG chưa xem xét chuyển đổi số như một kết quả của quản trị bền vững và các học giả về số hóa chưa kết hợp ESG như một động lực môi trường riêng biệt. Sự hội tụ của hai lĩnh vực này cho thấy chiến lược phát triển bền vững và chiến lược số không phải là các quỹ đạo song song mà là các quá trình có mối liên hệ sâu sắc.

Thứ hai, nghiên cứu giới thiệu sự phân biệt giữa số hóa thực chất và số hóa hình thức, đồng thời chuyển khung đổi mới chất lượng – số lượng của Guo và cộng sự (2026) sang lĩnh vực chuyển đổi số. Sự đổi mới khái niệm này cung cấp một cơ sở có nền tảng lý thuyết để phân biệt chuyển đổi số thực sự – tạo ra những cải thiện hoạt động lâu dài và lợi thế cạnh tranh – với hành vi phát tín hiệu tuân thủ hoặc uy tín, tạo ra vẻ ngoài của việc áp dụng kỹ thuật số mà không có thực chất. Sự phân biệt này có những hàm ý trực tiếp đối với cách các nhà nghiên cứu đo lường kết quả chuyển đổi số: việc kiểm đếm đơn giản số lượng công nghệ được áp dụng (tương tự như việc kiểm đếm số lượng bằng sáng chế xanh trong khung của Guo và cộng sự) có thể đánh giá quá cao mức độ chuyển đổi thực sự.

Thứ ba, mở rộng nghiên cứu về nhận thức tài nguyên (Nykänen và cộng sự, 2026; Danneels, 2010) bằng cách áp dụng nó để giải thích cơ chế vi mô, qua đó làm nổi bật sự thiển cận của nhà quản lý trong việc điều tiết các động lực ESG – số hóa. Sự thiển cận có thể được khái niệm hóa như một thiên lệch nhận thức có hệ thống, khuếch đại các niềm tin về rào cản liên quan đến sự phát triển năng lực số (nhấn mạnh chi phí triển khai, độ phức tạp công nghệ và sự gián đoạn trong hoạt động của tổ chức) trong khi đàn áp các niềm tin về cơ hội liên quan đến việc tạo ra giá trị dài hạn. Điều này mở rộng khung của Nykänen và cộng sự (2026), vượt ra ngoài bối cảnh nghiên cứu trường hợp định tính ban đầu, sang vai trò điều tiết trong lý thuyết định lượng.

Thứ tư, nghiên cứu mở rộng lý thuyết tầng lớp lãnh đạo cấp cao (Hambrick và Mason, 1984) bằng cách chứng minh rằng các đặc điểm nhận thức của nhà quản lý không chỉ xác định mức độ đầu tư chiến lược mà còn làm biến dạng thành phần của nó, tạo ra các sự đánh đổi chất lượng-số lượng có hệ thống. Đóng góp này kết nối nền tảng vi mô của UET được thiết lập trong Ramos-Vecino và cộng sự (2026) – những người chứng minh tính ưu việt của các yếu tố cá nhân trong quá trình số hóa – với cơ chế bóp méo do sự thiển cận, được Guo và cộng sự (2026) ghi nhận trong các bối cảnh đổi mới.

Thứ năm, khung lý thuyết đóng góp về mặt phương pháp luận bằng cách đề xuất một thiết kế đo lường đa nguồn tích hợp giải quyết hạn chế thiên lệch phương pháp chung được thừa nhận bởi Ramos-Vecino và cộng sự (2026), kết hợp dữ liệu tài chính khách quan, xếp hạng ESG của bên thứ ba và các thước đo sự thiển cận của nhà quản lý dựa trên văn bản cùng với các cấu trúc dựa trên khảo sát.

5.2. Hàm ý quản trị

Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, khung lý thuyết đưa ra một cảnh báo quan trọng: áp lực ESG, mặc dù có lợi trong việc kích thích nhận thức về số hóa và cải thiện khả năng tiếp cận tài chính, có thể bị các thiên lệch nhận thức ngắn hạn lợi dụng thành hành vi tuân thủ bề mặt, tạo ra số hóa hình thức với cái giá phải trả là sự chuyển đổi thực chất. Các nhà quản lý nên chủ động phát triển loại nhận thức số chiến lược mà Nykänen và cộng sự (2026) chỉ ra là nền tảng cho việc xây dựng năng lực thực sự: cả sự tin tưởng diễn giải rằng các công nghệ số cấu thành các tài sản chiến lược chứ không phải là chi phí chung vận hành, và kiến thức thực tế về cách chuyển hóa sự tin tưởng đó thành sự phát triển năng lực tích hợp. Trên thực tế, điều này có nghĩa là đầu tư vào việc bổ nhiệm lãnh đạo số – thậm chí là các CDO bán thời gian hoặc các giám đốc kỹ thuật số được chia sẻ trong các hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ – những người có thể thu hẹp khoảng cách giữa khát vọng kỹ thuật số trừu tượng và các lộ trình năng lực cụ thể, sẵn sàng triển khai.

Khung số hóa, thực chất hơn so với hình thức, cũng cung cấp một lăng kính chẩn đoán để các nhà quản lý đánh giá tiến trình chuyển đổi số của chính họ. Các doanh nghiệp đã áp dụng nhiều công nghệ mà không có những cải thiện tương xứng về hiệu suất hoạt động, hiệu quả quy trình hoặc đổi mới mô hình kinh doanh nên cần kiểm tra xem việc áp dụng kỹ thuật số của họ phản ánh sự tích hợp chiến lược thực sự (thực chất) hay chỉ là tín hiệu thúc đẩy bởi sự tuân thủ (hình thức). Các cấu trúc thù lao của giám đốc điều hành nên liên kết các ưu đãi với các chỉ số chất lượng chuyển đổi số – chẳng hạn như doanh thu được tạo ra từ các kênh kỹ thuật số, giảm chi phí do tự động hóa quy trình và cải thiện sự hài lòng của khách hàng – thay vì chỉ đếm đơn giản số lượng công nghệ được áp dụng.

5.3. Hàm ý chính sách

Các phát hiện củng cố khuyến nghị của Ramos-Vecino và cộng sự (2026) về việc chuyển hướng hỗ trợ công cộng từ trợ cấp vốn sang phát triển vốn nhân lực, đồng thời bổ sung sắc thái quan trọng. Việc chỉ cung cấp các ưu đãi tài chính cho việc áp dụng các công cụ số có thể đẩy nhanh quá trình số hóa hình thức, làm tăng số lượng công nghệ được áp dụng một cách hữu hình mà không đảm bảo sự tích hợp vận hành thực sự. Các chương trình chính sách nên kết hợp các ưu đãi theo chiều sâu kỹ thuật số: khen thưởng các doanh nghiệp chứng minh được những cải thiện hoạt động có thể đo lường được do tích hợp kỹ thuật số, thay vì chỉ đơn thuần mua lại công nghệ. Cụ thể, các chương trình trợ cấp kỹ thuật số theo từng cấp độ có thể điều kiện hóa nguồn tài trợ tiếp theo dựa trên các chỉ số chất lượng triển khai đã được chứng minh và đánh giá sau một giai đoạn áp dụng ban đầu.

Đối với các cơ quan quản lý ESG và các tổ chức xếp hạng, khung lý thuyết gợi ý rằng các hệ thống đánh giá ESG nên khuyến khích chuyển đổi số một cách rõ ràng hơn như một yếu tố hỗ trợ tính bền vững, chứ không chỉ đơn thuần là một danh mục tuân thủ quản trị. Việc kết hợp mức độ trưởng thành kỹ thuật số và chiều sâu số hóa thực chất vào các tiêu chí môi trường và quản trị ESG sẽ điều chỉnh các áp lực ESG trực tiếp hơn với các kết quả chuyển đổi thực chất và giảm thiểu rủi ro của số hóa hình thức như một hình thức “tẩy xanh kỹ thuật số”. Hơn nữa, các cơ quan quản lý nên nhận ra rằng các ưu đãi đổi mới do ESG thúc đẩy có thể kém hiệu quả một cách có hệ thống trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức độ thiển cận của nhà quản lý cao – một bối cảnh đòi hỏi các can thiệp hành vi bổ sung như các khung đánh giá hiệu suất dài hạn và kế hoạch kế nhiệm giám đốc điều hành ưu tiên lãnh đạo định hướng kỹ thuật số.

6. Kết luận

Nghiên cứu này này trình bày khung lý thuyết TOE-IE-ESG mở rộng, một mô hình lý thuyết tích hợp tổng hợp ba dòng nghiên cứu trước đây bị ngắt kết nối – chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ (Ramos-Vecino và cộng sự, 2026), nhận thức nguồn lực của nhà quản lý (Nykänen và cộng sự, 2026), và hiệu suất ESG với sự thiển cận của nhà quản lý (Guo và cộng sự, 2026) – để thúc đẩy sự hiểu biết về cách quản trị bền vững và các đặc điểm của nhà quản lý cùng xác định bản chất và chất lượng của chuyển đổi số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cái nhìn sâu sắc trọng tâm của khung lý thuyết là hiệu suất ESG có thể định hình cả quy mô và chiều sâu của chuyển đổi số thông qua hai kênh bổ sung được xác định bởi Guo và cộng sự (2026) – một cơ chế tài chính dựa trên sự minh bạch và một cơ chế nhận thức chuẩn mực – nhưng sự thiển cận của nhà quản lý tạo ra một sự bóp méo có hệ thống làm lệch hướng áp lực do ESG tạo ra sang việc áp dụng hữu hình, định hướng tuân thủ với cái giá phải trả là sự chuyển đổi thực sự, tích hợp sâu sắc. Liệu áp lực đó cuối cùng tạo ra việc phát tín hiệu ở mức độ bề mặt hay phát triển năng lực thực sự phụ thuộc vào định hướng nhận thức của nhà quản lý: cụ thể là ở mức độ mà họ nắm giữ những niềm tin chiến lược về giá trị của các nguồn lực số và sở hữu kiến thức thực tế cần thiết để hành động dựa trên những niềm tin đó (Nykänen và cộng sự, 2026).

Mục tiêu thực tiễn là rõ ràng: chuyển đổi số bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ cuối cùng phụ thuộc vào định hướng nhận thức, cam kết dài hạn và sự phong phú của các sơ đồ tích lũy của các cá nhân lãnh đạo. Vốn tài chính và khả năng sẵn có của công nghệ – cả hai ngày càng được chuẩn hóa trong các nền kinh tế phát triển thông qua các chương trình hỗ trợ công cộng và các nền tảng kỹ thuật số thân thiện với người dùng – là những điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự chuyển đổi số thực sự. Ràng buộc, như được xác nhận bởi Ramos-Vecino và cộng sự (2026), là vốn con người và thái độ. Điều mà khung lý thuyết hiện tại bổ sung thêm là cái nhìn sâu sắc rằng vốn con người này phải được định hướng cụ thể hướng tới việc tạo ra giá trị dài hạn – không bị ảnh hưởng bởi thiên lệch nhận thức của sự thiển cận của nhà quản lý – để chuyển hóa áp lực bền vững do ESG tạo ra thành sự chuyển đổi số thực chất tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài và hiệu suất kinh tế bền vững.

Tài liệu Tham khảo:
1. Ben Slimane, S., Coeurderoy, R., & Mhenni, H. (2022). Digital transformation of small and medium enterprises: A systematic literature review and an integrative framework. International Studies of Management & Organization, 52(2), 96-120.
2. Chauhan, V., Awasthi, H., Bhati, G., & Awasthi, A. (2024). Determinants of digital technology adoption in innovative SMEs: An integrated TOE-DOI perspective. Technological Forecasting and Social Change, 199, 123280.
3. Czakon, W., Klimas, P., Kawa, A., & Kraus, S. (2023). How myopic are managers? Development and validation of a multidimensional strategic myopia scale. Journal of Business Research, 157, 113573.
4. Danneels, E. (2010). Trying to become a different type of company: Dynamic capability at Smith Corona. Strategic Management Journal, 32(1), 1-31.
5. Eggers, J. P., & Kaplan, S. (2013). Cognition and capabilities: A multi-level perspective. Academy of Management Annals, 7(1), 295-340.
6. Guo, C., Wang, Y., & Yang, Z. (2026). ESG and substantive green innovation in enterprises: The moderating effect of managerial myopia. Energy Conversion and Management: X, 31, 101947.
7. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.
8. Hambrick, D. C., & Mason, P. A. (1984). Upper echelons: The organization as a reflection of its top managers. Academy of Management Review, 9(2), 193-206.
9. Hu, N., Xue, F. J., & Wang, H. N. (2021). Does managerial myopia affect long-term investment? Based on text analysis and machine learning. Journal of Management World, 37, 139-156.
10. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360.
11. Khattak, M. S., Wu, Q., Ahmad, M., & Hattab, I. (2024). The role of managerial overconfidence in digital transformation and sustainable competitive performance in emerging SMEs. Business Strategy & Development, 7(3), e403.
12. Liu, B., Lu, J. R., & Ju, T. (2023). Formalism or substantialism: Research on green innovation under soft market supervision of ESG rating. Nankai Business Review, 26(05), 16-28.
13. Nykänen, N., Vuori, T., & Luoma, J. (2026). Managerial cognition and data-related capability evolution in growth firms: Long Range Planning, 59, 102637.
14. Ramos-Vecino, N., Calzado-Barbero, M., Almodóvar-González, M., & Ramos-Mariño, A. (2026). Sustainable technology adoption in SMEs: Economic policies and managerial drivers for digitalization performance. Sustainable Technology and Entrepreneurship, 5, 100136.
15. Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). The Process of Technology Innovation. Lexington Books.
16. Tripsas, M., & Gavetti, G. (2000). Capabilities, cognition, and inertia: Evidence from digital imaging. Strategic Management Journal, 21(10-11), 1147-1161.
17. Zahoor, N., Zopiatis, A., Adomako, S., & Lamprinakos, G. (2023). The micro-foundations of digitally transforming SMEs: How digital literacy and technology interact with managerial attributes. Journal of Business Research, 159, 113755.
18. Zhang, W., Zhao, Y., & Meng, F. (2024). ESG performance and green innovation of Chinese enterprises: Based on the perspective of financing constraints. Journal of Environmental Management, 370, 122955.