Xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong kỷ nguyên số

Developing political commissars in infantry divisions for the digital era

Thượng tá Vũ Văn Nam
Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh là lực lượng giữ vai trò hạt nhân, quyết định đến chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của đơn vị trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháp xây dựng đội ngũ chính trị viên trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Chính trị viên; sư đoàn bộ binh; chất lượng tổng hợp; sức mạnh chiến đấu; kỷ nguyên số.

Abstract: The team of political officers in infantry divisions plays a pivotal role in determining the overall quality and combat effectiveness of the unit in the digital age. This article analyzes the current situation and proposes several solutions for building the team of political officers in the digital age.

Keywords: Political officer; infantry division; overall quality; combat effectiveness; digital age.

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quyết định của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” (Hồ Chí Minh toàn tập. (2011). Tập 5). Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Người đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ trực tiếp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, những người giữ “linh hồn, mạch sống” của quân đội: “Có sự thắng lợi đó, là do các cấp trên khéo cổ động, các chính trị viên khéo tổ chức…” (Hồ Chí Minh toàn tập. (2011). Tập 5). Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là khâu “then chốt của then chốt”.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026). Đây là quá trình đòi hỏi các sư đoàn bộ binh tập trung sắp xếp, tinh chỉnh lại tổ chức theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, hiện đại. Sự đổi mới căn bản về tổ chức lực lượng, phương thức tác chiến và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ quân sự không chỉ đặt ra yêu cầu cao hơn về vũ khí trang bị, mà trước hết đòi hỏi một bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh là những người chủ trì về chính trị, giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”. Việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ này theo tinh thần Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) trở thành một đòi hỏi khách quan, mang tính quy luật nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Xét từ góc độ quản lý, xây dựng đội ngũ chính trị viên vững mạnh không đơn thuần là nhiệm vụ nội bộ của các sư đoàn bộ binh, mà là một nội dung quan trọng trong chiến lược hoàn thiện thể chế quản lý nguồn nhân lực quốc phòng, tối ưu hóa tổ chức biên chế thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tuy nhiên, trước tác động sâu sắc của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của không gian mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống, mô hình quản lý và phương thức hoạt động của đội ngũ chính trị viên đang bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định so với yêu cầu của kỷ nguyên số. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá khách quan thực trạng, nhận diện rõ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” trong xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.

2. Thực trạng xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trước yêu cầu “tinh, gọn, mạnh”, hiện đại và chuyển đổi số

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cấp ủy đảng, công tác xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đồng thời cũng đặt ra những điểm nghẽn cần tháo gỡ.

2.1. Kết quả đạt được

Một là, về quy hoạch và cơ cấu. Các đơn vị đã bảo đảm bố trí đủ số lượng chính trị viên theo biên chế chức danh, duy trì tính ổn định và kế thừa vững chắc giữa các thế hệ. Kết quả này có được nhờ việc quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc Quy chế số 2036-QC/QUTW ngày 16/06/2023 và Quy định số 500-QĐ/QUTW ngày 10/04/2026 của Quân ủy Trung ương.

Hai là, về bản lĩnh chính trị và phẩm chất. Tuyệt đại đa số chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh có lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, lối sống mẫu mực, trong sạch. Trọng tâm là đã phát huy tốt vai trò “hạt nhân” đoàn kết, lãnh đạo và định hướng dư luận vững chắc trước các thông tin xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Ba là, về trình độ và năng lực. Phần lớn chính trị viên có trình độ đại học trở lên, có tư duy nhạy bén trong cụ thể hóa nghị quyết sát với thực tiễn đơn vị. Đồng thời, đội ngũ này luôn giữ vững vai trò trung tâm đoàn kết, chủ trì về chính trị và xử lý hiệu quả các tình huống tư tưởng phức tạp nảy sinh tại cơ sở.

2.2. Những hạn chế và điểm nghẽn

Thứ nhất, về phương pháp quản lý và tính nhạy bén công nghệ. Công tác quản lý, đánh giá cán bộ ở một số đơn vị còn nặng về hồ sơ hành chính, văn bằng. Một bộ phận chính trị viên chưa kịp thời bắt nhịp với yêu cầu quản lý dữ liệu và định hướng tư tưởng trên không gian mạng, dẫn đến tình trạng tụt hậu về công nghệ, ngoại ngữ và giảm tính nhạy bén chính trị trước các thông tin phức tạp trên mạng xã hội.

Thứ hai, về thực hiện nguyên tắc sinh hoạt Đảng. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có nơi, có lúc còn biểu hiện hình thức. Cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” đôi khi bị lạm dụng để đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cá nhân, hoặc tạo tâm lý e dè, ngại va chạm trước các vấn đề nhân sự nhạy cảm tại cơ sở.

Thứ ba, về tính đồng bộ trong công tác cán bộ. Các khâu trong quy trình quản lý cán bộ (từ quy hoạch, đào tạo đến bố trí, sử dụng) chưa có sự gắn kết chặt chẽ, chưa thực sự lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ thực tế làm thước đo chủ yếu. Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ và hậu phương quân đội có mặt chưa giải quyết thật hài hòa với sự cống hiến thực tế ngày càng cao của đội ngũ cán bộ.

Thứ tư, về đổi mới tác phong lãnh đạo. Tác phong công tác của một số chính trị viên chậm được đổi mới; tình trạng hội họp, hành chính còn nhiều, gây quá tải, làm thu hẹp quỹ thời gian tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ.

3. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh

Từ thực trạng kết quả đạt được và những điểm nghẽn nêu trên, công tác xây dựng đội ngũ chính trị viên tại các sư đoàn bộ binh hiện nay đang đứng trước ba vấn đề cốt lõi có tính quyết định, đòi hỏi phải giải quyết bằng hệ thống giải pháp đột phá:

Một là, thể chế hóa khung năng lực số gắn liền với tối ưu hóa quản lý dữ liệu. Thực tiễn thiếu hụt một hệ tiêu chí chuẩn hóa về năng lực công nghệ cho cán bộ chủ trì về chính trị đang tạo ra những rào cản đối với tiến trình xây dựng đơn vị “tinh, gọn, mạnh”. Yêu cầu cấp bách đặt ra là phải nâng tầm tư duy quản lý thông qua việc từng bước nghiên cứu ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data). Đây là giải pháp công nghệ quan trọng nhằm chuyển đổi từ quản lý hành chính giấy tờ sang quản lý theo mục tiêu, giúp đội ngũ chính trị viên phân tích chuyên sâu và dự báo chính xác diễn biến tư tưởng của bộ đội trong mọi tình huống.

Hai là, áp lực chuyển đổi phương thức đấu tranh tư tưởng trước sự bùng nổ của không gian mạng. Sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh thông tin tinh vi dựa trên công nghệ tạo dựng giả mạo (Deepfake), tin giả (Fake news) trên trận địa không gian mạng đang tác động trực tiếp đến thế hệ chiến sĩ trẻ – những người sinh ra và lớn lên trong thời đại số. Thực trạng thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng và kịch bản diễn tập công nghệ ở cấp cơ sở đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện kỹ năng tác chiến thông tin của chính trị viên. Đội ngũ này không thể chỉ tuyên truyền theo phương thức truyền thống, mà phải có đủ năng lực làm chủ công nghệ để chủ động định hướng dư luận và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, yêu cầu hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm cá nhân. Trong mô hình tổ chức biên chế lực lượng mới, việc giải quyết mối quan hệ giữa chế độ một người chỉ huy và vai trò của chính trị viên đòi hỏi một hành lang kiểm soát quyền lực thực chất. Vấn đề đặt ra là phải cụ thể hóa quy chế trách nhiệm cá nhân (nhất là người giới thiệu, người đánh giá nhân sự), tách biệt rõ ràng với thẩm quyền của tập thể cấp ủy. Việc tháo gỡ nút thắt này là điều kiện tiên quyết để xóa bỏ triệt để hiện tượng lạm dụng cơ chế “tập thể lãnh đạo” nhằm đùn đẩy trách nhiệm, tạo động lực thực chất cho cán bộ tự học, tự rèn và cống hiến.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, đổi mới tư duy quản lý, chuẩn hóa khung năng lực số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Trước hết, các cấp ủy đảng và cơ quan chức năng cần chuyển mạnh mẽ từ phương thức quản lý, đánh giá cán bộ định tính, nặng về văn bằng hành chính sang phương thức định lượng. Thước đo chủ yếu phải dựa vào kết quả thực hiện chức trách, năng lực thực tiễn, bản lĩnh chính trị và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị do chính trị viên chủ trì. Đổi mới toàn diện công tác dự báo nhu cầu đào tạo, bố trí sử dụng để khắc phục triệt để tình trạng thừa, thiếu cục bộ chính trị viên ở một số đơn vị hiện nay. Đổi mới tư duy quản lý phải gắn liền với việc ban hành và chuẩn hóa “Khung năng lực số” dành riêng cho lực lượng chủ trì về chính trị. Các đơn vị cần tăng cường phối hợp với các học viện, nhà trường quân đội để tích hợp khoa học quản lý hiện đại, công nghệ thông tin và ngoại ngữ vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Quy định bắt buộc nội dung tự học, tự rèn của cán bộ phải nâng tầm từ kỹ năng tin học văn phòng cơ bản lên năng lực lãnh đạo, chỉ huy và điều hành hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trên các nền tảng số.

Cùng với việc đổi mới tư duy và khung năng lực, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải từng bước thể chế hóa việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) vào công tác cán bộ và hoạt động thực tiễn của chính trị viên. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, triển khai đồng bộ các phần mềm quản lý dữ liệu chuyên ngành để theo dõi chính xác biến động chất lượng cán bộ, quản lý hồ sơ đảng viên, nhằm tối ưu hóa quy trình và giảm tải tối đa gánh nặng hành chính cho cơ sở. Đặc biệt, cần trang bị cho chính trị viên các công cụ kỹ thuật phân tích dữ liệu chuyên sâu để chủ động nắm bắt, dự báo chính xác xu hướng tư tưởng của bộ đội. Xây dựng các kịch bản diễn tập công nghệ, nâng cao kỹ năng xử lý tình huống, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả tin giả, thông tin xấu độc và các quan điểm sai trái của thế lực thù địch trên trận địa không gian mạng.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân.

Một trong những giải pháp then chốt hiện nay là phải tập trung rà soát, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc của các cấp ủy đảng, bảo đảm sự phân định rõ ràng, thực chất giữa thẩm quyền quyết định của tập thể cấp ủy với trách nhiệm của cá nhân cán bộ chủ trì (chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy cùng cấp). Khắc phục triệt để tình trạng lạm dụng cơ chế “tập thể lãnh đạo” để đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cá nhân hoặc tạo tâm lý e dè trước các vấn đề nhân sự nhạy cảm. Phân định thẩm quyền, cần phải thể chế hóa cơ chế quy trách nhiệm liên đới nghiêm minh trong công tác cán bộ. Cơ quan chức năng cần ban hành các quy định cụ thể về trách nhiệm chính trị trực tiếp đối với cá nhân người giới thiệu, đề xuất và cơ quan thẩm định nguồn nhân sự. Cần áp dụng các chế tài xử lý liên đới nghiêm khắc nếu chính trị viên được bổ nhiệm vi phạm kỷ luật hoặc không hoàn thành nhiệm vụ do năng lực yếu kém; đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung theo đúng tinh thần các quy định hiện hành của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Hoàn thiện thể chế, các đơn vị phải tăng cường công tác kiểm tra chuyên trách gắn liền với phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì. Duy trì nghiêm nếp công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra chéo mang tính công khai, minh bạch của cơ quan chức năng cấp trên đối với cơ sở. Quá trình kiểm tra phải tập trung nhận diện, kịp thời phát hiện và xóa bỏ tâm lý ỷ lại, trông chờ vào cấp trên hoặc biểu hiện thỏa hiệp, ngại va chạm trong đánh giá nhân sự tại đơn vị. Trong thực hiện, phải lấy sự gương mẫu, tinh thần trách nhiệm của chính ủy, người chỉ huy cấp trên làm cơ sở và thước đo thực tế để giáo dục, rèn luyện tư tưởng, tác phong công tác cho đội ngũ chính trị viên cấp dưới.

Thứ ba, thiết lập tính đồng bộ trong quy trình nhân sự và thực chất hóa chính sách hậu phương.

Công tác cán bộ trong điều kiện điều chỉnh tổ chức biên chế của sư đoàn, các cơ quan chức năng cần tập trung chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình quy hoạch tĩnh, rập khuôn sang mô hình quy hoạch “động” và “mở”, bảo đảm tính liên tục, kế thừa khoa học và kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ, khép kín. Quá trình này đòi hỏi phải tích hợp sâu rộng dữ liệu số hóa vào toàn bộ hồ sơ quản lý cán bộ, giúp các cấp ủy đảng theo dõi, giám sát theo thời gian thực về quá trình công tác, sự trưởng thành cũng như biến động tư tưởng của đội ngũ chính trị viên. Trên cơ sở dữ liệu đồng bộ đó, các đơn vị cần xây dựng cơ chế đánh giá đa chiều, định lượng cụ thể theo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc áp dụng triệt để phương pháp tự phê bình và phê bình, kết hợp kiểm tra chéo, đánh giá đa chiều công khai sẽ góp phần chấm dứt tình trạng nhận xét một chiều, cảm tính, nể nang hoặc né tránh tại cơ sở. Thước đo chính xác nhất để đánh giá, phân loại chất lượng chính trị viên phải dựa vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ thực tế của đơn vị, từ đó ngăn chặn từ sớm, từ xa hiện tượng bố trí, sử dụng cán bộ không đúng tiêu chuẩn, chức danh.

Cùng với việc đổi mới quy trình nhân sự, việc thực chất hóa hệ thống chính sách đãi ngộ và hậu phương quân đội là giải pháp tạo động lực trực tiếp cho đội ngũ chính trị viên yên tâm cống hiến. Các cấp ủy, chỉ huy sư đoàn cần chủ động rà soát, nắm chắc hoàn cảnh gia đình của từng cán bộ để kịp thời giải quyết thấu đáo, hiệu quả những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần. Việc thực hiện tốt, đầy đủ các chế độ chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước và Quân đội, kết hợp với các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ gia đình chính trị viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sẽ tạo nên điểm tựa tâm lý vững chắc. Đây là cơ sở quan trọng giúp đội ngũ chính trị viên vượt qua áp lực công tác đặc thù tại các sư đoàn bộ binh, xây dựng tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính quân sự, tối ưu hóa quỹ thời gian tự học tập.

Để nâng cao hiệu quả công tác của chính trị viên trong bối cảnh đơn vị “tinh, gọn, mạnh”, một giải pháp có ý nghĩa thực tế rất lớn là phải tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính quân sự và chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình quản trị theo mục tiêu nhiệm vụ hiện đại. Các cơ quan chức năng và cấp ủy cấp trên cần rà soát, cắt giảm triệt để các cuộc họp không thực sự cần thiết, tinh giản hệ thống văn bản, sổ sách và giảm bớt các thủ tục giấy tờ hành chính rườm rà. Việc ứng dụng toàn diện hệ thống văn phòng điện tử, chữ ký số và các phần mềm điều hành thông minh vào quy trình quản lý sẽ giúp tối ưu hóa công tác chỉ huy, điều hành của chính trị viên. Xây dựng thời gian biểu làm việc khoa học, thiết lập và bảo đảm quỹ thời gian cố định trong ngày, trong tuần dành cho nhiệm vụ tự học tập của đội ngũ chính trị viên. Khắc phục triệt để tình trạng hội họp nhiều làm phá vỡ kế hoạch học tập cá nhân sẽ giúp đội ngũ chính trị viên có đủ không gian và thời gian tư duy, phát huy tinh thần sáng tạo trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự tại đơn vị.

Quản lý hoạt động tự học tập của đội ngũ chính trị viên cần phải được số hóa và gắn kết chặt chẽ với quy trình điều động, bổ nhiệm cán bộ. Các đơn vị cần xây dựng phần mềm quản lý, giám sát kế hoạch tự học theo hướng thực chất, lấy việc cập nhật tri thức khoa học quân sự mới, làm chủ công nghệ số và nâng cao trình độ ngoại ngữ làm nội dung trọng tâm. Quá trình kiểm tra, đánh giá phải thực hiện nghiêm túc, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện thỏa mãn, lười học tập hoặc học tập mang tính chất đối phó, lấy bằng cấp làm bình phong. Kết quả tự học, tự rèn luyện và năng lực làm chủ công nghệ thực tế phải được xem xét như một tiêu chuẩn bắt buộc, một tiêu chí cứng để các cấp ủy đảng đánh giá, nhận xét và đề bạt, bổ nhiệm cán bộ tại các sư đoàn bộ binh hiện nay.

5. Kết luận

Xây dựng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong bối cảnh hiện nay là một yêu cầu khách quan, mang tính quy luật, gắn liền với mục tiêu chiến lược xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tiếp cận từ góc độ khoa học xây dựng Đảng và quản lý nguồn nhân lực quốc phòng, chất lượng của đội ngũ này không chỉ quyết định đến sức mạnh chiến đấu của đơn vị mà còn là thước đo hiệu quả của chiến lược quản trị nguồn nhân lực quân sự hiện đại. Trước những thách thức mang tính bước ngoặt của kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các hình thái đấu tranh tư tưởng phức tạp trên không gian mạng, mô hình quản lý cán bộ truyền thống cần phải có những chuyển biến mạnh mẽ, bắt kịp xu thế quản trị hiện đại. Việc nhận diện rõ các “điểm nghẽn” về tư duy công nghệ, nút thắt trong thể chế kiểm soát quyền lực, sự thiếu liên kết trong quy trình nhân sự và áp lực hành chính hóa là cơ sở thực tiễn khách quan để xác định các nội dung, biện pháp đổi mới toàn diện.

Để xây dựng đội ngũ chính trị viên vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt hệ thống các giải pháp đột phá. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới tư duy quản lý, chuẩn hóa khung năng lực số gắn với ứng dụng công nghệ, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân, đẩy mạnh cải cách hành chính quân sự và thực chất hóa chính sách hậu phương quân đội. Thực hiện thắng lợi hệ thống giải pháp này chính là chìa khóa khoa học nhằm xây dựng đội ngũ chính trị viên có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có năng lực công nghệ và tư duy quản lý hiện đại, bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội trong mọi tình huống.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2005). Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Bộ Chính trị (2023). Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
3. Chính phủ (2021). Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. “Sửa đổi lối làm việc” (1947). H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 269.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. “Thư gửi toàn thể bộ đội Khu II và Khu III (1948)”. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 469.
8. Quân ủy Trung ương (2019). Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11/02/2019 về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
9. Quân ủy Trung ương (2022). Quy định số 1663-QĐ/QUTW ngày 21/12/2022 về luân chuyển cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
10. Quân ủy Trung ương (2023). Quy chế số 2036-QC/QUTW ngày 16/6/2023 về công tác cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
11. Quân ủy Trung ương (2026). Quy định số 500-QĐ/QUTW ngày 10/4/2026 về phân cấp quản lý cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạm đình chỉ công tác, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.