Urbanization and the spatial distribution of public primary schools in Hanoi under the two-tier local government model: challenges for equitable educational access
Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Trường Tiểu học Chu Văn An A
Email: thuytrangcvaa1@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích áp lực của đô thị hóa đối với mạng lưới trường tiểu học công lập ở thành phố Hà Nội trong bối cảnh bước vào năm học 2026 – 2027 và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Kết quả phân tích cho thấy, áp lực không chỉ xuất phát từ gia tăng dân số mà còn từ sự không đồng bộ giữa phát triển nhà ở, bố trí đất trường học, đầu tư công, tuyển sinh, nhân lực giáo viên và dữ liệu cư trú. Trên cơ sở cập nhật cách tiếp cận theo phường, xã sau sắp xếp đơn vị hành chính, bài viết đề xuất một số giải pháp: lập bản đồ nhu cầu chỗ học theo khu dân cư; ràng buộc dự án nhà ở với chỉ tiêu trường công lập; ưu tiên đầu tư theo điểm nóng; thiết lập cơ chế nhân lực linh hoạt và bảo đảm công bằng tiếp cận cho trẻ em di cư, trẻ em trong hộ thuê nhà.
Từ khóa: Đô thị hóa; giáo dục tiểu học; trường công lập; chính quyền địa phương hai cấp; phường, xã; quản lý nhà nước; thành phố Hà Nội.
Abstract: This article analyzes the pressures of urbanization on the network of public elementary schools in Hanoi as the city enters the 2026–2027 school year and implements a two-tier local government model. The analysis reveals that the pressure stems not only from population growth but also from the lack of synchronization between housing development, school site allocation, public investment, student enrollment, teacher staffing, and residential data. Based on an updated ward- and commune-level approach following administrative reorganization, this paper proposes several solutions: mapping school demand by residential area; linking housing projects to public school quotas; prioritizing investment in high-demand areas; establishing a flexible staffing mechanism; and ensuring equitable access for migrant children and children in rental households.
Keywords: Urbanization; elementary education; public schools; two-tier local government; wards and communes; public administration; Hanoi City.
1. Đặt vấn đề
Trường tiểu học công lập là thiết chế giáo dục cơ bản và là một bộ phận của hạ tầng xã hội đô thị. Đối với trẻ em trong độ tuổi tiểu học, quyền học tập không chỉ được bảo đảm bằng quy định của pháp luật mà còn phụ thuộc vào khả năng có chỗ học gần nơi cư trú, sĩ số lớp học hợp lý, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu giáo dục bắt buộc và đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu. Vì vậy, trong quản lý nhà nước đô thị, mạng lưới trường tiểu học công lập cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với quy hoạch dân cư, nhà ở, sử dụng đất và chính sách an sinh xã hội.
Thành phố Hà Nội là địa bàn thể hiện rõ mối quan hệ giữa đô thị hóa và áp lực giáo dục tiểu học công lập. Dân số trung bình của thành phố tăng từ khoảng 7,379 triệu người năm 2015 lên khoảng 8,718 triệu người năm 2024; quy mô dân số tăng thêm hơn 629 nghìn người trong giai đoạn gần đây (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2025). Cùng với gia tăng dân số, sự phát triển nhanh của các khu đô thị, nhà chung cư, nhà ở xã hội và các vùng ven đô chuyển tiếp làm nhu cầu chỗ học tiểu học tăng không đều giữa các địa bàn. Áp lực thường tập trung tại các phường, xã có tốc độ tăng dân cư cơ học cao, nơi dân cư mới đến nhanh hơn tốc độ hình thành trường công lập.
Ở cấp tiểu học, năm học 2023 – 2024, Hà Nội có 829 trường, trên 20.700 lớp, xấp xỉ 778 nghìn học sinh và gần 22 nghìn phòng học; sĩ số bình quân đạt 37,5 học sinh/lớp (Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, 2024). Mức này vẫn cao hơn ngưỡng không quá 35 học sinh/lớp theo Điều lệ trường tiểu học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Nếu lấy ngưỡng 35 học sinh/lớp làm chuẩn, số lớp hiện có chỉ tương ứng khoảng 724,5 nghìn chỗ học, thấp hơn nhu cầu thực tế khoảng 53,5 nghìn chỗ. Đây là chỉ dấu cho thấy, vấn đề đã vượt khỏi phạm vi cục bộ của một số trường và trở thành áp lực có tính cấu trúc đối với quản lý mạng lưới giáo dục cơ sở.
Bối cảnh sau ngày 01/7/2026 đặt ra yêu cầu cập nhật cách diễn đạt và đơn vị phân tích. Khi Hà Nội vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã, quản lý giáo dục cơ sở không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào logic của quận, huyện như trước đây. Theo hệ thống đơn vị hành chính mới, Hà Nội có 126 đơn vị cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2020). Do đó, bài toán trường tiểu học công lập cần được đặt ở cấp phường, xã và khu dân cư, nơi phát sinh trực tiếp nhu cầu tuyển sinh, phân tuyến, bố trí phòng học và bảo đảm công bằng tiếp cận.
2. Cơ sở chính sách và cách tiếp cận phân tích
Về cơ sở pháp lý, Luật Giáo dục năm 2019 xác định giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm điều kiện thực hiện giáo dục bắt buộc. Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 quy định mỗi lớp học có không quá 35 học sinh. Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất đối với trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. Như vậy, chuẩn chính sách đối với trường tiểu học công lập gồm ba yêu cầu cơ bản: có đủ chỗ học, lớp học không vượt chuẩn và cơ sở vật chất đáp ứng điều kiện tối thiểu.
Đối với Hà Nội, Luật Thủ đô năm 2024 tạo khung thể chế quan trọng cho phát triển giáo dục trong đô thị đặc biệt. Luật yêu cầu phát triển hệ thống trường học công lập, bố trí quỹ đất xây dựng trường học ở vị trí thuận lợi, đồng thời mở rộng dư địa chính sách về tài chính, đầu tư và quản lý nguồn nhân lực cho thành phố (Quốc hội, 2024). Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 dự báo dân số thường trú của Hà Nội đạt khoảng 10,5 triệu người vào năm 2030, khoảng 12,5 triệu người vào năm 2045 và khoảng 13 triệu người vào năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Đây là căn cứ để nhận diện nhu cầu giáo dục tiểu học tiếp tục gia tăng, đặc biệt tại các hành lang phát triển đô thị mới.
Từ sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cấp phường, xã trở thành cấp trực tiếp hơn trong quản trị dân cư, tiếp nhận nhu cầu dịch vụ công và tổ chức thực thi chính sách tại cơ sở. Trước đây, nhiều báo cáo giáo dục được tổng hợp theo quận, huyện; hiện nay, các tên gọi, như: Hoàng Mai, Hà Đông, Long Biên, Hoài Đức trong phân tích cần được hiểu là địa bàn cũ để tham chiếu lịch sử, còn thực thi chính sách phải chuyển trọng tâm sang các phường, xã mới, như: Hoàng Mai, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở, Long Biên, Bồ Đề, Việt Hưng, Phúc Lợi, Hà Đông, Dương Nội, Yên Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng, Hoài Đức, Dương Hòa, Sơn Đồng, An Khánh và các địa bàn liên quan. Theo đó, áp lực đối với mạng lưới trường tiểu học công lập không chỉ được đo bằng số trường, số lớp hay số phòng học mà còn bằng mức độ tương thích giữa nhu cầu thực tế của dân cư với năng lực cung ứng của hệ thống công lập. Chính sách có thể đúng về mục tiêu nhưng vẫn chưa hiệu quả nếu dữ liệu dự báo không kịp thời, quy hoạch đất trường học đi sau quy hoạch nhà ở, đầu tư công có độ trễ dài hoặc tuyển sinh chưa phản ánh đầy đủ biến động cư trú.
3. Áp lực đô thị hóa đối với mạng lưới trường tiểu học công lập
Áp lực đầu tiên là cầu chỗ học tăng nhanh và phân bố không đều. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết toàn thành phố mỗi năm xây thêm khoảng 35 – 40 trường, nhưng số học sinh vẫn tăng khoảng 40 – 60 nghìn em/năm học (Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, 2023). Tốc độ mở rộng năng lực cung ứng vì vậy luôn phải chạy theo tốc độ gia tăng của cầu. Vấn đề phức tạp hơn ở chỗ nhu cầu không tăng đồng đều trên toàn thành phố mà tập trung tại các khu đô thị mới, khu nhà ở xã hội, cụm chung cư cao tầng và những nơi có tỷ lệ dân cư nhập cư, thuê nhà cao.
Trong hệ thống phường, xã mới, sức ép thể hiện rõ ở một số cụm địa bàn. Phía Nam và Đông Nam gồm các phường Hoàng Mai, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở và một phần Lĩnh Nam, Thanh Liệt là nơi tích tụ dân cư nhà cao tầng. Phía Tây, gồm: Hà Đông, Dương Nội, Yên Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng, Xuân Phương, Tây Mỗ, Đại Mỗ có tốc độ phát triển nhà ở và sự dịch chuyển cư trú mạnh. Phía Đông gồm Long Biên, Bồ Đề, Việt Hưng, Phúc Lợi và vùng Gia Lâm mới là hành lang phát triển đô thị quan trọng. Vùng ven đô như Hoài Đức, Dương Hòa, Sơn Đồng, An Khánh, Đông Anh, Thư Lâm, Phúc Thịnh, Gia Lâm, Thuận An, Bát Tràng, Phù Đổng chịu áp lực kép: vừa giữ chức năng dân cư truyền thống, vừa hấp thụ dân cư đô thị mới.
Áp lực thứ hai là quỹ đất của trường học. Ở khu vực nội đô và nội đô mở rộng, quỹ đất sạch dành cho trường học ngày càng khan hiếm; chi phí giải phóng mặt bằng lớn; việc mở rộng trường hiện hữu gặp giới hạn về diện tích, mật độ dân cư và giao thông tiếp cận. Ở vùng ven đô chuyển tiếp, quỹ đất có thể còn rộng hơn nhưng lại chịu sức ép chuyển đổi nhanh sang nhà ở, dịch vụ và hạ tầng giao thông. Luật Thủ đô năm 2024 đã nhấn mạnh yêu cầu bố trí quỹ đất trường học ở vị trí thuận lợi, nhưng để quy định này đi vào thực tế, chỉ tiêu đất giáo dục phải được ràng buộc ngay từ khâu phê duyệt và nghiệm thu dự án nhà ở.
Áp lực thứ ba là độ trễ đầu tư công và cơ sở vật chất. Nghị quyết số 02/NQ-HĐND ngày 08/4/2022 của Hà Nội đã bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn cho chương trình xây dựng, cải tạo trường công lập đạt chuẩn quốc gia; thành phố đã bố trí nguồn lực đáng kể cho hạ tầng giáo dục, y tế và văn hóa. Tuy nhiên, đầu tư trường học ở đô thị lớn phụ thuộc vào đất sạch, thủ tục dự án, nguồn vốn, thiết kế, đấu thầu, xây dựng, tuyển dụng giáo viên và tổ chức vận hành. Vì vậy, ngay cả khi vốn đầu tư tăng, khả năng giải quyết quá tải vẫn có độ trễ.
Áp lực thứ tư là nhân lực giáo viên. Một trường mới chỉ tạo ra năng lực cung ứng thực chất khi có đủ phòng học, phòng chức năng, giáo viên, nhân viên hỗ trợ, thiết bị dạy học và điều kiện bán trú. Trường hợp địa bàn Hoàng Mai cũ cho thấy, dù địa phương dành tỷ lệ lớn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản cho giáo dục và tuyển dụng bổ sung giáo viên, áp lực vẫn kéo dài do dân số học sinh tăng nhanh. Bước sang hệ thống phường mới, vấn đề này cần được phân tích cụ thể hơn tại các phường Hoàng Mai, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở và các địa bàn lân cận, thay vì chỉ tổng hợp theo quận cũ.
Áp lực thứ năm là tuyển sinh và công bằng trong tiếp cận. Kế hoạch tuyển sinh đầu cấp của Hà Nội nhấn mạnh nguyên tắc đúng tuyến, đủ chỗ và không để quá tải sĩ số/lớp. Nguyên tắc này giúp duy trì trật tự phân luồng, hạn chế chạy trường và gắn trách nhiệm của chính quyền cơ sở với việc bảo đảm chỗ học theo địa bàn cư trú. Tuy nhiên, trong bối cảnh cư trú đô thị linh động, nhóm hộ thuê nhà, lao động di cư, hộ chuyển đến khu đô thị mới hoặc hộ chưa ổn định nơi ở có thể chịu chi phí tiếp cận cao hơn nếu trường công lập gần nơi ở quá tải. Báo cáo của UNESCO về giáo dục và di cư cũng cho thấy người di cư thường gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận giáo dục công lập, đặc biệt tại khu vực có dịch vụ công chưa phát triển tương xứng (UNESCO, 2019, 2025).
Từ các áp lực trên, có thể thấy mạng lưới trường tiểu học công lập chịu tác động của nhiều quyết định ngoài phạm vi ngành Giáo dục. Quy hoạch sử dụng đất, cấp phép xây dựng nhà ở, phát triển nhà ở xã hội, đầu tư giao thông, quản lý cư trú, giao biên chế, tuyển dụng viên chức và phân bổ ngân sách đều ảnh hưởng đến khả năng có chỗ học công lập. Chính sách phát triển nhà ở xã hội theo Đề án một triệu căn hộ và Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 01/8/2024 của Chính phủ là cần thiết về an sinh nhưng nếu chỉ tiêu trường học không được tích hợp vào tiến độ dự án nhà ở, các khu dân cư mới có thể tạo thêm nhu cầu học tập trong khi trường công lập chưa sẵn sàng.
4. Một số vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước
Thứ nhất, quản lý mạng lưới trường tiểu học công lập còn có độ trễ so với biến động dân cư. Công tác tuyển sinh hằng năm chủ yếu xử lý nhu cầu trước mắt, trong khi quy hoạch trường học và đầu tư công cần thời gian chuẩn bị dài. Khi dữ liệu dự báo chưa đủ chi tiết đến phường, xã và khu dân cư, chính quyền khó nhận diện sớm điểm nóng để đi trước một bước.
Thứ hai, quy hoạch trường học chưa luôn được tích hợp chặt chẽ với quy hoạch nhà ở và quy hoạch sử dụng đất. Trong nhiều trường hợp, dự án nhà ở phát sinh nhu cầu giáo dục nhanh hơn tiến độ bố trí trường học. Đây là biểu hiện của sự thiếu đồng bộ giữa phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và quản trị dân cư.
Thứ ba, tiêu chí đánh giá chính sách còn thiên về đầu vào. Số trường xây mới, số phòng học, số dự án đầu tư và số trường đạt chuẩn quốc gia là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa đủ để phản ánh chất lượng tiếp cận. Quản lý nhà nước cần bổ sung các chỉ tiêu kết quả như sĩ số bình quân lớp 1, tỷ lệ lớp vượt chuẩn 35 học sinh, tỷ lệ học 2 buổi/ngày, quãng đường đi học, tỷ lệ học sinh được tiếp nhận gần nơi cư trú và chênh lệch sĩ số giữa các trường trong cùng địa bàn.
Thứ tư, cơ chế phối hợp liên ngành chưa tương xứng với tính liên ngành của vấn đề. Để giải quyết thiếu trường tiểu học công lập, ngành giáo dục không thể hành động đơn lẻ; cần sự phối hợp giữa các cơ quan về quy hoạch, xây dựng, tài nguyên và môi trường, tài chính, nội vụ, công an, giao thông, cùng chính quyền phường, xã. Công bằng tiếp cận cũng phải trở thành tiêu chí trung tâm, bởi trẻ em trong hộ di cư, hộ thuê nhà, hộ thu nhập thấp hoặc hộ thường xuyên thay đổi nơi ở có thể chịu chi phí giáo dục lớn hơn nhóm cư dân ổn định.
5. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách
Một là, Hà Nội cần chuyển từ cách quản lý dựa chủ yếu trên kế hoạch tuyển sinh hằng năm sang mô hình dự báo nhu cầu chỗ học theo dữ liệu liên thông. Thành phố cần xây dựng “bản đồ cầu chỗ học” ở cấp phường, xã và khu dân cư, kết nối dữ liệu khai sinh, cư trú, chuyển đến – chuyển đi, số căn hộ bàn giao, số trẻ trong độ tuổi tiểu học và năng lực tiếp nhận của từng trường. Công cụ này phải là căn cứ bắt buộc khi giao chỉ tiêu tuyển sinh, điều chỉnh tuyến tuyển sinh và xác định danh mục đầu tư trường học. Dự báo cần đi trước ít nhất 3-5 năm để phù hợp với chu kỳ chuẩn bị đầu tư, xây dựng trường học và biến động dân cư tại các khu đô thị mới.
Hai là, cần ràng buộc chặt chẽ hơn giữa phát triển nhà ở và phát triển trường học công lập. Chỉ tiêu trường công lập hoặc quỹ đất trường học phải được đưa vào điều kiện bắt buộc khi chấp thuận chủ trương đầu tư các khu đô thị, khu nhà ở quy mô lớn và dự án nhà ở xã hội. Việc nghiệm thu, bàn giao và đưa dân vào ở cần được kiểm soát đồng bộ với tiến độ hạ tầng xã hội tối thiểu. Đối với các khu dân cư đã hình thành nhưng thiếu trường, thành phố cần rà soát quỹ đất công, quỹ đất sau di dời, quỹ đất xen kẹt và khả năng chuyển đổi công năng để bổ sung trường công lập.
Ba là, nguồn lực đầu tư công cần được phân bổ theo mức độ áp lực thực tế, ưu tiên các phường, xã có tốc độ tăng dân số cơ học cao, sĩ số vượt chuẩn kéo dài, tỷ lệ học 2 buổi/ngày thấp hoặc khoảng cách tiếp cận trường học lớn. Việc phân bổ vốn nên dựa trên bộ chỉ số áp lực, thay vì chỉ căn cứ vào đề xuất hành chính hoặc số lượng dự án đã chuẩn bị sẵn. Hiệu quả đầu tư cần được đo bằng kết quả cuối cùng: giảm sĩ số, tăng chỗ học gần nơi cư trú, nâng tỷ lệ học 2 buổi/ngày, cải thiện điều kiện bán trú và mở rộng cơ hội tiếp cận cho nhóm yếu thế.
Bốn là, bên cạnh đất và vốn, thành phố cần thiết lập cơ chế nhân lực giáo dục linh hoạt cho các địa bàn tăng dân số nhanh. Trên cơ sở thẩm quyền đặc thù của Luật Thủ đô, Hà Nội có thể nghiên cứu cơ chế bổ sung, điều chuyển hoặc hợp đồng giáo viên theo nhu cầu thực tế, nhất là trong giai đoạn trường mới đi vào hoạt động hoặc khi một địa bàn phát sinh đột biến học sinh đầu cấp. Tỷ lệ giáo viên/lớp, tỷ lệ vị trí việc làm giáo viên còn khuyết và tỷ lệ lớp học 2 buổi/ngày cần được coi là các chỉ báo bắt buộc trong quản lý mạng lưới trường học.
Năm là, chính sách tuyển sinh cần bảo đảm công bằng tiếp cận tốt hơn cho trẻ em di cư, trẻ em trong hộ thuê nhà hợp pháp và các hộ gia đình có nơi ở không ổn định. Nguyên tắc đúng tuyến không nên được hiểu cứng nhắc theo địa giới hành chính mà cần gắn với mục tiêu bảo đảm khả năng tiếp cận thực chất. Thành phố cần giảm gánh nặng giấy tờ, tăng hướng dẫn công khai và có cơ chế điều tiết để trẻ được học gần nơi cư trú thực tế. Các chỉ số như tỷ lệ hồ sơ đầu cấp phải điều tiết xa nơi ở, tỷ lệ trẻ em di cư được tiếp nhận vào trường công lập gần nơi cư trú, chênh lệch sĩ số giữa các trường trong cùng phường, xã và chi phí đi học của hộ gia đình cần được theo dõi định kỳ.
Sáu là, cần tăng cường phối hợp liên ngành và trách nhiệm giải trình. Cơ chế điều phối nên đặt dưới sự chỉ đạo của UBND thành phố, với sự tham gia của các sở, ngành liên quan và đại diện chính quyền phường, xã tại các địa bàn áp lực cao. Nhiệm vụ của cơ chế này không chỉ là xử lý thiếu trường đã phát sinh, mà còn nhận diện sớm nguy cơ thiếu trường trước khi dự án nhà ở bàn giao. Khi một khu dân cư mới thiếu trường công lập, cần xác định rõ nguyên nhân thuộc khâu quy hoạch, phê duyệt dự án, bố trí đất, đầu tư công, tuyển sinh hay nhân sự. Chỉ khi trách nhiệm được phân định rõ, chính sách phát triển mạng lưới trường tiểu học công lập mới chuyển từ phản ứng bị động sang quản trị chủ động.
6. Kết luận
Đô thị hóa đang tạo ra áp lực đa chiều lên mạng lưới trường tiểu học công lập ở thành phố Hà Nội. Áp lực này không chỉ là câu chuyện tăng dân số, mà còn là kết quả tổng hợp của thay đổi không gian cư trú, phát triển nhà ở nhanh, quỹ đất trường học hạn chế, đầu tư công có độ trễ, nhân lực giáo viên chưa linh hoạt và dữ liệu quản trị nhu cầu học tập chưa được liên thông đầy đủ.
Bước vào giai đoạn sau ngày 01/7/2026, cách tiếp cận quản lý cần được cập nhật theo hệ thống phường, xã mới và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Điều quan trọng không chỉ là gọi đúng tên địa bàn mà còn là thay đổi đơn vị phân tích chính sách: từ bình quân toàn thành phố hoặc địa bàn quận, huyện cũ sang phường, xã, khu dân cư và cụm dự án nhà ở.
Để giải quyết vấn đề, Hà Nội cần chuyển từ tư duy “mỗi năm xử lý tuyển sinh đầu cấp” sang quản trị mạng lưới trường học dựa trên dự báo, dữ liệu và quy hoạch tích hợp. Phát triển trường tiểu học công lập phải đi trước hoặc song hành với phát triển nhà ở; đầu tư công phải gắn với kết quả phục vụ người dân; và công bằng tiếp cận của trẻ em di cư, trẻ em trong hộ thuê nhà, hộ thu nhập thấp cần trở thành tiêu chí trung tâm của chính sách giáo dục đô thị.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 ban hành quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 ban hành Điều lệ trường tiểu học.
Chính phủ. (2024). Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 01/8/2024 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
Cục Thống kê thành phố Hà Nội. (2025). Số liệu và báo cáo thống kê dân số Hà Nội. https://thongkehanoi.nso.gov.vn/tin-tuc/17
Quốc hội. (2019). Luật Giáo dục năm 2019.
Quốc hội. (2020). Luật Cư trú năm 2020.
Quốc hội. (2024). Luật Thủ đô năm 2024.
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. (2023). Hà Nội tổng kết năm học 2022–2023 và triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024.
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. (2023). Hơn 50% ngân sách quận Hoàng Mai chi đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành giáo dục. https://hanoi.edu.vn/thong-tin-co-so/hon-50-ngan-sach-quan-hoang-mai-chi-dau-tu-xay-dung-co-ban-cho-nganh-giao-duc/ctmb/530/14688
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. (2024). Hội nghị tổng kết năm học 2023-2024, triển khai nhiệm vụ năm học 2024-2025 ngành giáo dục và đào tạo quận Long Biên. https://hanoi.edu.vn/thong-tin-co-so/hoi-nghi-tong-ket-nam-hoc-2023-2024-trien-khai-nhiem-vu-nam-hoc-2024-2025-nganh/ctmb/530/15579
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. (2024). Sĩ số lớp tiểu học tại Hà Nội có xu hướng giảm. https://www.hanoi.edu.vn/tin-tuc-su-kien/si-so-lop-tieu-hoc-tai-ha-noi-co-xu-huong-giam/ctmb/525/15572
Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 388/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030.
Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12/12/2024 phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tổng cục Thống kê. (2020). Chuyên khảo về di cư và đô thị hóa trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. https://vietnam.unfpa.org/sites/default/files/pub-pdf/di_cu_va_do_thi_hoa_viet.pdf
UBND thành phố Hà Nội. (2026). Kế hoạch tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 2026–2027. https://datafiles.hanoi.gov.vn/
UNESCO. (2019/2025). Global education monitoring report: Migration, displacement and education: Building bridges, not walls. https://articles.unesco.org/
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025.
Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội. (2020). Thông tin quy hoạch một số quận, huyện: Hoàng Mai, Long Biên, Hoài Đức, Hà Đông, Bắc Từ Liêm. https://vqh.hanoi.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=thong-tin-quy-hoach/page-9



