Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

Improving the state management mechanism for autonomy in public higher education in Vietnam in the current context

ThS. Thái Văn Tài
Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương – Nha Trang
Email: tvtai@sptwnt.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Tự chủ đại học là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn có những hạn chế về hành lang pháp lý, phân cấp quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức bộ máy và trách nhiệm giải trình. Bài viết phân tích thực trạng cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ giáo dục đại học công lập hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những bất cập cần khắc phục. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tự chủ đại học công lập trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Hoàn thiện; cơ chế; quản lý nhà nước; tự chủ; giáo dục đại học; Việt Nam.

Abstract: University autonomy is an inevitable trend aimed at improving the quality of education, competitiveness, and operational efficiency of public higher education institutions in Vietnam. However, the implementation process still faces limitations regarding the legal framework, management decentralization, financial mechanisms, organizational structure, and accountability. This article analyzes the current state of state management mechanisms for public higher education autonomy, highlighting achievements as well as shortcomings that need to be addressed. Based on this, it proposes several solutions to enhance the effectiveness and efficiency of state management of public university autonomy in the new phase.

Keywords: Improvement; mechanism; state management; autonomy; higher education; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chủ trương đẩy mạnh tự chủ đại học đã trở thành xu thế tất yếu nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hiệu quả sử dụng nguồn lực của các cơ sở giáo dục đại học công lập. Tuy nhiên, quá trình triển khai tự chủ đại học ở Việt Nam thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế, như: sự thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, bất cập trong phân cấp quản lý, cơ chế kiểm tra, giám sát chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn và chưa tạo được sự thống nhất giữa quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước nhằm bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện hiệu quả quyền tự chủ, phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2. Yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ giáo dục đại học công lập

Tại khoản 2 Điều 3 Luật Giáo dục đại học năm 2025 ghi rõ: “Quyền tự chủ là quyền được chủ động quyết định gắn với trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật về chuyên môn học thuật, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính và hoạt động giáo dục đại học khác” (Quốc hội, 2025). Như vậy, tự chủ đại học chính là “việc tạo ra cơ chế để cơ sở giáo dục đại học trong khuôn khổ pháp luật nhà nước được chủ động trong tổ chức thực hiện và quyết định các nội dung về học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính” (Bùi Anh Tuấn & cộng sự, 2023).

Cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ giáo dục đại học công lập được hiểu là tổng thể các nguyên tắc, quy định pháp luật, chính sách, phương thức và công cụ mà Nhà nước sử dụng để định hướng, điều tiết, giám sát và bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, đáp ứng mục tiêu phát triển giáo dục. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ đại học công lập ở Việt Nam là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự thống nhất giữa quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học với trách nhiệm quản lý của Nhà nước. Tự chủ đại học không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý mà đòi hỏi Nhà nước chuyển từ phương thức quản lý trực tiếp sang quản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát. Thực tiễn cho thấy, một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực tổ chức bộ máy, tài chính, đầu tư công và quản lý tài sản công, gây khó khăn cho các trường trong quá trình thực hiện quyền tự chủ. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế quản lý sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch, giúp các cơ sở giáo dục đại học phát huy hiệu quả quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ về nguồn nhân lực chất lượng cao, các trường đại học phải không ngừng đổi mới chương trình đào tạo, phương thức quản trị và hoạt động nghiên cứu khoa học. Điều này đòi hỏi Nhà nước xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, tạo động lực phát triển; đồng thời, bảo đảm kiểm soát chất lượng đào tạo. Thông qua hệ thống kiểm định chất lượng, cơ chế đánh giá kết quả hoạt động và các chính sách hỗ trợ phù hợp, Nhà nước có thể định hướng các cơ sở giáo dục đại học phát triển đúng mục tiêu, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước góp phần bảo đảm công bằng, minh bạch và phát triển bền vững hệ thống giáo dục đại học quốc gia. Trong quá trình tự chủ, nếu thiếu cơ chế quản lý hiệu quả có thể xuất hiện những bất cập, như: gia tăng học phí thiếu kiểm soát, chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các cơ sở đào tạo hoặc nguy cơ thương mại hóa giáo dục. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách về tài chính, đầu tư, kiểm tra, thanh tra và trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm quyền lợi của người học, sử dụng hiệu quả nguồn lực công và duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục đại học. Đây chính là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện đại, chất lượng và bền vững.

3. Thực trạng về cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ giáo dục đại học công lập

Những năm qua, cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ đại học công lập ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học phát huy tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản trị nhà trường.

Một là, “hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách về quản lý nhà nước trong giáo dục đại học từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện tự chủ” (Thái Văn Tài, 2025). Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật và chính sách quan trọng nhằm đổi mới quản lý giáo dục đại học theo hướng tăng cường quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Cụ thể, như: Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đổi với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017; Quyết định số 158/QĐ-TTg ngày 29/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Trường Đại học Tôn Đức Thắng giai đoạn 2015 – 2017; Thông tư số 58/2026/TT-BGDĐT ngày 07/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học”;… Đặc biệt, Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học về tổ chức bộ máy, nhân sự, học thuật, tài chính và tài sản; đồng thời, quy định rõ trách nhiệm giải trình trước Nhà nước và xã hội. Những văn bản này đã tạo động lực quan trọng để các trường đại học nâng cao hiệu quả quản trị, phát huy tính chủ động, sáng tạo và từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới. Hiện nay, nhiều trường đại học công lập đã và đang thực hiện cơ chế tự chủ đại học theo các mức độ khác nhau (tự chủ toàn diện, tự chủ về học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính), tiêu biểu, như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh… Thực tế cho thấy, việc thực hiện cơ chế tự chủ đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, tăng tính chủ động, đổi mới quản trị và phát huy hiệu quả nguồn lực tại các trường đại học hiện nay.

Hai là, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ từng bước được nâng cao. Cơ quan quản lý nhà nước đã chuyển dần từ phương thức quản lý trực tiếp, can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của nhà trường sang quản lý thông qua cơ chế pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và công tác kiểm tra, giám sát. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đã tạo điều kiện cho các trường phát huy tính chủ động trong quản trị đại học; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và các bộ phận chức năng. Công tác thanh tra, kiểm định chất lượng giáo dục và đánh giá kết quả thực hiện tự chủ được quan tâm triển khai, góp phần bảo đảm các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng quy định và đạt hiệu quả cao hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế cho thấy cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ đại học công lập vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện tự chủ và chất lượng giáo dục đại học.

Thứ nhất, “hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách về tự chủ đại học chưa thực sự đồng bộ và thống nhất” (Thái Văn Tài, 2025). Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và quy định liên quan đến tự chủ đại học như: Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/062021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; Nghị định số 97/2023/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo… Tuy nhiên, giữa các văn bản thuộc các lĩnh vực giáo dục, tài chính, đầu tư công, quản lý tài sản công vẫn còn tồn tại những điểm chưa thống nhất. Một số quy định chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn của quá trình tự chủ dẫn đến tình trạng các cơ sở giáo dục đại học gặp khó khăn trong quá trình triển khai. Việc phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ sở giáo dục đại học tự chủ ở một số nội dung còn chưa cụ thể, làm giảm tính chủ động và linh hoạt của các nhà trường trong hoạt động quản trị.

Thứ hai, cơ chế phân cấp, phân quyền giữa Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ vẫn còn những bất cập. Trên thực tế, nhiều trường đại học đã được trao quyền tự chủ nhưng vẫn phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính và xin ý kiến phê duyệt từ các cơ quan quản lý đối với những vấn đề thuộc phạm vi quản trị nội bộ. Điều này làm giảm hiệu quả của quá trình tự chủ và chưa phát huy đầy đủ tính năng động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Bên cạnh đó, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện tự chủ ở một số nơi còn thiếu các tiêu chí cụ thể, khoa học và phù hợp với đặc thù của từng cơ sở đào tạo. Việc phân cấp chưa gắn chặt với trách nhiệm giải trình, dẫn đến những khó khăn trong việc xác định trách nhiệm khi phát sinh các vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo, tài chính hoặc quản trị nhà trường.

Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện tự chủ đại học có mặt chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Hiện nay, hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ chưa thực sự hoàn thiện và thống nhất. Việc kiểm tra, giám sát ở một số nơi còn nặng về thủ tục hành chính, chưa chú trọng đánh giá chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu khoa học và mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, cơ chế giải trình và trách nhiệm của các chủ thể liên quan chưa được quy định đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm trong quản lý, điều hành các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ.

Những hạn chế, bất cập trên đang đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ phát triển bền vững, nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế.

4. Một số giải pháp

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tự chủ đại học công lập.

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tự chủ đại học công lập theo hướng đồng bộ, minh bạch và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học. Cơ quan quản lý nhà nước cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định về giáo dục, tài chính, đầu tư, quản lý tài sản công, tổ chức bộ máy và nhân sự. Hành lang pháp lý cần được thiết kế theo hướng trao quyền tự chủ thực chất cho các cơ sở giáo dục đại học công lập trên các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản trị đại học và sử dụng nguồn lực. Đồng thời, cần khắc phục triệt để những quy định hưa phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính khả thi, ổn định và minh bạch trong quá trình triển khai, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các trường đại học công lập.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách về tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng tăng cường quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình. Nhà nước cần đổi mới phương thức phân bổ ngân sách từ cơ chế cấp phát bình quân sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc phân bổ theo kết quả hoạt động và chất lượng đào tạo. Điều này sẽ tạo động lực để các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường năng lực cạnh tranh. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích các trường đại học huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội, đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước nhằm bổ sung nguồn lực phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Hai là, đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Cần “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả” (Bộ Chính trị, 2025). Các trường đại học cần được trao quyền tự chủ thực chất trong các lĩnh vực, như: tổ chức bộ máy, tuyển dụng và sử dụng nhân sự, xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản lý tài chính và tài sản công…

Bên cạnh đó, việc phân cấp, phân quyền phải gắn liền với cơ chế xác định trách nhiệm giải trình rõ ràng. Khi được trao nhiều quyền hơn, các cơ sở giáo dục đại học cần có trách nhiệm công khai, minh bạch các hoạt động quản lý, tài chính, tuyển sinh, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Cơ chế giải trình phải được thực hiện thường xuyên trước cơ quan quản lý nhà nước, người học, xã hội và các bên liên quan. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền tự chủ được thực hiện đúng mục tiêu, tránh tình trạng lạm quyền, buông lỏng quản lý hoặc sử dụng nguồn lực thiếu hiệu quả: “Đổi mới quản trị, bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện, trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục,..; đổi mới căn bản cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho giáo dục, đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 102).

Ngoài ra, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở giáo dục đại học để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn và xử lý các vi phạm trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định về phân cấp, phân quyền và tự chủ trong quản lý nhà nước (Nguyễn Văn Đại, 2025). Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động thường xuyên của các cơ sở giáo dục đại học nhưng cần xây dựng hệ thống giám sát chặt chẽ dựa trên các tiêu chí đánh giá cụ thể. Việc ứng dụng công nghệ số, cơ sở dữ liệu dùng chung và các hệ thống báo cáo trực tuyến cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và cảnh báo sớm các nguy cơ vi phạm. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, các cơ quan kiểm toán, thanh tra và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của các trường đại học công lập tự chủ.

Ba là, hoàn thiện cơ chế tài chính và bảo đảm nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ

Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng gắn với kết quả đầu ra, chất lượng đào tạo và hiệu quả hoạt động. Thay vì chủ yếu cấp kinh phí dựa trên các yếu tố đầu vào như biên chế, số lượng sinh viên hoặc quy mô tổ chức, cần chuyển mạnh sang phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ và đấu thầu cung cấp dịch vụ giáo dục đại học. Cơ chế này không chỉ tạo động lực nâng cao chất lượng đào tạo mà còn khuyến khích các cơ sở giáo dục sử dụng hiệu quả nguồn lực được giao. Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục duy trì nguồn ngân sách hỗ trợ đối với những ngành đào tạo đặc thù, ngành khoa học cơ bản, lĩnh vực chiến lược và các cơ sở giáo dục có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công cộng, góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định nhằm tạo điều kiện cho các trường đại học đa dạng hóa nguồn thu và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước để phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn, đào tạo ngắn hạn và cung cấp các dịch vụ giáo dục. Đồng thời, cần có chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đầu tư nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia hỗ trợ phát triển giáo dục đại học. Việc mở rộng các nguồn thu hợp pháp sẽ giúp các cơ sở giáo dục giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, nâng cao khả năng tự chủ và tăng cường sức cạnh tranh trong hệ thống giáo dục đại học.

Cùng với đó, cần chú trọng bảo đảm các nguồn lực cần thiết phục vụ quá trình tự chủ đại học. Nhà nước cần có kế hoạch đầu tư trung hạn và dài hạn nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, hệ thống phòng thí nghiệm, thư viện số và hạ tầng công nghệ thông tin cho các cơ sở giáo dục đại học công lập. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công theo hướng tăng quyền chủ động cho các nhà trường nhưng vẫn bảo đảm công khai, minh bạch và kiểm soát chặt chẽ.

Bốn là, tăng cường trách nhiệm giải trình, bảo đảm chất lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý giáo dục đại học

Các cơ sở giáo dục đại học cần thực hiện công khai, minh bạch các thông tin về chiến lược phát triển, cơ cấu tổ chức, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, tài chính, học phí, kết quả kiểm định chất lượng và tỷ lệ việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Nhà nước cần hoàn thiện các quy định về chế độ báo cáo, công khai thông tin và cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động của các trường đại học. Thông qua đó, góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế các biểu hiện lạm dụng quyền tự chủ hoặc thiếu trách nhiệm trong quản trị và điều hành nhà trường.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định chất lượng theo hướng tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo đảm chất lượng giáo dục. Các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng văn hóa chất lượng, phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, thường xuyên đánh giá, cải tiến chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên. Việc gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ khoa học, công nghệ cũng cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo.

Ngoài ra, Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học thống nhất, kết nối đồng bộ giữa các cơ quan quản lý với các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, cần thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, kiểm định chất lượng, thanh tra, kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Về phía các nhà trường, cần tăng cường đầu tư hạ tầng số, phát triển hệ thống quản trị đại học thông minh, số hóa hồ sơ, dữ liệu và quy trình quản lý; mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản trị nhà trường.

5. Kết luận

Tự chủ giáo dục đại học công lập là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để tự chủ đại học phát huy đầy đủ hiệu quả, cần có một cơ chế quản lý nhà nước phù hợp, đồng bộ và hiện đại, bảo đảm hài hòa giữa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, cơ chế quản lý nhà nước đối với tự chủ đại học ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới phương thức quản lý theo hướng phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; bảo đảm nguồn lực tài chính; nâng cao hiệu quả quản trị đại học; đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường trách nhiệm giải trình là những giải pháp quan trọng. Đây là cơ sở để xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam phát triển bền vững, chất lượng và hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bùi Anh Tuấn, Vũ Hoàng Nam, & Cao Đình Kiên (11/4/2023). Quá trình tự chủ đại học tại Việt Nam: Từ thực tiễn đến nhận thức. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/04/11/qua-trinh-tu-chu-dai-hoc-tai-viet-nam-tu-thuc-tien-den-nhan-thuc
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Văn Đại (2025). Phân quyền và tự chủ ở các cơ sở giáo dục đại học – thực trạng và hướng hoàn thiện. Tạp chí Quản lý nhà nước, 355(8), 44-47. Doi: https://doi.org/10.59394/qlnn.355.2025.1258
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học năm 2025.
Thái Văn Tài (14/10/2025). Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng tự chủ ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/14/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-co-so-giao-duc-dai-hoc-cong-lap-theo-huong-tu-chu-o-viet-nam-hien-nay