The relationship between digital productive forces and digital production relations in Vietnam
ThS. Lê Văn Quyền
Bộ Công an
Email: caybutxanhhcma@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở lý luận mác-xít về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, bài viết luận giải nội hàm, đặc trưng của lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số ở Việt Nam hiện nay với những thành tựu quan trọng và những mâu thuẫn, “điểm nghẽn” đang đặt ra; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ này theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Từ khóa: Lực lượng sản xuất số; quan hệ sản xuất số; phương thức sản xuất số; chuyển đổi số; thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Abstract: Based on the Marxist theory regarding the law that relations of production must correspond to the level of development of the forces of production, this article examines the essence and characteristics of digital forces of production and digital relations of production in Vietnam today, highlighting significant achievements as well as existing contradictions and “bottlenecks”; thereby proposing solutions to effectively manage this relationship in line with the socialist orientation, contributing to the country’s rapid and sustainable development in the new era – the era of the Vietnamese nation’s rise.
Keywords: Digital productive forces; digital relations of production; digital mode of production; digital transformation; transitional period toward socialism.
1. Lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số – từ lý luận mác-xít đến nhận thức mới của Đảng
Học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã luận giải một cách khoa học quy luật vận động, phát triển của lịch sử loài người, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất giữ vị trí là quy luật cơ bản, phổ biến nhất. Theo C. Mác, trong quá trình sản xuất xã hội, con người tất yếu tham gia vào những quan hệ sản xuất nhất định, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ; những quan hệ sản xuất ấy phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất (C.Mác và Ăng-ghen, 1993 tr. 14-15). Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của phương thức sản xuất, thể hiện năng lực chinh phục, cải biến giới tự nhiên của con người; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại: thúc đẩy mạnh mẽ khi phù hợp và kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất khi đã lỗi thời hoặc được xác lập một cách chủ quan, “vượt trước” giả tạo so với trình độ hiện thực của lực lượng sản xuất.
Lịch sử đã chứng minh, mỗi bước nhảy vọt của lực lượng sản xuất đều dẫn tới những biến đổi căn bản trong quan hệ sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội. C. Mác từng khái quát rằng, chiếc cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa phong kiến, còn chiếc cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp (C.Mác và Ăng-ghen, 1995 tr.187). Đặc biệt, với tầm nhìn vượt thời đại, C. Mác đã dự báo xu hướng khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi tri thức xã hội phổ biến ngày càng chuyển hóa sâu sắc vào quá trình sản xuất (C.Mác và Ăng-ghen, 2000, phần II). Ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với các công nghệ số mang tính đột phá đang hiện thực hóa sinh động dự báo thiên tài đó, đưa lực lượng sản xuất của nhân loại bước sang một trình độ phát triển mới về chất: lực lượng sản xuất số.
Lực lượng sản xuất số là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội, hình thành trên nền tảng khoa học – công nghệ hiện đại và quá trình chuyển đổi số, trong đó công nghệ số thẩm thấu, tái cấu trúc mọi yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Về người lao động, xuất hiện đội ngũ nhân lực số – những người lao động có tri thức, kỹ năng số và năng lực đổi mới sáng tạo, trong đó lao động trí tuệ ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Về tư liệu lao động, hệ thống kết cấu hạ tầng số (mạng viễn thông băng rộng, mạng di động 5G, trung tâm dữ liệu, hạ tầng điện toán đám mây), các nền tảng số, hệ thống máy móc thông minh, rô-bốt và trí tuệ nhân tạo trở thành công cụ sản xuất chủ yếu, có khả năng tự động hóa, tự học hỏi, tự hoàn thiện. Về đối tượng lao động, bên cạnh các dạng tài nguyên truyền thống, xuất hiện đối tượng lao động hoàn toàn mới là dữ liệu – loại “tư liệu sản xuất” đặc biệt: không bị hao mòn trong quá trình sử dụng, có thể nhân bản với chi phí cận biên gần bằng không và càng được khai thác, chia sẻ, kết nối, liên thông thì càng tạo ra nhiều giá trị.
Lực lượng sản xuất số mang những đặc trưng nổi bật: khoa học – công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; năng suất lao động có khả năng tăng theo cấp số nhân, trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ không ngừng được rút ngắn; tính kết nối, liên thông, lan tỏa xuyên biên giới rất cao; hàm lượng tri thức trở thành yếu tố quyết định giá trị sản phẩm. Chính những đặc trưng này khiến sự phát triển của lực lượng sản xuất số diễn ra với tốc độ chưa từng có, vượt xa nhịp độ biến đổi của các thiết chế kinh tế – xã hội hiện hành.
Sự hình thành lực lượng sản xuất số tất yếu đòi hỏi phải xác lập quan hệ sản xuất số tương thích. Quan hệ sản xuất số là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa người với người hình thành trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng dựa trên nền tảng số, biểu hiện tập trung trên ba mặt cơ bản. Một là, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất số, trước hết là sở hữu dữ liệu, nền tảng số, hạ tầng số và các loại tài sản số, tài sản trí tuệ – mặt cốt lõi và cũng phức tạp nhất, bởi dữ liệu do hàng triệu chủ thể cùng tạo ra, nhưng giá trị lại có xu hướng tập trung vào một số ít chủ thể nắm giữ nền tảng và năng lực xử lý. Hai là, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, với sự xuất hiện của phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, mô hình kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ, phương thức làm việc từ xa và cả hiện tượng “thuật toán quản lý con người”. Ba là, quan hệ phân phối sản phẩm và giá trị được tạo ra trong nền kinh tế số – nơi đặt ra trực diện câu hỏi: ai được hưởng và hưởng như thế nào từ giá trị của dữ liệu và công nghệ.
Việc giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số càng có ý nghĩa đặc biệt. V.I. Lê-nin chỉ rõ, đặc điểm của thời kỳ quá độ là sự tồn tại đan xen những thành phần, những bộ phận của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội (V.I.Lê-nin toàn tập, 2006, tr. 248). Điều đó có nghĩa, quan hệ sản xuất số ở nước ta hiện nay tất yếu đa dạng về hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và phương thức phân phối; vấn đề đặt ra là phải chủ động định hướng sự vận động ấy phục vụ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, không để lô-gích tự phát của thị trường và công nghệ dẫn tới tập trung quyền lực số, phân cực xã hội như đang diễn ra ở nhiều nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Nhận thức của Đảng về vấn đề này có bước phát triển mới rất quan trọng. Đại hội XIII của Đảng chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 115). Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế – xã hội mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại – “phương thức sản xuất số”; chuyển đổi số chính là động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới (Tô Lâm, 2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển tư duy đó lên tầm cao mới, khi xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm động lực chính; chủ trương đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy phương thức sản xuất mới với trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chíp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện cách mạng số.
2. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, lực lượng sản xuất số đã có bước phát triển nhanh, khá toàn diện.
Hạ tầng số – bộ phận tư liệu lao động then chốt của lực lượng sản xuất số – được xác định là hạ tầng chiến lược và được tập trung đầu tư phát triển đồng bộ, hiện đại: mạng băng rộng phủ tới hầu khắp các thôn, bản; mạng di động 5G được thương mại hóa và mở rộng nhanh; các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, Trung tâm Dữ liệu quốc gia được xây dựng; hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo từng bước hình thành.
Kinh tế số phát triển ấn tượng, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD; bình quân giai đoạn 2021 – 2025 đạt khoảng 13,2% GDP; một số địa phương đạt mức rất cao, như Bắc Ninh (46,3%), Thái Nguyên (29,53%). Đội ngũ nhân lực số – yếu tố người lao động của lực lượng sản xuất số – tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng; cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số phát triển mạnh gắn với định hướng “Make in Viet Nam”, một số tập đoàn công nghệ Việt Nam đã vươn ra thị trường toàn cầu. Chính phủ số, xã hội số có bước tiến dài: dịch vụ công trực tuyến toàn trình, nền tảng định danh điện tử VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến, làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Thứ hai, quan hệ sản xuất số từng bước được xác lập, hoàn thiện trên cả ba mặt cơ bản.
Về thể chế – hình thức pháp lý của quan hệ sản xuất số, hệ thống pháp luật được bổ sung, hoàn thiện với tốc độ chưa từng có: Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Viễn thông năm 2023, Luật Dữ liệu năm 2024 xác lập khung khổ pháp lý về xây dựng, quản trị, khai thác dữ liệu; đặc biệt, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 lần đầu tiên ghi nhận, bảo hộ tài sản số, tạo cơ sở pháp lý cho các quan hệ sở hữu kiểu mới. Quốc hội ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được áp dụng đối với các mô hình kinh doanh mới.
Về quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế – kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài – đều tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế số; thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu bước đầu được hình thành. Về quan hệ tổ chức, quản lý, bộ máy quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số do Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban, thể hiện quyết tâm chính trị ở cấp cao nhất. Về quan hệ phân phối, các chính sách phổ cập hạ tầng số, kỹ năng số, phong trào “bình dân học vụ số” hướng tới bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận, thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số.
Bên cạnh những kết quả quan trọng, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số ở nước ta đang bộc lộ những mâu thuẫn, “điểm nghẽn” cần được nhận diện.
Một là, sự phát triển rất nhanh của lực lượng sản xuất số đang vượt trước đáng kể so với mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất số, trước hết là về thể chế. Khung pháp lý về dữ liệu, tài sản số, trí tuệ nhân tạo mới ở giai đoạn định hình; nhiều mô hình kinh doanh mới vận hành trong “khoảng trống” pháp lý; không ít quy định còn chồng chéo, chưa theo kịp thực tiễn – đúng như nhận định của Đảng rằng thể chế đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, cần kiên quyết tháo gỡ.
Hai là, quan hệ sở hữu đối với dữ liệu – tư liệu sản xuất then chốt của nền kinh tế số – chưa được phân định rõ ràng giữa quyền của cá nhân tạo ra dữ liệu, doanh nghiệp thu thập, xử lý dữ liệu và Nhà nước; trong khi đó, một phần đáng kể dữ liệu và các nền tảng xuyên biên giới do các tập đoàn công nghệ nước ngoài chi phối, tiềm ẩn nguy cơ lệ thuộc về công nghệ, dữ liệu, ảnh hưởng tới chủ quyền số quốc gia.
Ba là, quan hệ phân phối trong nền kinh tế số tiềm ẩn những bất bình đẳng mới: khoảng cách số giữa các vùng, miền còn lớn, trong khi một số địa phương có tỷ trọng kinh tế số trong GRDP vượt 20%, nhiều địa phương mới đạt khoảng 6 – 10% (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tháng 01/2026); lực lượng lao động trên các nền tảng số (lái xe công nghệ, giao hàng công nghệ…) tăng nhanh, nhưng chế độ lao động, an sinh xã hội chưa theo kịp; nguy cơ một bộ phận người lao động bị thay thế bởi tự động hóa và trí tuệ nhân tạo ngày càng hiện hữu.
Bốn là, bản thân lực lượng sản xuất số còn những hạn chế về chất: nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mũi nhọn, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, còn thiếu hụt; năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược còn khiêm tốn; kinh tế số còn phụ thuộc đáng kể vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ trọng kinh tế số tuy tăng nhanh, nhưng còn khoảng cách so với mục tiêu 20% GDP vào năm 2025 mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Đây là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn biện chứng giữa yêu cầu giải phóng, phát triển nhanh lực lượng sản xuất số với sự chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện của quan hệ sản xuất số. Nhận diện và giải quyết đúng đắn, kịp thời mâu thuẫn này chính là chìa khóa để khơi thông mọi nguồn lực, tạo động lực đưa đất nước phát triển bứt phá trong giai đoạn mới.
3. Định hướng và giải pháp
Đảng xác định phải kiên quyết tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Thứ nhất, thống nhất nhận thức lý luận về vị trí, vai trò của lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cần khẳng định, phát triển lực lượng sản xuất số là nhiệm vụ trung tâm, là con đường để Việt Nam “đi tắt, đón đầu”, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến; đồng thời, việc hoàn thiện quan hệ sản xuất số, trước hết là thể chế, phải mang tính chủ động, “đi trước mở đường”, kiến tạo không gian phát triển cho công nghệ và các mô hình kinh tế mới, thay vì bị động chạy theo xử lý tình huống. Tư duy quản lý cần chuyển mạnh từ tâm lý “không quản được thì cấm” sang kiến tạo phát triển, quản lý theo rủi ro, chấp nhận thử nghiệm có kiểm soát. Đồng thời, cần phòng ngừa cả hai khuynh hướng sai lầm: chủ quan, nóng vội xác lập những quan hệ “vượt trước” khi lực lượng sản xuất chưa chín muồi; bảo thủ, trì trệ để quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất số.
Thứ hai, tập trung giải phóng, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất số. Trước hết, phát triển nguồn nhân lực số – nhân tố quyết định – thông qua đổi mới căn bản giáo dục – đào tạo theo hướng tăng cường khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học (STEM); triển khai hiệu quả các chương trình đào tạo nhân lực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; phổ cập kỹ năng số cho toàn dân qua phong trào “bình dân học vụ số”; có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài công nghệ trong và ngoài nước. Tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng số: mở rộng mạng 5G, tiến tới nghiên cứu phát triển 6G; xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, hạ tầng tính toán hiệu năng cao phục vụ trí tuệ nhân tạo; bảo đảm hạ tầng số đi trước một bước như đối với hạ tầng giao thông, năng lượng. Ưu tiên nguồn lực làm chủ công nghệ chiến lược, nhất là chíp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng; phấn đấu nâng tổng chi cho nghiên cứu và phát triển lên 2% GDP, bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Phát triển mạnh doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu; xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Thứ ba, chủ động xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất số theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quan hệ sở hữu, khẩn trương hoàn thiện pháp luật về quyền đối với dữ liệu và tài sản số; phân định hợp lý quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa người tạo ra dữ liệu, chủ thể thu thập, xử lý dữ liệu và Nhà nước; phát triển thị trường dữ liệu minh bạch, an toàn. Nhà nước nắm giữ, chi phối hạ tầng số chiến lược và các cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực then chốt; đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và Đại hội XIV của Đảng.
Về quan hệ tổ chức, quản lý, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả dựa trên dữ liệu; hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; nâng cao năng lực quản lý các nền tảng xuyên biên giới, bảo vệ chủ quyền số và an ninh dữ liệu quốc gia. Về quan hệ phân phối – mặt thể hiện tập trung bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa, phải bảo đảm thành quả của chuyển đổi số được phân phối công bằng: thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền, các nhóm dân cư; hoàn thiện chính sách lao động, an sinh xã hội đối với người lao động trong khu vực kinh tế nền tảng; có chính sách thuế, điều tiết hợp lý đối với các chủ thể hưởng lợi lớn từ dữ liệu và nền tảng số; kiên định nguyên tắc không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số.
Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng phương thức sản xuất số. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm quá trình phát triển lực lượng sản xuất số và hoàn thiện quan hệ sản xuất số đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; theo đó, cần tiếp tục thể chế hóa kịp thời, tổ chức thực hiện quyết liệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Nhà nước tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, thực hiện vai trò kiến tạo, dẫn dắt; lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của chuyển đổi số. Đồng thời, chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ, tham gia định hình các khuôn khổ quản trị số khu vực và toàn cầu, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong phát triển lực lượng sản xuất số.
4. Kết luận
Quan hệ giữa lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số là biểu hiện mới của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện cách mạng số. Nhận thức đúng và giải quyết tốt mối quan hệ này – vừa tập trung giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất số, vừa chủ động hoàn thiện quan hệ sản xuất số theo định hướng xã hội chủ nghĩa – là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta trong thời đại số; là con đường để Việt Nam phát triển bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (tháng 01/2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
V.I. Lê-nin (2006). Toàn tập (Tập 43). Nxb Chính trị quốc gia.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1993). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (2000). Toàn tập (Tập 46). Phần II. Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tô Lâm (2024). Chuyển đổi số – động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chuyen-doi-so-dong-luc-quan-trong-phat-trien-luc-luong-san-xuat-hoan-thien-quan-he-san-xuat-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi, ngày 02/9/2024.



