Enhancing the role of the Cao Bang Provincial Border Guard in ensuring livelihoods for ethnic minorities in border areas
ThS. Nguyễn Văn Giang
TS. Phùng Mạnh Cường
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: vangiang.hvbp@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới vừa là trách nhiệm chính trị, vừa là yêu cầu khách quan trong thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng. Thời gian qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực trong hỗ trợ sinh kế, cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực biên giới và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Tuy nhiên, hiệu quả một số hoạt động tham gia bảo đảm sinh kế còn chưa cao, có mặt thiếu bền vững. Bài viết đề xuất giải pháp phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng trong tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới thời gian tới.
Từ khóa: Bộ đội Biên phòng; sinh kế; dân tộc thiểu số; tỉnh Cao Bằng.
Abstract: Participating in ensuring livelihoods for ethnic minorities in border areas is both a political responsibility and an objective requirement in the performance of duties by the Cao Bang Provincial Border Guard. In recent years, the Provincial Border Guard has achieved many positive results in supporting livelihoods and improving the lives of ethnic minorities, contributing to socio-economic development in border areas and firmly protecting national border sovereignty. However, the effectiveness of some activities in ensuring livelihoods remains low and lacks sustainability. This article proposes solutions to enhance the role of the Cao Bang Provincial Border Guard in participating in ensuring livelihoods for ethnic minorities in border areas in the future.
Keywords: Border Guard; livelihood; ethnic minorities; Cao Bang province.
1. Đặt vấn đề
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới, phía Đông Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tỉnh có diện tích tự nhiên 6.700,39 km², dân số 562.929 người, với 35 thành phần dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số dân cư (trên 95%) nhưng đời sống còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, sinh kế thiếu ổn định và dễ bị tác động bởi thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường. Do đó, bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số vừa là yêu cầu cấp thiết để giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, vừa là giải pháp quan trọng nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới. Với phương châm “đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, thực hiện “ba bám, bốn cùng” (bám đơn vị; bám địa bàn; bám chủ trương, chính sách và cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào), Bộ đội Biên phòng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân khu vực biên giới, trực tiếp tham gia phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Do đặc điểm nhiệm vụ và địa bàn công tác, tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn là yêu cầu khách quan, thuộc về chức năng, nhiệm vụ và truyền thống của Bộ đội Biên phòng nói chung, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng nói riêng.
2. Thực trạng Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới
Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng quản lý, bảo vệ đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc dài 333,125 km, với tổng số 634 cột mốctừ mốc 520 đến mốc 962. Sau khi thực hiện sắp xếp địa giới hành chính và tổ chức thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, địa bàn đơn vị quản lý có 21 xã biên giới, gồm 39.202 hộ/172.379 nhân khẩu, có 07 dân tộc chính (Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ, Kinh) sinh sống đan xen, trong đó dân tộc Tày, Nùng chiếm đa số. Những năm qua, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã triển khai nhiều mô hình, cách làm sáng tạo trong tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Thứ nhất, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia bảo đảm môi trường thuận lợi cho sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu sô ở khu vực biên giới.
Giai đoạn 2015 – 2025, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp tuần tra bảo vệ biên giới được 19.445 lần/120.913 lượt người tham gia, tuần tra song phương 34 lần/544 lượt người; phối hợp xử lý 4.365 vụ/27.394 đối tượng, nộp ngân sách trên 87,5 tỷ đồng. Việc Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia tạo môi trường thuận lợi giúp đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới yên tâm sản xuất, phát triển sinh kế.
Bên cạnh đó, Bộ đội Biên phòng Tỉnh còn còn chủ động tham mưu, phối hợp triển khai các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số như Chương trình 135, 167, Nghị quyết 30a, Nghị quyết 80 và các Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, qua đó tạo thêm nguồn lực, cơ hội và điều kiện để đồng bào mở rộng sinh kế, nâng cao thu nhập. Ngoài ra, các đồn Biên phòng thường xuyên tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào về phòng chống thiên tai; chủ động xây dựng phương án ứng phó, di dời người và tài sản ra khỏi khu vực nguy hiểm. Khi thiên tai xảy ra, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Tỉnh trực tiếp tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp đồng bào khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế.
Thứ hai, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng trực tiếp tham gia cải thiện nguồn lực sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Tham gia cải thiện nguồn lực con người: Giai đoạn 2015 – 2025,thông qua các chương trình “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Phổ cập tiểu học, xoá mù chữ cho nhân dân khu vực biên giới”, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã mở 3 lớp xóa mù chữ cho 68 người; vận động hơn 853 lượt học sinh có nguy cơ bỏ học trở lại trường, góp phần nâng cao dân trí, tạo điều kiện để đồng bào tiếp cận tri thức và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, mô hình “Con nuôi đồn Biên phòng” và chương trình “Nâng bước em tới trường” cũng được triển khai hiệu quả với 55 cháu được nhận nuôi dưỡng, 174 học sinh được hỗ trợ học tập thường xuyên, góp phần bồi dưỡng, xây dựng thế hệ tri thức trẻ nới biên giới. Cùng với đó, thông qua chương trình “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Quân dân y kết hợp”, lực lượng quân y Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp khám, chữa bệnh cho 28.218 lượt người, cấp phát thuốc miễn phí trị giá khoảng 1,4 tỷ đồng và triển khai hiệu quả nhiều hoạt động tiêm chủng, chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những kết quả đó cho thấy, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã góp phần quan trọng trong phát triển nguồn lực con người cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Tham gia cải thiện nguồn lực tự nhiên: Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng trong quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, đất và nguồn nước ở khu vực biên giới. Thông qua công tác tuần tra, kiểm soát, Bộ đội Biên phòng kịp thời phát hiện, ngăn chặn nhiều vụ khai thác lâm sản trái phép, phá rừng và xâm hại tài nguyên, góp phần giữ gìn hệ sinh thái và bảo vệ nền tảng sản xuất nông, lâm nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, các đồn Biên phòng đã chủ động phối hợp tổ chức trồng cây dọc tuyến đường tuần tra biên giới và các trục đường chính trên địa bàn, ưu tiên các loại cây vừa có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, sạt lở, mang lại giá trị kinh tế như lát, keo, thông, đào, lê, mận, hạt dẻ, mắc ca… Từ năm 2015 đến nay, hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” và triển khai mô hình “Trồng cây dọc đường tuần tra biên giới”, các đơn vị thuộc Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp trồng và chăm sóc gần 84.000 cây xanh các loại. Qua đó, không chỉ góp phần hình thành các tuyến đường biên giới xanh mà còn nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên và hướng phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Tham gia bảo đảm nguồn lực xã hội: Bộ đội Biên phỏng Tỉnh đã chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức các hoạt động “Ngày Biên phòng toàn dân” và “Ngày Đại đoàn kết toàn dân tộc”, tạo nên ngày hội đoàn kết trên biên giới. Đồng thời, tích cực tham gia triển khai, thực hiện có hiệu quả các Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới” gắn với đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình, nhất là phát triển du lịch cộng đồng. Đặc biệt, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã chú trọng phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong việc tuyên truyền từng bước thay đổi nhận thức và hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng văn minh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội, qua đó giảm bớt các chi phí không cần thiết, góp phần tích lũy nguồn lực cho phát triển sản xuất. Các mối quan hệ đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng được củng cố, hình thành các mạng lưới liên kết xã hội bền chặt – yếu tố quan trọng giúp chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ vốn, lao động và tiêu thụ sản phẩm trong quá trình phát triển sinh kế.
Tham gia bảo đảm nguồn lực vật chất: Giai đoạn 2015 – 2025, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã huy động cán bộ, chiến sĩ đóng góp hàng nghìn ngày công lao động để tham gia giúp đồng bào xây dựng 141,6 km đường giao thông nông thôn; tu sửa, nạo vét, làm mới 23,5 km kênh mương thuỷ lợi; xây dựng 05 cầu dân sinh; xây dựng 08 công trình dân sinh trị giá trên 3,51 tỷ đồng. Hỗ trợ xây dựng 16 nhà tình nghĩa và sửa chữa 10 nhà trị giá 1,1 tỷ đồng; vận động, kêu gọi hỗ trợ xây dựng được 33 căn nhà “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”, với tổng trị giá 1,842 tỷ đồng; ủng hộ 1.000 tấm lợp trị giá 70 triệu đồng giúp đồng bào khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ đồng bào các công cụ, phương tiện sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, nông cụ trị giá 200 triệu đồng. Đối với chương trình“Bò giống giúp người nghèo biên giới”, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã kêu gọi, vận động, phối hợp trao tặng 130 con bò giống, 30 con trâu giống trị giá 2,553 tỷ đồng. Nhờ đó, góp phần tăng cường nguồn lực vật chất, tạo cơ hội phát triển sinh kế cho bào dân tộc thiểu số.
Tham gia bảo đảm nguồn lực tài chính: Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia các mô hình như “Tổ tiết kiệm và vay vốn”, “Quỹ giúp nhau phát triển sản xuất”. Thông qua đó, từng bước hình thành thói quen tích lũy, sử dụng vốn có kế hoạch trong cộng đồng, góp phần tạo nguồn lực tài chính tại chỗ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và các lực lượng liên quan hướng dẫn người dân tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ làm thủ tục vay vốn đúng quy định, sử dụng vốn đúng mục đích. Nhờ đó, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất, từng bước thoát nghèo, ổn định sinh kế. Ngoài ra, trong giai đoạn 2015 – 2025, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã ủng hộ Quỹ “Xây dựng nông thôn mới” tỉnh Cao Bằng với số tiền 753,5 triệu đồng; thông qua kết nối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để hỗ trợ tài chính cho hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Các nguồn hỗ trợ này tuy phân tán nhưng thiết thực, góp phần giảm bớt khó khăn trước mắt, đồng thời tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số duy trì và phát triển sinh kế.
Thứ ba, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia chuyển đổi mô hình sinh kế theo hướng hợp lý, hiệu quả cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Trên cơ sở khảo sát kỹ lưỡng điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và nhu cầu của đồng bào dân tộc thiểu số, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã lựa chọn và phát triển các mô hình sinh kế gắn với lợi thế về đất đai, khí hậu và nguồn nước. Giai đoạn 2015 – 2025, với chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, Bộ đội Biên phòng Tỉnh đã xây dựng 17 mô hình hỗ trợ phát triển sinh kế cho 248 hộ gia đình trị giá 580 triệu đồng (mô hình chăn nuôi trâu, lợn thịt, lợn đen; trồng hồi, quế….). Bên cạnh đó, các đơn vị còn làm tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi cơ cấu cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao (80 ha thông, sa mộc; 180 ha hồi; 56,8 ha quế).
Việc tổ chức thực hiện được tiến hành một cách linh hoạt, sáng tạo, điểm nổi bật trong cách làm của Bộ đội Biên phòng Tỉnh là phương thức “cầm tay chỉ việc”, đồng hành cùng người dân trong suốt quá trình triển khai mô hình. Hiện nay, các đồn Biên phòng đang triển khai hiêu quả việc phân công 430 đảng viên phụ trách 2.004 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới, trực tiếp theo dõi, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, giúp đỡ đồng bào phát triển kinh tế hộ. Nhiều mô hình sinh kế do Bộ đội Biên phòng tỉnh xây dựng đang được nhân rộng như mô hình: chuyển đổi đất dốc sang trồng hồi của đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tà Lùng; hỗ trợ kỹ thuật cải tạo vườn tạp của đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây ngô, cây lúa sang cây thuốc lá của đồn Biên phòng Đàm Thuỷ,…
Không chỉ dừng lại ở sản xuất, một số đơn vị như đồn Biên phòng Cốc Pàng thông qua chương trình “Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới” còn hỗ trợ người dân kết nối tiêu thụ sản phẩm, từng bước tiếp cận các kênh thị trường, kể cả thương mại điện tử. Những mô hình sinh kế do Bộ đội Biên phòng tỉnh xây dựng đã giúp nhiều hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số từng bước thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, năng suất thấp, chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế góp phần xóa đói, giảm nghèo và mở ra hướng làm giàu cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới vẫn còn tồn tại một số hạn chế: Việc tham gia tạo lập môi trường sinh kế thuận lợi cho đồng bào dân tộc thiểu số ở một số thời điểm chưa vững chắc. Chất lượng tham gia bảo đảm nguồn lực sinh kế có mặt chưa cao và thiếu bền vững. Bên cạnh đó, một số mô hình sinh kế do Bộ đội Biên phòng tỉnh xây dựng có quy mô nhỏ, chưa phù hợp đầy đủ với điều kiện thực tế của địa phương và phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số nên hiệu quả chưa cao, khó nhân rộng.
Nguyên nhân của những hạn chế trên do khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở, điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh và mặt trái của kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện ở một số cấp uỷ, chỉ huy đơn vị chưa thường xuyên, thiếu chiều sâu. Một số cán bộ, chiến sĩ còn hạn chế về kiến thức kinh tế, kỹ năng tuyên truyền, hướng dẫn sản xuất và hiểu biết phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng còn phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ trong điều kiện lực lượng và nguồn lực có hạn, thiếu cơ chế, chính sách đặc thù dẫn đến mức độ tập trung và chất lượng tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới chưa cao. Công tác phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban, ngành và lực lượng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có lúc chưa chặt chẽ, nhất là sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp chậm sửa đổi các quy chế phối hợp.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp thuộc Bộ đội Biên phòng Tỉnh cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Đảng uỷ quân sự Tỉnh về công tác dân tộc, dân vận và phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới; đồng thời cụ thể hóa thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch phù hợp với đặc điểm từng đơn vị và địa bàn. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phải gắn chặt nhiệm vụ tham gia bảo đảm sinh kế với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; bám sát thực tiễn đời sống đồng bào dân tộc thiểu số để xác định nội dung, biện pháp thực hiện phù hợp, tránh hình thức, dàn trải.
Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và hiệu quả điều hành của người chỉ huy các cấp; thường xuyên bổ sung nội dung tham gia bảo đảm sinh kế vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác hằng tháng, quý, năm. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, kịp thời phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả; kiên quyết khắc phục biểu hiện chạy theo thành tích hoặc thiếu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Kết quả tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số cần được gắn với công tác thi đua, khen thưởng và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, chỉ huy và cơ quan, đơn vị trong Bộ đội Biên phòng Tỉnh.
Thứ hai, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến công tác dân tộc, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với điều kiện thực tiễn khu vực biên giới. Đồng thời, chú trọng xây dựng các cơ chế, chính sách mang tính đặc thù đối với địa bàn biên giới và hỗ trợ nguồn lực, kinh phí, trang thiết bị tạo điều kiện thuận lợi để Bộ đội Biên phòng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới. Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế, chính sách động viên, khuyến khích phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng trong kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức xã hội với đồng bào khu vực biên giới nhằm hỗ trợ vốn, giống, khoa học – kỹ thuật, đào tạo nghề và tiêu thụ sản phẩm; sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích các nguồn lực xã hội tham gia hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các chương trình, mô hình cụ thể, phù hợp, mang lại hiệu quả cao.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng trực tiếp tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới vững mạnh.
Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh, nhất là lực lượng công tác tại các đồn Biên phòng, giữ vai trò trực tiếp tuyên truyền, vận động, hướng dẫn đồng bào phát triển sinh kế và tham mưu phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về vị trí, ý nghĩa của nhiệm vụ tham gia bảo đảm sinh kế gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, chú trọng xây dựng động cơ, trách nhiệm công tác đúng đắn, khắc phục biểu hiện ngại khó, ngại khổ hoặc xem nhẹ nhiệm vụ tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhất là kiến thức về phát triển kinh tế hộ gia đình, xây dựng mô hình sinh kế, khả năng sử dụng tiếng dân tộc, hiểu biết phong tục, tập quán của đồng bào. Cùng với đó, cần chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách và kịp thời động viên, khen thưởng để cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với khu vực biên giới.
Thứ tư, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng trên địa bàn trong tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế phối hợp phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức biên chế mới của Bộ đội Biên phòng (sau khi sáp nhập về Bộ Chỉ huy quân sự Tỉnh), bảo đảm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng phối hợp, nhất là giữa đồn Biên phòng với công an xã, ban chỉ huy quân sự xã và các lực lượng lên quan trong tham mưu và tổ chức thực hiện các chương trình, mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn và nhu cầu thực tế của đồng bào dân tộc thiểu số; gắn hỗ trợ sinh kế với xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới.
Các lực lượng cần duy trì chặt chẽ chế độ trao đổi thông tin, giao ban, kiểm tra, sơ kết, tổng kết nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh nội dung, phương thức phối hợp phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng trong tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và phối hợp với các lực lượng tổ chức các hoạt động hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả dịch bệnh, qua đó nâng cao hiệu quả tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới.
4. Kết luận
Tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới là nhiệm vụ quan trọng của Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng, gắn chặt với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và củng cố “thế trận lòng dân” ở địa bàn chiến lược. Trong bối cảnh cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp; hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và đẩy mạnh phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các lực lượng trên địa bàn. Chỉ trên cơ sở đó mới phát huy hiệu quả vai trò của Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng trong tham gia bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng khu vực biên giới phát triển ổn định, giàu mạnh và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng (2026). Báo cáo số 971/BC-BCH ngày 06/3/2026 về Tổng kết các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng tham gia phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội ở khu vực biên giới, giai đoạn 2015 – 2025.
Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng (2024). Báo cáo số 1607/BC-BCH ngày 24/5/2024 về kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 và kết quả giúp xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định số 1177/QĐ-UBND ngày 12/9/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2026). Báo cáo số 665/BC-UBND ngày 13/3/2026 về tổng kết việc thi hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024 của Chính phủ.
Quốc hội (2020). Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020.



