Issues in strengthening the practical orientation of political theory teaching at provincial-level Political Schools today in the current context
ThS. Nguyễn Việt Anh
Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
Email: vietanhctkhanhhoa@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị cấp tỉnh là yêu cầu trực tiếp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở trong bối cảnh đổi mới mô hình quản trị, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Lý luận chính trị chỉ có sức sống khi được đặt trong quan hệ với thực tiễn lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và phục vụ Nhân dân ở địa phương.
Từ khóa: Lý luận chính trị; đào tạo, bồi dưỡng; tính thực tiễn; trường chính trị cấp tỉnh; giảng dạy lý luận chính trị.
Abstract: Strengthening the practical orientation of political theory teaching at provincial-level political schools is a direct requirement for improving the quality of training and fostering grassroots officials in the context of governance reform, digital transformation, decentralization, delegation of authority, and the operation of the two-tier local government model. Political theory is meaningful only when it is closely connected with the practice of leadership, management, organizational implementation, and public service at the local level.
Keywords: Political theory; training and fostering; practical orientation; provincial-level political schools; political theory teaching.
1. Đặt vấn đề
Trường chính trị cấp tỉnh giữ vị trí quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị ở địa phương. Đối tượng học viên của các trường chính trị không phải là những người học lý luận thuần túy mà chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức đang hoặc sẽ trực tiếp tham gia lãnh đạo, quản lý, tham mưu, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở. Vì vậy, chất lượng giảng dạy lý luận chính trị không chỉ được đo bằng mức độ truyền đạt đúng nội dung mà quan trọng hơn là khả năng giúp người học hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp luận cách mạng, bản lĩnh chính trị, năng lực nhận diện và xử lý các vấn đề thực tiễn.
Trong giảng dạy lý luận chính trị, tính thực tiễn không phải là phần liên hệ thêm cho bài giảng sinh động hơn, đó là yêu cầu thuộc về bản chất của lý luận cách mạng. Lý luận chính trị được hình thành từ thực tiễn, khái quát thực tiễn và trở lại chỉ đạo thực tiễn đời sống chính trị – xã hội. Nếu tách khỏi đời sống thực tiễn, lý luận dễ trở thành những mệnh đề khô cứng. Ngược lại, nếu chỉ dừng ở kinh nghiệm cụ thể mà thiếu ánh sáng lý luận, thực tiễn dễ rơi vào vụn vặt, cảm tính, thiếu tầm nhìn. Do đó, giảng dạy lý luận chính trị ở trường chính trị cấp tỉnh phải làm cho người học thấy được lý luận không xa rời công việc hằng ngày của cán bộ cơ sở mà chính là công cụ để nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, xử lý đúng và chịu trách nhiệm đúng trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Yêu cầu này càng cấp thiết trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, là động lực then chốt để phát triển đất nước, là yếu tố mang tính quyết định để nâng cao năng lực nội sinh quốc gia, là “đột phá chiến lược” để phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 60). Đại hội cũng nhấn mạnh đổi mới giáo dục, đào tạo là “đổi mới đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 61).
Đối với các trường chính trị cấp tỉnh, những định hướng đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới sâu sắc cách tổ chức giảng dạy lý luận chính trị. Người học đang đứng trước những vấn đề thực tiễn rất cụ thể cần nhận thức một cách sâu sắc, đó là: vận hành chính quyền địa phương hai cấp; cải cách hành chính; chuyển đổi số; quản lý đất đai, đô thị, môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác dân vận; xây dựng Đảng ở cơ sở; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng; phát triển kinh tế tư nhân; an sinh xã hội; dân tộc, tôn giáo; truyền thông chính sách. Nếu bài giảng lý luận không giúp người học soi sáng những vấn đề đó, lý luận khó đi vào công việc thực tế. Ngược lại, nếu giảng dạy biết gắn chặt lý luận với thực tiễn địa phương, trường chính trị sẽ trở thành nơi bồi dưỡng không chỉ tri thức mà còn bản lĩnh, phương pháp và năng lực hành động cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
2. Tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở trường chính trị cấp tỉnh và yêu cầu đổi mới hiện nay
Tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị trước hết thể hiện ở sự thống nhất giữa mục tiêu đào tạo với yêu cầu công tác của người học. Học viên trường chính trị cấp tỉnh học lý luận để làm tốt hơn nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, tham mưu, tổ chức thực hiện, vận động quần chúng và xử lý tình huống ở địa phương. Vì vậy, mỗi chuyên đề lý luận chính trị cần được đặt trong quan hệ với chức trách của cán bộ cơ sở. Học về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải giúp học viên hiểu sâu hơn yêu cầu thượng tôn pháp luật, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ. Học về dân chủ xã hội chủ nghĩa phải giúp học viên biết phát huy dân chủ ở cơ sở, đối thoại với Nhân dân, xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo. Học về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải giúp học viên nhận diện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong phát triển địa phương.
Tính thực tiễn cũng thể hiện ở khả năng dùng lý luận để giải thích đúng những biến đổi và những quan hệ phức hợp đang diễn ra trong đời sống xã hội. Một vụ việc đất đai có thể liên quan đến pháp luật, lợi ích kinh tế, tâm lý xã hội, truyền thông mạng, niềm tin của người dân và năng lực đối thoại của chính quyền. Một chủ trương phát triển kinh tế có thể tác động đến sinh kế, môi trường, văn hóa, quan hệ xã hội và an ninh trật tự. Một chính sách chuyển đổi số có thể mở ra cơ hội phục vụ tốt hơn, nhưng cũng làm lộ ra hạn chế về năng lực số của cán bộ, khả năng tiếp cận của người dân và an toàn dữ liệu. Nếu giảng dạy lý luận chính trị không giúp học viên có năng lực phân tích những quan hệ phức hợp đó, lý luận dễ bị hiểu như hệ thống tri thức nằm ngoài thực tiễn.
Nhìn chung, ở các trường chính trị cấp tỉnh, việc tăng cường tính thực tiễn những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực. Giảng viên đã chú trọng hơn đến liên hệ thực tế; nhiều bài giảng có ví dụ địa phương; hoạt động thảo luận, nghiên cứu thực tế, viết tiểu luận cuối khóa được quan tâm; một số trường đã xây dựng mô hình lớp học gắn với tình huống, mời báo cáo viên thực tiễn, tổ chức cho học viên đi nghiên cứu tại cơ sở. Những cách làm đó giúp bài giảng bớt một chiều, khơi dậy kinh nghiệm công tác của học viên và làm cho lý luận gần hơn với đời sống.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hạn chế vẫn còn khá rõ. Một số bài giảng tuy đã thiết kế phần liên hệ thực tiễn nhưng liên hệ còn chung chung, chưa đi vào mâu thuẫn cụ thể của địa phương. Có giảng viên đưa nhiều ví dụ nhưng thiếu phân tích lý luận, khiến bài giảng giống kể chuyện thực tế hơn là khái quát khoa học. Có nơi nghiên cứu thực tế vẫn nặng hình thức, chưa chuyển hóa thành tình huống giảng dạy, chuyên đề cập nhật hoặc khuyến nghị chính sách. Có học viên có nhiều kinh nghiệm nhưng chưa được tổ chức để chia sẻ, phản biện, đối thoại một cách khoa học. Tình trạng này làm cho yêu cầu tăng cường tính thực tiễn chưa thật sự trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ quá trình dạy học. Đánh giá chung về điều này, Đại hội XIV đã chỉ ra một hạn chế có ý nghĩa gợi mở trực tiếp đối với giáo dục, đào tạo, đó là: “Phương pháp giáo dục chưa phát huy được sự tích cực, sáng tạo của người học, chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng và phẩm chất cho người học” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 129).
Có thể khẳng định, tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị cấp tỉnh hiện nay không chỉ là yêu cầu đổi mới phương pháp mà là yêu cầu đổi mới toàn bộ logic đào tạo cán bộ. Đó là sự chuyển đổi từ dạy để người học nắm nội dung sang dạy để người học biết vận dụng; từ coi lớp học là nơi truyền đạt sang coi lớp học là không gian đối thoại lý luận và thực tiễn; từ đánh giá bằng khả năng tái hiện tri thức sang đánh giá bằng năng lực phân tích và giải quyết vấn đề; từ nghiên cứu thực tế như một hoạt động phụ trợ sang nghiên cứu thực tế như nguồn sống của bài giảng.
3. Những vấn đề đặt ra đối với tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị cấp tỉnh
Một là, cần nhận thức đúng tính thực tiễn như một nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình giảng dạy lý luận chính trị.
Tính thực tiễn phải được hiểu là nguyên tắc tổ chức toàn bộ quá trình giảng dạy, từ xác định mục tiêu bài học, lựa chọn nội dung trọng tâm, thiết kế câu hỏi, tổ chức thảo luận, kiểm tra, đánh giá đến nghiên cứu thực tế và cập nhật bài giảng. Một bài giảng lý luận chính trị có tính thực tiễn không phải là bài giảng kể nhiều chuyện thực tế mà là bài giảng giúp học viên nhìn thực tế bằng phương pháp lý luận. Chẳng hạn, khi giảng về quan điểm “Dân là gốc”, vấn đề không chỉ là nhắc lại mệnh đề mà phải làm rõ vì sao mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân; vì sao sự hài lòng của người dân trở thành tiêu chí đánh giá cán bộ; vì sao cán bộ cơ sở nếu xa dân, ngại đối thoại, né tránh trách nhiệm thì không thể vận hành hiệu quả nền quản trị địa phương hiện đại. Đại hội XIV nhấn mạnh phải “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc’”; đồng thời, yêu cầu “lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 237-238).
Nhận thức đúng tính thực tiễn còn đòi hỏi phải thấy rằng người học ở trường chính trị cấp tỉnh không tiếp nhận lý luận như một trang giấy trắng. Họ mang vào lớp học kinh nghiệm công tác, thành công, lúng túng, áp lực và cả những câu hỏi chưa có lời giải từ cơ sở. Nếu giảng viên chỉ truyền đạt một chiều, kinh nghiệm ấy bị bỏ phí. Nếu giảng viên biết tổ chức đối thoại thì kinh nghiệm ấy sẽ trở thành chất liệu để kiểm chứng lý luận, còn lý luận trở thành công cụ để nâng kinh nghiệm lên trình độ nhận thức khoa học. Điều quan trọng là phải làm cho cán bộ, giảng viên và học viên thống nhất rằng, học lý luận chính trị không phải để hoàn thành tiêu chuẩn chức danh mà để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và phục vụ Nhân dân. Khi động cơ học tập chuyển từ “học để đủ điều kiện” sang “học để làm việc tốt hơn”, tính thực tiễn của bài giảng mới có môi trường để phát huy. Đây là sự thay đổi rất căn bản, vì nếu động cơ học tập còn hình thức thì mọi đổi mới phương pháp chỉ tác động ở bề mặt.
Hai là, cần khắc phục khoảng cách giữa chương trình, giáo trình với thực tiễn đa dạng, biến động của địa phương.
Chương trình, giáo trình lý luận chính trị phải bảo đảm tính thống nhất, tính hệ thống, tính khoa học và tính Đảng. Đó là yêu cầu không thể xem nhẹ. Tuy nhiên, thực tiễn địa phương lại luôn phong phú, đa dạng, không lặp lại một cách cơ học. Một tỉnh miền núi có những vấn đề khác với tỉnh đồng bằng; một địa phương công nghiệp hóa nhanh có những áp lực khác với địa phương nông nghiệp; phường đô thị có yêu cầu quản trị khác với xã vùng cao; địa bàn ven biển có những mối quan hệ kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh khác với địa bàn nội địa.
Khoảng cách giữa giáo trình và thực tiễn địa phương nếu không được thu hẹp, xử lý tốt sẽ tạo ra hai biểu hiện lệch lạc. Một là, giảng dạy nặng giáo trình, ít cập nhật, làm cho người học cảm thấy lý luận xa công việc. Hai là, liên hệ thực tiễn tùy hứng, thiếu căn cứ khoa học, làm giảm tính chuẩn mực của bài giảng. Vấn đề đặt ra là phải giữ vững khung lý luận thống nhất; đồng thời, làm giàu bài giảng bằng chất liệu thực tiễn địa phương được lựa chọn, xử lý và khái quát nghiêm túc. Muốn vậy, mỗi trường chính trị cấp tỉnh cần xây dựng hệ thống dữ liệu thực tiễn phục vụ giảng dạy. Dữ liệu đó không chỉ gồm nghị quyết, báo cáo kinh tế – xã hội, chương trình hành động của tỉnh mà còn gồm các mô hình hay, vụ việc điển hình, tình huống quản lý, bài học từ cơ sở, số liệu cải cách hành chính, chuyển đổi số, công tác dân vận, xây dựng Đảng, an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Dữ liệu phải được phân loại theo học phần, chuyên đề và được cập nhật thường xuyên, tránh tình trạng mỗi giảng viên tự tìm ví dụ rời rạc.
Trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ xã, phường đang trực tiếp tiếp nhận nhiều nhiệm vụ hơn, xử lý nhiều hồ sơ hơn, đối mặt trực tiếp hơn với yêu cầu phục vụ Nhân dân, nếu các bài giảng về Nhà nước, pháp luật, dân chủ, dân vận, xây dựng Đảng, quản lý hành chính, đạo đức công vụ không cập nhật sự thay đổi này, nội dung đào tạo sẽ chậm hơn thực tiễn. Trường chính trị cần trở thành nơi giúp cán bộ cơ sở hiểu bản chất của sự thay đổi, không chỉ học quy định mới mà còn nắm phương pháp thích ứng với mô hình quản trị mới. Khắc phục khoảng cách giữa giáo trình và thực tiễn cũng đòi hỏi phải đưa thực tiễn địa phương vào bài giảng bằng ngôn ngữ lý luận. Không phải mọi hiện tượng thực tế đều có thể đưa vào lớp học. Giảng viên lựa chọn vấn đề tiêu biểu, phân tích bản chất, chỉ ra quan hệ lợi ích, nguyên nhân, hệ quả và bài học phương pháp. Khi đó, thực tiễn không làm loãng lý luận mà làm cho lý luận có sức thuyết phục hơn.
Ba là, cần xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực kép: vững lý luận, sâu thực tiễn và biết chuyển hóa thực tiễn thành tri thức giảng dạy.
Giảng viên là nhân tố quyết định trực tiếp chất lượng tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị. Một giảng viên lý luận chính trị ở trường chính trị cấp tỉnh không thể chỉ nắm chắc giáo trình, giảng đúng đề cương, bảo đảm thời lượng. Họ phải có khả năng nghiên cứu lý luận, cập nhật đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, hiểu đời sống chính trị, hành chính, xã hội của địa phương. Năng lực thực tiễn của giảng viên không tự nhiên hình thành chỉ bằng thâm niên công tác mà đòi hỏi quá trình đi cơ sở, khảo sát, đối thoại với cán bộ địa phương, tham gia nghiên cứu đề tài, dự hội nghị chuyên đề, phân tích báo cáo, theo dõi dư luận xã hội, viết bài tổng kết thực tiễn và thường xuyên tự làm mới bài giảng. Nếu giảng viên thiếu trải nghiệm thực tiễn, bài giảng dễ an toàn, đúng nhưng nhạt; nếu thiếu nền tảng lý luận, bài giảng dễ nhiều chuyện nhưng không sâu. Khó nhất là kết hợp được hai yêu cầu: lý luận phải chắc, thực tiễn phải sống.
Cần đặc biệt coi trọng năng lực tổng kết thực tiễn của giảng viên. Tổng kết thực tiễn không phải là ghi lại những việc đã làm mà là phát hiện vấn đề, rút ra quy luật, chỉ ra mô hình, phân tích nguyên nhân thành công, thất bại và khái quát thành bài học có thể sử dụng trong giảng dạy. Một mô hình dân vận hiệu quả ở cơ sở, một vụ việc khiếu kiện được xử lý tốt, một cách làm hay trong chuyển đổi số cấp xã, một mô hình đối thoại với Nhân dân, một kinh nghiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng trên mạng xã hội đều có thể trở thành tình huống giảng dạy nếu được xử lý khoa học.
Đội ngũ giảng viên cũng cần được rèn luyện kỹ năng sư phạm phù hợp với đối tượng học viên là cán bộ. Giảng viên cần đặt câu hỏi đúng; không chỉ truyền đạt mà phải biết dẫn dắt tranh luận; không chỉ kết luận mà phải biết buộc người học suy nghĩ. Với học viên có kinh nghiệm thực tiễn, giảng viên cần bản lĩnh học thuật để điều hành thảo luận, xử lý các ý kiến khác nhau, tránh cả áp đặt lý luận lẫn buông lỏng thành trao đổi kinh nghiệm đơn thuần.
Để xây dựng năng lực kép cho giảng viên, trường chính trị cần đổi mới cách đánh giá giảng viên. Không nên chỉ đánh giá qua hồ sơ bài giảng, số tiết, bằng cấp, chứng chỉ mà phải đánh giá qua chất lượng cập nhật thực tiễn, sản phẩm nghiên cứu, tình huống giảng dạy, khả năng tổ chức thảo luận, phản hồi của học viên và đóng góp vào tổng kết thực tiễn địa phương. Khi tiêu chí đánh giá thay đổi, giảng viên sẽ có động lực đi sâu vào thực tiễn hơn.
Bốn là, cần đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá theo hướng hình thành năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn.
Phương pháp giảng dạy là nơi thể hiện rõ nhất tính thực tiễn của bài giảng. Nếu lớp học chủ yếu là giảng viên nói, học viên nghe, cuối kỳ học viên tái hiện nội dung thì dù bài giảng có nhiều thông tin thực tế, năng lực vận dụng của người học vẫn khó được hình thành. Đổi mới phương pháp không có nghĩa là phủ nhận thuyết trình. Với lý luận chính trị, thuyết trình vẫn cần thiết để bảo đảm tính hệ thống và định hướng tư tưởng. Nhưng cần kết hợp với nêu vấn đề, đối thoại, thảo luận, phân tích tình huống, làm việc nhóm, phản biện, xây dựng kế hoạch hành động.
Điều cần đổi mới sâu hơn là thiết kế tình huống học tập. Tình huống phải sát chức trách người học, có dữ liệu, có yêu cầu lựa chọn phương án và có căn cứ lý luận để phân tích. Ví dụ, một tình huống về thực hiện dân chủ ở cơ sở không nên chỉ hỏi khái niệm dân chủ mà phải đặt học viên vào tình huống người dân chưa đồng thuận với một dự án phát triển, từ đó, yêu cầu xác định cách công khai thông tin, tổ chức đối thoại, vận động, lắng nghe, giải quyết kiến nghị và bảo đảm đúng pháp luật. Một tình huống về đạo đức công vụ không chỉ hỏi tiêu chuẩn cán bộ mà phải đặt ra lựa chọn giữa lợi ích cá nhân, áp lực quan hệ và trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Khi học viên phải suy nghĩ trong tình huống, lý luận mới trở thành phương pháp.
Kiểm tra, đánh giá cũng phải thay đổi tương ứng. Nếu đề thi chỉ yêu cầu trình bày lại nội dung đã học, người học sẽ học theo hướng ghi nhớ. Nếu đề thi yêu cầu vận dụng lý luận vào phân tích một vấn đề địa phương, đề xuất giải pháp cho một tình huống cụ thể hoặc phản biện một nhận thức sai lệch, người học buộc phải hiểu bản chất. Do đó, cần tăng tỷ trọng tiểu luận vận dụng, bài tập tình huống, báo cáo thực tế, thuyết trình, phản biện nhóm, đề án nhỏ gắn với vị trí công tác. Đổi mới đánh giá không có nghĩa là hạ thấp yêu cầu lý luận. Ngược lại, vận dụng đúng đòi hỏi phải nắm chắc lý luận hơn. Người học chỉ có thể xử lý tốt tình huống nếu hiểu bản chất quan điểm của Đảng, nắm phương pháp luận, biết phân biệt hiện tượng với bản chất, nguyên nhân với biểu hiện, lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài.
Đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học cũng cần gắn với chuyển đổi số. Các nền tảng học tập, kho học liệu số, diễn đàn trao đổi, ngân hàng tình huống, dữ liệu địa phương, công cụ khảo sát nhanh có thể hỗ trợ mạnh cho giảng dạy. Nhưng bản thân công nghệ không tự làm cho bài giảng có tính thực tiễn. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp giảng viên có thêm dữ liệu, học viên có thêm cơ hội tương tác và nhà trường quản lý tốt hơn quá trình học tập. Không nên đồng nhất việc dùng trình chiếu, lớp học trực tuyến hay tài liệu số, dữ liệu số với đổi mới phương pháp.
Năm là, cần xây dựng cơ chế gắn kết thực chất giữa trường chính trị với cấp ủy, chính quyền, cơ quan tham mưu và cơ sở thực tiễn của địa phương.
Tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị không thể chỉ là nỗ lực riêng của từng giảng viên. Nó đòi hỏi một cơ chế gắn kết bền vững giữa trường chính trị với đời sống chính trị, hành chính, xã hội của địa phương. Trường chính trị cần có quan hệ thường xuyên với các ban xây dựng Đảng, sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang, xã, phường, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, y tế, khu dân cư, mô hình thực tiễn. Những chủ thể này vừa là nơi cung cấp chất liệu thực tiễn, vừa là nơi kiểm nghiệm chất lượng đào tạo cán bộ.
Cơ chế gắn kết đó cần được tổ chức thành quy trình. Hằng năm, trường chính trị có thể phối hợp với tỉnh xác định các vấn đề thực tiễn trọng tâm cần đưa vào giảng dạy và nghiên cứu: vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng Đảng ở cơ sở, dân vận, an sinh xã hội, phát triển kinh tế tư nhân, quản lý đất đai, đô thị, dân tộc, tôn giáo, bảo vệ nền tảng tư tưởng. Trên cơ sở đó, các khoa, bộ môn xây dựng kế hoạch cập nhật bài giảng, nghiên cứu thực tế, hội thảo, tọa đàm, viết tình huống và mời báo cáo viên thực tiễn.
Trường chính trị cũng cần chuyển từ vai trò “nơi mở lớp” sang vai trò “trung tâm tri thức chính trị – hành chính của địa phương”. Điều này không có nghĩa trường làm thay cơ quan tham mưu chính sách mà là trường có trách nhiệm góp phần tổng kết thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp, giải thích đường lối, cung cấp luận cứ khoa học, phát hiện vấn đề từ cơ sở và tham gia nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Khi nhà trường có đóng góp trở lại cho địa phương, địa phương sẽ có nhu cầu cung cấp thực tiễn cho nhà trường, quá trình đào tạo nhờ đó bớt khép kín.
Một điểm rất quan trọng là phải gắn đào tạo với theo dõi sau đào tạo. Nếu học viên hoàn thành chương trình rồi nhà trường không có kênh đánh giá việc vận dụng kiến thức vào công tác, rất khó biết bài giảng có thật sự hữu ích hay không. Cần có cơ chế lấy phản hồi từ cơ quan sử dụng cán bộ, từ học viên sau khi trở về công tác, từ lãnh đạo địa phương và từ thực tiễn triển khai nhiệm vụ. Sự phản hồi đó là thước đo khách quan để điều chỉnh nội dung, phương pháp và cách tổ chức đào tạo. Cơ chế gắn kết với thực tiễn còn giúp khắc phục bệnh hình thức trong đào tạo lý luận chính trị. Khi bài giảng gắn với vấn đề thật, học viên thật, công việc thật và tiêu chí đánh giá thật, việc học sẽ bớt đối phó. Đó cũng là cách thiết thực để khẳng định vai trò của trường chính trị cấp tỉnh trong xây dựng đội ngũ cán bộ “gần dân, sát cơ sở, vì dân, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ” như tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
4. Kết luận
Tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị cấp tỉnh là yêu cầu có ý nghĩa căn bản đối với nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Đó không phải là việc làm cho bài giảng bớt khô khan bằng một vài ví dụ thực tế mà là đổi mới cách hiểu, cách dạy, cách học, cách đánh giá và cách gắn kết nhà trường với đời sống địa phương. Trong bối cảnh thực tiễn cơ sở biến đổi nhanh, nhiệm vụ của cán bộ ngày càng nặng nề, yêu cầu phục vụ Nhân dân ngày càng cao, lý luận chính trị càng phải chứng minh sức sống của mình bằng khả năng soi sáng thực tiễn và định hướng hành động.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 60, 61, 129, 237-238.



