Quản lý nhà nước đối với logistics xanh ở Việt Nam

Governing green logistics in Vietnam

NCS.ThS. Nguyễn Ngọc Thuyên
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (UTT)
Email: thuyennn@utt.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về chuyển đổi xanh trong giao thông vận tải và phát triển dịch vụ logistics. Tuy nhiên, khoảng trống hiện nay không nằm ở tham vọng chính sách mà ở khả năng cụ thể hóa các định hướng thành hệ thống chỉ tiêu thống kê, dữ liệu hoạt động và cơ chế đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải (Measurement, Reporting and Verification – MRV) phù hợp với thông lệ quốc tế. Bài viết phân tích khoảng trống tích hợp giữa chính sách chuyển đổi năng lượng trong giao thông vận tải và định hướng phát triển dịch vụ logistics; trên cơ sở phân tích chính sách, tài liệu học thuật, tiêu chuẩn quốc tế và tham vấn thăm dò 46 phản hồi ẩn danh, đề xuất cách tiếp cận quản lý nhà nước đối với logistics xanh dựa trên dữ liệu, gồm: khái niệm logistics xanh đo lường được, nhóm chỉ tiêu logistics xanh bổ sung vào hệ thống thống kê hiện hành, bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu và lộ trình triển khai MRV giai đoạn 2026 – 2035.

Từ khóa: Logistics xanh; quản lý nhà nước; thống kê logistics; đo đạc; báo cáo và thẩm định phát thải; chính sách logistics; Việt Nam.

Abstract: Vietnam has issued important policy orientations on green energy transition in transport and logistics service development. However, the current gap lies not only in policy ambition but also in the ability to translate such orientations into statistical indicators, operational data and mechanisms for measurement, reporting and verification (MRV) of emissions. This article analyses the integration gap between transport energy transition policy and logistics development strategy, thereby proposing a data-based approach to state management of green logistics. Based on policy analysis, academic literature, international standards and an exploratory consultation with 46 anonymized responses, the article recommends a measurable definition of green logistics, a set of green logistics indicators within the existing logistics statistical system, a minimum data set and a roadmap for logistics MRV for the period 2026-2035.

Keywords: Green logistics; state management; logistics statistics; measurement, reporting and verification of emissions; logistics policy; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Trong gần một thập niên qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách và khung pháp lý về phát triển logistics gắn với yêu cầu chuyển đổi xanh. Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ logistics, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành Giao thông vận tải, Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 09/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050, cùng các quy định về hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics đã tạo cơ sở cho phát triển logistics theo hướng xanh và bền vững.

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có lớp đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) chuyên biệt cho logistics xanh. Hệ thống MRV giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc gia và cấp ngành đã được thiết lập theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP), song chưa được cụ thể hóa xuống cấp hoạt động của chuỗi logistics. Khoảng trống này xuất phát một phần từ đặc điểm phát thải của logistics: phân tán, liên ngành ở nhiều khâu như vận tải, kho bãi, kho lạnh, cảng biển, cảng cạn (ICD), bao bì và logistics ngược; các khâu này lại thuộc phạm vi quản lý của nhiều ngành, trong khi dữ liệu và phương pháp tính phát thải chưa được tích hợp. Do đó, chuyển đổi năng lượng trong giao thông vận tải là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tạo ra kết quả logistics xanh đo lường được, nếu thiếu hệ thống dữ liệu và cơ chế MRV phù hợp với toàn chuỗi.

Xây dựng cơ chế MRV cho logistics là yêu cầu cần thiết để theo dõi tiến trình chuyển đổi xanh, đánh giá kết quả thực hiện và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Bài viết phân tích khoảng trống tích hợp giữa chính sách chuyển đổi năng lượng trong giao thông vận tải và định hướng phát triển logistics, đồng thời đề xuất khái niệm và nhóm chỉ tiêu logistics xanh bổ sung vào hệ thống thống kê hiện hành, bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu và lộ trình triển khai MRV giai đoạn 2026 – 2035.

2. Cơ sở tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khái niệm logistics xanh theo hướng đo lường

Trong nghiên cứu quốc tế, logistics xanh được tiếp cận theo hướng tích hợp các yếu tố môi trường vào tổ chức và vận hành toàn bộ hệ thống logistics, chứ không chỉ giới hạn ở hoạt động vận tải (Dekker, R., Bloemhof, J. & Mallidis, I., 2012). Khái niệm này gắn với quản trị chuỗi cung ứng bền vững, kết hợp các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội (Seuring, S. & Müller, M., 2008). Nhiều nghiên cứu đã đi sâu vào việc giảm phát thải cacbon trong logistics ở cấp doanh nghiệp (McKinnon, A.,2018). Trong khi đó, phần lớn các cách tiếp cận tại Việt Nam vẫn dừng ở mô tả định tính, chưa làm rõ các tiêu chí và chỉ tiêu đo lường, gây khó khăn cho việc thống kê, đánh giá và hoạch định chính sách.

Bài viết tiếp cận logistics xanh là việc tổ chức, cung ứng và quản lý các hoạt động logistics theo hướng giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hạn chế tác động bất lợi đến môi trường, áp dụng cho toàn bộ hoặc từng khâu của chuỗi – từ vận tải, kho bãi, cảng, cảng cạn (ICD), trung tâm logistics đến chuỗi lạnh, bao bì và logistics ngược. Điểm cốt lõi là kết quả chuyển đổi xanh phải đo đạc, thống kê, báo cáo và thẩm định được trên cơ sở dữ liệu hoạt động, thông qua các chỉ tiêu như lượng phát thải khí nhà kính quy đổi theo CO₂ tương đương (CO₂e), cường độ phát thải trên tấn-km, mức tiêu thụ điện của kho bãi hoặc tỷ lệ phương tiện sử dụng năng lượng sạch.

Cần phân biệt logistics xanh với vận tải xanh: vận tải xanh chủ yếu tập trung vào phương tiện, nhiên liệu và hạ tầng vận tải, còn logistics xanh có phạm vi rộng hơn, bao quát cả kho bãi, cảng biển, cảng cạn, chuỗi lạnh, bao bì, logistics ngược và dữ liệu vận hành. Trong phạm vi bài viết, logistics xanh được tiếp cận trước hết ở trục giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng – những yếu tố có thể lượng hóa bằng dữ liệu hoạt động; các khía cạnh môi trường khác được xem là cấu phần mở rộng của quá trình chuyển đổi xanh.

2.2. Cách tiếp cận đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải – MRV

MRV là cơ chế quản lý nhằm xác định dữ liệu đầu vào, tính toán phát thải, lập báo cáo và thẩm định kết quả theo một phương pháp thống nhất. Với logistics xanh, MRV không chỉ xác định lượng phát thải mà còn xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi tiến trình chuyển đổi, đánh giá kết quả và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Cách tiếp cận này thống nhất với quan điểm coi thông tin, dữ liệu là một công cụ chính sách độc lập, bên cạnh các công cụ mệnh lệnh, tiêu chuẩn và khuyến khích kinh tế (Hood, 1983; Salamon, 2002). Trên nền dữ liệu MRV, các công cụ như ưu đãi, tín dụng xanh hay mua sắm công xanh mới có thể được triển khai minh bạch và gắn với kết quả thực tế. Thiết lập MRV cho logistics xanh vừa phục vụ công tác quản lý phát thải, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước dựa trên dữ liệu và bằng chứng.

Về mặt kỹ thuật, việc đo đạc và kế toán phát thải trong logistics có thể tham chiếu các tiêu chuẩn, khung quốc tế như: ISO 14064-1, ISO 14083, Khung hạch toán và báo cáo phát thải logistics (GLEC Framework) của Global Logistics Emissions Council và GHG Protocol về phát thải khí nhà kính trong chuỗi giá trị7. Bài viết không đi sâu vào kỹ thuật kế toán cacbon mà tập trung vào 4 khía cạnh quản lý nhà nước: (1) thiết kế hệ thống chỉ tiêu; (2) xác định nguồn dữ liệu; (3) phân định trách nhiệm báo cáo; (4) xây dựng cơ chế MRV phù hợp với đặc thù của lĩnh vực logistics.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách, kết hợp phân tích tài liệu và tham vấn ý kiến của các bên liên quan.

Thứ nhất, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến bảo vệ môi trường, chuyển đổi năng lượng, giao thông vận tải và phát triển logistics.

Thứ hai, tổng quan và phân tích các công trình nghiên cứu, tiêu chuẩn và khung hướng dẫn quốc tế về logistics xanh, phát thải khí nhà kính và MRV.

Thứ ba, tham vấn 46 phản hồi ẩn danh từ các nhóm đối tượng gồm doanh nghiệp logistics, cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu, hiệp hội và tổ chức kiểm định.

Kết quả tham vấn được dùng để bổ sung góc nhìn thực tiễn và kiểm tra tính phù hợp của các đề xuất, không nhằm cung cấp bằng chứng đại diện cho toàn ngành. Đối chiếu các nguồn thông tin, bài viết phân tích mối liên hệ giữa định hướng chính sách với yêu cầu đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả chuyển đổi xanh, đồng thời đề xuất hệ thống chỉ tiêu, bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu và lộ trình MRV giai đoạn 2026 – 2035.

3. Thực trạng khoảng trống trong quản lý nhà nước đối với logistics xanh

3.1. Hai trục chính sách: Quyết định số 876/QĐ-TTg và Quyết định số 2229/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định số 876/QĐ-TTg và Quyết định số 2229/QĐ-TTg cùng định hướng chuyển đổi xanh nhưng theo hai logic quản lý bổ sung cho nhau. Quyết định số 876/QĐ-TTg tiếp cận theo ngành và phương thức vận tải, tập trung vào phương tiện, nhiên liệu và hạ tầng năng lượng. Quyết định số 2229/QĐ-TTg tiếp cận theo dịch vụ và năng lực logistics – bản thân Chiến lược cũng đặt mục tiêu phát triển bền vững – song chú trọng đến doanh nghiệp, thị trường, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Điểm chung là cả hai đều chưa có lớp chỉ tiêu, dữ liệu ở cấp hoạt động để kết nối; nếu không được nối bằng một hệ thống chỉ tiêu và dữ liệu thống nhất, hai trục này dễ để lại khoảng trống trong việc tích hợp chính sách (Bảng 1).

Bảng 1. So sánh cách tiếp cận quản lý của Quyết định số 876/QĐ-TTg và Quyết định số 2229/QĐ-TTg

Tiêu chíQuyết định số 876/QĐ-TTgQuyết định số 2229/QĐ-TTg
Đối tượng quản lýNgành và phương thức vận tải: đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải, hàng khôngDịch vụ, thị trường và năng lực logistics: doanh nghiệp, trung tâm logistics, chi phí, chất lượng và năng lực cạnh tranh
Đòn bẩy chínhPhương tiện, nhiên liệu, chuyển đổi năng lượng và hạ tầng năng lượngPhát triển dịch vụ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực doanh nghiệp
Vị trí trong chuỗi phát thảiTập trung vào nguồn phát thải trực tiếp từ hoạt động vận tải và quá trình chuyển đổi năng lượngTập trung vào hiệu quả, chất lượng, chi phí và năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics
Khoảng trốngChưa bao quát đầy đủ các hoạt động phát thải ngoài vận tải như kho lạnh, kho bãi, cảng, ICD, bao bì và logistics ngượcChưa hình thành đầy đủ hệ thống dữ liệu phát thải ở cấp hoạt động để định lượng và đánh giá mức độ “xanh” của dịch vụ logistics
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Quyết định số 876/QĐ-TTg và Quyết định số 2229/QĐ-TTg.

Khoảng trống hiện nay nằm ở việc liên kết dữ liệu giữa quản lý phát thải và đánh giá mức độ xanh của hoạt động logistics. Dữ liệu phát thải chủ yếu được tổ chức theo phương tiện, nhiên liệu và phương thức vận tải, trong khi kết quả xanh của logistics cần được đo đạc ở nhiều cấp độ, như dịch vụ, doanh nghiệp, tuyến vận chuyển, kho bãi, cảng, ICD và địa phương. Do thiếu hệ thống chỉ tiêu và dữ liệu trung gian để kết nối các cấp độ này, kết quả giảm phát thải của từng phương thức vận tải chưa thể chuyển thành các chỉ số phản ánh đầy đủ mức độ xanh của doanh nghiệp, dịch vụ và toàn bộ chuỗi cung ứng.

3.2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện hành và yêu cầu bổ sung các chỉ tiêu xanh

Thông tư số 12/2021/TT-BKHĐT quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics, tạo nền tảng để bổ sung các chỉ tiêu phản ánh yêu cầu chuyển đổi xanh. Bổ sung trên nền hệ thống hiện hành cho phép tận dụng các nguồn dữ liệu và đầu mối thu thập sẵn có, tránh lập thêm cơ chế báo cáo riêng, qua đó giảm chi phí và gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp (Bảng 2).

Bảng 2. Đối chiếu hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics hiện hành với yêu cầu bổ sung các chỉ tiêu logistics xanh

Nhóm chỉ tiêu hiện cóLiên quan logistics xanhKhoảng trống cần bổ sung
Phương tiện vận tảiLoại năng lượng sử dụng, mức tiêu thụ nhiên liệu/năng lượng, phát thải CO₂e và cường độ phát thải theo tấn-km
Kết cấu hạ tầngĐiện bờ, thiết bị xếp dỡ sử dụng điện, năng lượng tái tạo và mức tiêu thụ năng lượng
Doanh nghiệp logisticsDữ liệu phát thải, báo cáo MRV, chứng nhận và mức độ áp dụng tiêu chuẩn xanh
Thời gian và chi phí logisticsChi phí các-bon, mức tiêu thụ năng lượng và phát thải liên quan đến thời gian chờ, lưu kho và lưu bãi
Chất lượng dịch vụ logisticsTiêu chí về hiệu quả môi trường, cường độ phát thải và mức độ thân thiện với môi trường
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Thông tư số 12/2021/TT-BKHĐT

Bổ sung các chỉ tiêu logistics xanh vào hệ thống thống kê hiện hành có ý nghĩa quan trọng với quản lý nhà nước dựa trên dữ liệu: tạo cơ sở thống nhất để thu thập, tổng hợp dữ liệu về năng lượng, phát thải và hiệu quả môi trường; cung cấp đầu vào cho MRV nhằm so sánh kết quả giữa các doanh nghiệp, phương thức và địa phương, xác định lĩnh vực cần ưu tiên hỗ trợ; và tạo nền tảng để chuyển từ khuyến khích logistics xanh theo định hướng sang quản lý theo dữ liệu và kết quả đo đạc.

4. Đề xuất khung thống kê và MRV logistics xanh

Từ khoảng trống trên, bài viết đề xuất khung thống kê và MRV logistics xanh theo nguyên tắc: chỉ thu thập những biến số vận hành mà doanh nghiệp đã có hoặc dễ ghi nhận, để chỉ tiêu xanh được tính theo công thức chuẩn; đồng thời xác định rõ chủ thể báo cáo và chủ thể thẩm định ở từng cấp. Khung gắn ba yếu tố thường bị tách rời trong các đề xuất chung: chỉ tiêu, dữ liệu tối thiểu và trách nhiệm báo cáo, thẩm định (Bảng 3).

Bảng 3. Khung chỉ tiêu, dữ liệu hoạt động tối thiểu và chủ thể báo cáo, thẩm định đối với logistics xanh

Hoạt động/ Cấp độDữ liệu hoạt động tối thiểuChỉ tiêu logistics xanhCơ chế báo cáo và thẩm định
Vận tải đường bộNhiên liệu, quãng đường, tải trọng, tỷ lệ xe chạy rỗngCO2e/tấn-km; tỷ lệ xe chạy rỗng; hiệu quả sử dụng tải trọngDoanh nghiệp vận tải/logistics báo cáo; thẩm định theo mức độ rủi ro hoặc chọn mẫu
Vận tải thủy, hàng hảiNhiên liệu, hành trình, sản lượng vận chuyểnCO2e/tấn-km; cường độ phát thảiDoanh nghiệp vận tải báo cáo; thẩm định theo mức độ rủi ro hoặc chọn mẫu
Kho bãiĐiện năng, diện tích kho, sản lượng hàng hóa qua khokWh/m2; kWh/tấn hàng; CO2e/tấn hàngĐơn vị khai thác báo cáo; thẩm định thông qua dữ liệu năng lượng và kiểm toán khi cần thiết
Chuỗi lạnhĐiện năng, môi chất lạnh, lượng thất thoátPhát thải từ sử dụng điện và môi chất lạnh; cường độ năng lượngĐơn vị khai thác báo cáo; thẩm định theo quy mô và mức phát thải
Cảng/ICDĐiện năng, nhiên liệu thiết bị, sản lượng hàng hóaCO2e/TEU; tỷ lệ thiết bị điện hóa; cường độ năng lượngĐơn vị khai thác báo cáo; thẩm định bởi tổ chức có năng lực phù hợp
Logistics ngượcKhối lượng bao bì thu hồi, tái sử dụng, tái chếTỷ lệ thu hồi; tỷ lệ tái sử dụng/tái chếDoanh nghiệp logistics báo cáo; thẩm định theo phương pháp và dữ liệu phù hợp
Cấp doanh nghiệpPhát thải Scope 1, Scope 2 và các nguồn Scope 3 có liên quanTổng phát thải; cường độ phát thải; tỷ lệ giảm phát thảiDoanh nghiệp lập báo cáo; thẩm định theo quy mô và yêu cầu quản lý
Cấp ngành/địa phươngDữ liệu tổng hợp từ doanh nghiệp và các hoạt động logisticsChỉ tiêu logistics xanh; chỉ số logistics xanhCơ quan thống kê và cơ quan chuyên ngành tổng hợp, công bố; thực hiện hậu kiểm khi cần thiết
Nguồn: Tác giả đề xuất dựa trên ISO 14064-1, ISO 14083 và GLEC Framework.

Các chỉ tiêu ở Bảng 3 là lớp chỉ tiêu logistics xanh đề xuất bổ sung vào hệ thống thống kê hiện hành, dựa trên các nhóm chỉ tiêu đã phân tích trong Bảng 2. Điểm mới là mỗi chỉ tiêu được gắn với bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu, chủ thể báo cáo và cơ chế thẩm định tương ứng, tạo thành chuỗi liên kết: định nghĩa logistics xanh đo lường được → chỉ tiêu thống kê → dữ liệu hoạt động → MRV → công cụ quản lý nhà nước. Nhờ đó, quản lý logistics xanh đang chuyển dần từ việc dựa trên tuyên bố sang dựa trên dữ liệu và các chỉ số đo lường.

Kết quả tham vấn cũng phản ánh nhu cầu bổ sung các chỉ tiêu và dữ liệu phục vụ công tác quản lý logistics xanh. Trong 46 phản hồi, phần lớn đồng thuận rằng thiếu dữ liệu và thiếu chỉ tiêu đo lường là một trở ngại nổi bật, bên cạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách (Bảng 4).

Bảng 4. Kết quả tham vấn định hướng (n = 46)

Nội dung tham vấnMức đồng thuậnHàm ý chính sách
Cần có định nghĩa và bộ tiêu chí logistics xanh40/46 (87,0%)Thống nhất phạm vi và ranh giới quản lý
Thiếu dữ liệu phát thải là một nút thắt nổi bật36/46 (78,3%)Bổ sung chỉ tiêu thống kê xanh và bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu
Cần cơ chế MRV để ngăn ngừa greenwashing35/46 (76,1%)Ban hành hướng dẫn về đo đạc, báo cáo và thẩm định
Ưu đãi chưa gắn với kết quả đo đạc34/46 (73,9%)Gắn ưu đãi với kết quả được đo đạc và thẩm định        
Chưa cần thiết phải ban hành luật riêng về logistics xanh36/46 (78,3%)Ưu tiên hoàn thiện văn bản hiện hành và ban hành hướng dẫn kỹ thuật
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả tham vấn 46 phản hồi ẩn danh của tác giả.

Từ các kết quả trên, có thể quy các khoảng trống về 3 cụm liên kết: (1) nền tảng (định nghĩa, tiêu chí, thống kê); (2) vận hành (dữ liệu, MRV, thẩm định); (3) thực thi (ưu đãi, phối hợp liên ngành, ngăn ngừa greenwashing – “tẩy xanh”). Ba cụm phụ thuộc lẫn nhau: công cụ khuyến khích cần dựa trên dữ liệu và MRV đáng tin cậy, còn dữ liệu và MRV chỉ triển khai thống nhất được khi đã có định nghĩa, tiêu chí và hệ thống chỉ tiêu phù hợp.

5. Kiến nghị hoàn thiện chính sách và lộ trình thực hiện

Logistics xanh có tính liên ngành cao, liên quan đến giao thông vận tải, môi trường, năng lượng, thương mại và thống kê. Do đó, việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bổ sung, tích hợp các quy định về logistics xanh vào hệ thống pháp luật hiện hành sẽ phù hợp hơn so với việc xây dựng một khung pháp lý riêng, với ưu tiên trước mắt là các quy định về thống kê, dữ liệu, MRV và các hướng dẫn kỹ thuật đặc thù cho logistics.

Một là, bổ sung khái niệm và tiêu chí logistics xanh vào hệ thống văn bản quản lý dịch vụ logistics.

Khái niệm logistics xanh cần được thống nhất để phục vụ quản lý, thống kê và đo đạc, chứ không nhằm tạo thêm điều kiện kinh doanh hay cấp thêm giấy phép mới. Nội hàm nên bao quát các hoạt động gắn trực tiếp với việc sử dụng năng lượng và phát thải: vận tải, kho bãi, xếp dỡ, cảng, ICD, chuỗi lạnh và logistics ngược. Bộ tiêu chí đi kèm nên đơn giản, lượng hóa được và bám sát dữ liệu doanh nghiệp có thể ghi nhận, ưu tiên các chỉ số: mức tiêu thụ năng lượng, phát thải CO₂e, cường độ phát thải theo tấn-km hoặc đơn vị hàng hóa, tỷ lệ phương tiện dùng năng lượng sạch và hiệu quả sử dụng tải trọng; với kho bãi, bổ sung mức tiêu thụ điện và tỷ lệ báo cáo phát thải được thẩm định.

Hai là, bổ sung nhóm chỉ tiêu logistics xanh vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics hiện hành.

Đây là giải pháp khả thi hơn việc lập một hệ thống báo cáo riêng, cho phép tận dụng nền tảng thống kê và các đầu mối thu thập dữ liệu hiện có. Nhóm chỉ tiêu bổ sung nên tập trung vào: phát thải trong vận tải hàng hóa, hiệu quả khai thác phương tiện, tiêu thụ năng lượng tại kho bãi, mức độ xanh hóa cảng và ICD, hiệu quả năng lượng trong chuỗi lạnh, logistics ngược và tỷ lệ doanh nghiệp báo cáo phát thải theo cơ chế MRV.

Ba là, từng bước ban hành hướng dẫn kỹ thuật về MRV phát thải trong logistics trong khuôn khổ pháp luật về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính.

Giai đoạn đầu nên ưu tiên các dữ liệu hoạt động cơ bản mà doanh nghiệp đã có hoặc ghi nhận được với chi phí hợp lý: nhiên liệu tiêu thụ, quãng đường, tải trọng, sản lượng theo tấn-km, điện năng và sản lượng hàng hóa qua kho, cảng, ICD; với một số hoạt động đặc thù, bổ sung tỷ lệ xe chạy rỗng và khối lượng bao bì thu hồi, tái sử dụng, tái chế.

Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu logistics xanh làm nền tảng cho thống kê, đo đạc, đánh giá kết quả chuyển đổi và thiết kế chính sách khuyến khích, đồng thời ngăn ngừa greenwashing.

Bốn là, gắn kết quả logistics xanh với các công cụ QLNN.

Các chính sách tín dụng xanh, thuế, phí, mua sắm công, hỗ trợ chuyển đổi số và đổi mới phương tiện cần từng bước dựa trên các chỉ tiêu, dữ liệu logistics xanh đã được MRV theo phương pháp thống nhất; mức ưu đãi được xác định theo kết quả chuyển đổi xanh thực tế, qua đó tăng cường quản lý nhà nước dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu quả thực thi.

Để các giải pháp khả thi, cần một đầu mối chủ trì điều phối liên ngành và phân định rõ trách nhiệm theo chức năng: cơ quan quản lý nhà nước về logistics chủ trì bộ tiêu chí và cơ chế chứng nhận tự nguyện; cơ quan giao thông và hạ tầng cung cấp dữ liệu phương tiện, cảng, ICD; cơ quan môi trường hướng dẫn phương pháp MRV và thẩm định phát thải khí nhà kính; cơ quan tài chính nghiên cứu ưu đãi gắn với kết quả đo đạc; cơ quan thống kê thu thập, công bố lớp chỉ tiêu logistics xanh; chính quyền địa phương thí điểm, đánh giá chỉ số logistics xanh phù hợp thực tế.

Về lộ trình, giai đoạn 2026 – 2028 tập trung hoàn thiện định nghĩa và bộ tiêu chí khung, bổ sung nhóm chỉ tiêu thống kê logistics xanh và thí điểm bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu tại một số tuyến vận tải, cảng, kho, ICD và doanh nghiệp.

Giai đoạn 2029 – 2031, hoàn thiện hướng dẫn MRV, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu logistics xanh và công bố các chỉ tiêu định kỳ.

Giai đoạn 2032 – 2035, nghiên cứu áp dụng MRV bắt buộc có chọn lọc đối với nhóm hoạt động và doanh nghiệp phát thải lớn, gắn kết quả MRV với các công cụ tài chính, mua sắm công và thị trường các-bon, đồng thời mở rộng thẩm định độc lập.

6. Kết luận

Phát triển logistics xanh ở Việt Nam đòi hỏi chuyển từ cách tiếp cận dựa trên định hướng và cam kết sang quản lý dựa trên dữ liệu và kết quả đo đạc. Bài viết đề xuất một khung quản lý logistics xanh dựa trên dữ liệu gồm: khái niệm logistics xanh đo lường được; nhóm chỉ tiêu bổ sung vào hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics hiện hành; bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu và cơ chế MRV phù hợp với từng cấp độ.

Khung này kết nối dữ liệu hoạt động với thống kê và MRV, đồng thời gắn kết quả logistics xanh với các công cụ quản lý nhà nước như ưu đãi, chứng nhận, mua sắm công và ngăn ngừa greenwashing, qua đó nâng cao khả năng theo dõi, đánh giá kết quả chuyển đổi và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Nghiên cứu còn hạn chế ở tính chất chủ yếu định tính và kết quả tham vấn mới ở mức thăm dò; do vậy, khung chỉ tiêu và bộ dữ liệu hoạt động tối thiểu cần được thử nghiệm tại một số tuyến vận tải, kho bãi, cảng, ICD và doanh nghiệp trước khi hoàn thiện và mở rộng – đây cũng là hướng nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Thông tư số 12/2021/TT-BKHĐT ngày 31/12/2021 quy định về hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics.
Chính phủ (2017). Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics.
Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn.
Chính phủ (2025). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn.
Chính phủ (2026). Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.
Dekker, R., Bloemhof, J. & Mallidis, I. (2012). “Operations research for green logistics: An overview”. European Journal of Operational Research, 219(3), 671–679.
Hood, C. (1983). The Tools of Government. Macmillan, London.
McKinnon, A. (2018). Decarbonizing Logistics: Distributing Goods in a Low Carbon World, Kogan Page, London.
International Organization for Standardization (2018). ISO 14064-1:2018 Greenhouse gases – Part 1: Specification with guidance at the organization level for quantification and reporting of greenhouse gas emissions and removals, ISO, Geneva.
International Organization for Standardization (2023). ISO 14083:2023 Greenhouse gases – Quantification and reporting of GHG emissions arising from transport chain operations, ISO, Geneva.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Seuring, S. & Müller, M. (2008). “From a literature review to a conceptual framework for sustainable supply chain management”. Journal of Cleaner Production, 16(15), 1699–1710.
Smart Freight Center (2023). GLEC Framework for Logistics Emissions Accounting and Reporting. Version 3.0, Amsterdam.
Salamon, L. M. (ed.) (2002). The Tools of Government: A Guide to the New Governance. Oxford University Press, Oxford.
Nguyễn Vi Lê, Đặng Thu Trang (2025). Tăng cường chuỗi cung ứng xanh trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/22/tang-cuong-chuoi-cung-ung-xanh-trong-hoat-dong-xuat-khau-nong-san-viet-nam/
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí cacbon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 09/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
World Resources Institute & WBCSD (2011). Corporate Value Chain (Scope 3) Accounting and Reporting Standard, Washington, DC/Geneva.