Establishing a scientific basis for improving the restoration and embellishment of the interior and worship objects at the Hau Le dynasty temple, Hac Thanh ward, Thanh Hoa province
TS. Trương Ngọc Tuấn
Ban Quản lý di tích Thái miếu nhà Hậu Lê
Email: tuanxumu468@gmail.com
ThS. Đỗ Đức Tuệ
Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội
Email: ductuekc@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung nghiên cứu lịch sử hình thành, quá trình di dời và tổ chức không gian thờ tự của miếu các vua Lê (Thái miếu nhà Hậu Lê) tại Bố Vệ, phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa dưới triều Nguyễn, đặc biệt từ thời Gia Long (1805). Trên cơ sở đối chiếu sử liệu chính thống, tư liệu địa chí, kết quả khảo sát thực địa và sơ đồ bài trí điện thờ do học giả Pau M. Bougier (Pháp) công bố năm 1921, nghiên cứu đã làm rõ số lượng, thành phần và nguyên tắc bố trí trong hậu điện. Đồng thời, bài viết phân tích những biến đổi trong không gian thờ tự qua các thời kỳ, chỉ ra các hiện tượng suy giảm, gia tăng tự phát của các ban thờ, linh vị, tượng thờ và đồ thờ, dẫn đến sự sai lệch so với nguyên trạng lịch sử. Từ đó, khẳng định giá trị khoa học của tư liệu M. Bougier như một căn cứ quan trọng phục vụ công tác bảo tồn, tu bổ và phục hồi nội thất, đồ thờ tại Thái miếu nhà Hậu Lê, góp phần bảo tồn tính nguyên gốc và giá trị lịch sử của di tích.
Từ khóa: Thái Miếu nhà Hậu Lê; nội thất đồ thờ; tu bổ, tôn tạo di tích; M. Bougier; Bố Vệ; Thanh Hóa.
Abstract: This article focuses on the history of the formation, the relocation process, and the spatial organization of the Le Kings’ Temple (the Imperial Ancestral Temple of the Later Lê Dynasty) in Bo Ve, Hac Thanh Ward, Thanh Hoa Province, during the Nguyen Dynasty, particularly from the Gia Long era (1805) onward. Based on a comparison of official historical records, geographical documents, field survey results, and the layout diagram of the main hall published by scholar Pau M. Bougier (France) in 1921, the study clarifies the number, composition, and arrangement principles within the main hall. At the same time, the article analyzes changes in the worship space across different periods, pointing out phenomena of spontaneous decline and increase in the number of altars, spirit tablets, statues, and ritual objects, leading to deviations from the historical original state. Consequently, it affirms the scientific value of M. Bougier’s documentation as a crucial basis for the conservation, restoration, and rehabilitation of the interior and ritual objects at the Later Le Dynasty’s Thai Mieu, thereby contributing to the preservation of the site’s authenticity and historical value.
Keywords: Later Lê Dynasty’s Thai Mieu; interior and ritual objects; restoration and renovation of the historic site; M. Bougier; Bo Vệ, Thanh Hoa.
1. Đặt vấn đề
Miếu các vua Lê, hay còn gọi là Miếu nhà Lê (Bố Vệ miếu, Bố Vệ Lê hoàng miếu, Đền các Vua Lê, Đền Lê), được xây dựng năm 1805 tại thôn Kiều Đại, xã Bố Vệ, tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn; nay thuộc phố Kiều Đại, phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa. Miếu là nơi thờ các vị Hoàng đế và Hoàng hậu nhà Hậu Lê (thế kỷ XV – XVIII), nhằm tôn vinh công lao to lớn của vương triều đối với đất nước. Theo chính sử nhà Nguyễn, năm 1804, vua Gia Long đã chuẩn y cho dòng họ Lê dời Thái miếu từ Thăng Long về Hương Bố Vệ (Thanh Hóa), vùng đất căn bản của nhà Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI – XVIII), nơi sinh trưởng của Hoàng đế Lê Anh Tông, để làm nơi thờ tự các vị liệt đế tiền triều. Theo đó, toàn bộ các cấu kiện vật chất được di dời gần như trọn vẹn, đặc biệt phải kể đến hệ thống thánh vị và linh vật thờ (hiện nay tại Thái miếu còn nhiều thánh vị, nghê gỗ có niên đại từ thế kỷ XV, XVII).
Do vậy, về mặt kế truyền di sản thờ tự, cho đến ý thức về tông truyền dòng tộc, nhà Nguyễn xác lập lại vị thế của nhà Lê ở địa vị tiền triều và công trình xây dựng ở Bố Vệ chính là nơi tông miếu. Điều này còn được khẳng định sâu sắc hơn khi vị trí dựng miếu nằm trên nền điện Chiêu Hòa (điện Hoằng Đức), thờ Tuyên Từ Nhân Ý Chiêu Túc Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Anh. Trong bài viết Đền thờ các vua Lê tại Thanh Hóa, học giả người Pháp M. Bougier cho biết: “Trong đời Hồng Đức (1470 – 1497), vua Lê Thánh Tôn cho cất lên tại làng Kiều Đại một ngôi nhà ba gian để thờ tổ tiên của mẹ vua. Nhà này có tên là Hoằng Đức điện, có nghĩa là đền thờ để tôn vinh đức hạnh của mẹ (B.A.V.H. 1921). Do miếu được di dời từ Thái miếu Thăng Long về nên vẫn quen gọi là Miếu các vua Lê. Suốt gần 1,5 thế kỷ, Thái miếu được triều đình nhà Nguyễn tổ chức tế tự theo cấp trung tự, thể hiện sự trang trọng và lòng tôn kính. Năm 1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã cấp bằng công nhận Thái Miếu, nhà Hậu Lê là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
2. Bối cảnh thành lập Miếu các vua Lê dưới triều vua Gia Long
Tháng 5/1801, Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân. Ngày 02/5/1802, ông lên ngôi vua ở Huế, lấy niên hiệu Gia Long, năm thứ 1. Ngay cuối tháng này, ông xuất binh tiến quân ra Bắc để dẹp nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước. Theo Đại Nam thực lục, “Gia Long có 3 tháng ở Thăng Long (từ ngày 21/7 đến 27/9 năm 1802), ông ngự tại chính điện Kính Thiên để thực hiện hàng loạt chính sách mới” (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, 2010, tr.92-99). Các công việc quan trọng cần giải quyết, như tàn quân Tây Sơn, cựu triều nhà Lê, nhà chúa (Trịnh), tầng lớp sĩ phu và đời sống nhân dân Bắc Hà. Trong đó, với nhà Lê, vua Gia Long nói: “Vương giả lúc mới được nước, phải tôn trọng triều đại trước, là giữ đạo trung hậu” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr.590); hơn nữa,cơ nghiệp của nhà Lê Trung Hưng có công lớn của tổ tiên nhà Nguyễn. Do vậy, vua đã cho chuẩn y lời tâu của họ Lê xin dời miếu thờ về Bố Vệ. Sự kiện di dời miếu thờ nhà Lê về Thanh Hóa được các tư liệu chép tương đối thống nhất: Đại Nam thực lục chép: “Dời dựng miếu nhà Lê ở thành Thăng Long về Thanh Hóa” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr.590). Châu bản triều Nguyễn cho biết: “Ngày 20 tháng giêng năm Gia Long 4 (1805), vua ra lệnh tháo dỡ gỗ, ngói từ miếu nhà Lê ở Bắc thành (tức điện thờ trong Hoàng thành) chuyển vào xây dựng miếu nhà Lê ở Lam Sơn – Thanh Hóa” (Hải Yến, 2019). Đại Nam nhất thống chí chép: “Miếu các vua Lê, trước gọi là điện Hoằng Đức, ở thôn Kiều Đại, xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn; nguyên trước miếu ở Thăng Long và ở huyện Thụy Nguyên, năm Gia Long thứ 4 (1805) mới dời tới đây. Tế vào 2 tiết xuân thu, quan tỉnh hành lễ” (Đại Nam nhất thống chí, 2006, tr.333). Cùng thời gian này, “triều đình sai trấn thần Thanh Hoa thúc dân sửa sang, Phan Tiến Quý làm quản phủ Thiệu Thiên coi công việc, lấy 100 người dân xã Bố Vệ làm miếu phu” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr.591), đến tháng 3/1805, miếu các vua Lê được an vị thượng lương trên đó khắc dòng chữ: Tuế thứ Ất Sửu niên, tam nguyệt nhất trụ thượng lương đại cát.
Theo Đại Nam thực lục, sau khi miếu các vua Lê hoàn thành, vua Gia Long cho chọn con cháu dòng thất nhà Lê, cấp cho tự dân, tự điền để giữ việc thờ cúng. Người đầu tiên được chọn là Lê Duy Hoán (con vua Hiển Tông), được phong làm Diên Tự công, một chức quan chuyên coi giữ việc thờ cúng Miếu nhà Lê; tiếp đến là Lê Duy Khải (con vua Hiển Tông), được phong làm Cai cơ, trật chánh tam phẩm, coi giữ việc thờ tự nhà Lê, cho mặc áo đại triều. Năm 1819, Lê Duy Khải mất; Lê Duy Thản được bổ nhiệm thay thế và giữ chức giám thủ, phụ trách việc thờ tự nhà Lê. Dưới thời vua Gia Long, nhiều lần vua chuẩn y cho sửa sang miếu thờ, như năm 1808 chuẩn y cho 148 miếu phu lấy người ở 3 thôn xã Bố Vệ; năm 1819 cho sửa đồ thờ ở miếu nhà Lê theo lời xin của Lê Văn Duyệt (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007).
Như vậy, Miếu các vua Lê ở Bố Vệ (Thanh Hóa) được xây dựng hoàn thành vào tháng 3/1805 để thờ 29 hoàng đế, 27 hoàng hậu và 1 Kính phi cùng hệ thống tượng thờ, đồ thờ vô cùng phong phú, chủ yếu được chuyển từ miếu thờ ở Thăng Long về. Do không còn là đương triều nên miếu thờ không thể có tên gọi là Thái miếu, song vẫn là tông miếu chính thức của triều Hậu Lê thờ cúng các Tiên đế và Tiên hậu. Chính sử nhà Nguyễn gọi là Miếu các vua Lê hay Miếu nhà Lê với hàm ý đó là gia miếu của dòng họ nhà Lê. Đặc biệt, dưới sự tôn kính của vua Gia Long nên miếu thờ có vị trí rất cao trong hệ thống đền miếu lúc bấy giờ, triều đình đặt hẳn một chức quan riêng có phẩm hàm cao (Diên Tự Công, Cai Cơ) do chính tôn thất là Lê coi giữ và thực hiện việc phụng thờ, tế lễ chính Xuân, Thu nhị kỳ có quan Thượng thư bộ Lễ từ triều đình Huế ra làm chủ tế. Song, về cuối thời Nguyễn có sự thay đổi: việc quản lý và làm chủ tế được giao cho các quan đầu tỉnh tiến hành.
3. Bố trí điện thờ Miếu các vua Lê ở Bố Vệ (Thanh Hóa)
Thứ nhất, số lượng thánh vị và các nhân vật được thờ tự.
Trước đây, đã có những tài liệu ghi chép về việc bố trí điện thờ các hoàng đế và hoàng hậu của nhà Lê ở Thái Miếu Thăng Long, như “Lam Sơn thực lục” (bản Lê Sát) do Nguyễn Diên Niên khảo cứu. Ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch Triều hiến chương loại chí (1809 – 1819) cho biết: Thái Miếu Thăng Long thờ 25 vị hoàng đế và 17 hoàng hậu, điện Chí Kính thờ 4 vị hoàng đế, 2 vị hoàng hậu, 8 vị vương công, 6 vị phi và 3 vị công chúa. Riêng Miếu nhà Lê ở Bố Vệ, đương thời, Nhữ Bá Sĩ ghi trong sách Thanh Hóa tỉnh chí năm 1854 có nhắc tới số lượng 29 vua và 28 hoàng hậu.
Năm 1921, Pau.M. Bougier đã khảo cứu rất công phu tổng thể di tích và đăng tải với bài viết “Đền thờ nhà Lê ở Thanh Hóa”, bản tiếng Pháp trên tập san (B.A.V.H. 1921), không chỉ khảo cứu lịch sử, bố cục kiến trúc, các di vật tượng nghê, phỗng, bài vị cũng được ông mô tả và vẽ lại, riêng về bố trí điện thờ ông đã thống kê có 29 vị hoàng đế và 28 vị hoàng hậu (thực chất là 27 hoàng hậu và 1 kính phi), tất cả đều có thánh vị ghi rõ miếu hiệu. Để không nhầm lẫn, ông đã lập sơ đồ các ban thờ và vị trí đặt thánh vị, kèm bảng kê ghi đầy đủ ngày kỵ, tên các hoàng đế và hoàng hậu bằng cả tiếng Việt và tiếng Hán theo chữ ghi trên các thánh vị (chữ Hán). Cho đến nay, đây là tài liệu duy nhất vẽ sơ đồ và ghi lại số lượng hoàng đế và hoàng hậu được thờ ở miếu nhà Lê tại Bố Vệ. Sau công bố của M. Bougier, cuốn “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” (Ngô Đức Thọ, 1993) cũng chép: “Bố Vệ miếu, miếu thờ chung các vua và hoàng hậu triều Lê gồm 29 hoàng đế và 28 hoàng hậu”.
Trong tình hình tư liệu kể trên, chúng tôi sẽ phân tích số lượng và sơ đồ bố trí điện thờ của M. Bougier năm 1921để xem xét tính chân xác của tài liệu, từ đó làm cơ sở cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích quý báu này.
Thứ hai, về sơ đồ bài trí điện thờ và bài vị của các vị hoàng đế và hoàng hậu.
Theo M. Bougier “Việc cúng tế được tổ chức tại đền này bằng một lễ tế chung vào tháng 8 và các ngày giỗ riêng của 29 vị hoàng đế và 28 vị hoàng hậu; mỗi người có một bài vị có chạm khắc, sơn son thếp vàng, trên đó ghi tước hiệu của họ”, tất cả đều được thờ ở hậu điện và ông đã vẽ lại theo sơ đồ không gian Hậu điện, như sau:

Để xác thực số lượng các tiên đế và tiên hậu thờ trong miếu các vua Lê ở Bố Vệ, chúng tôi nhận thấy quy tắc chung và quan trọng nhất để bài trí điện thờ đó là sự tôn nghiêm, trật tự và đầy đủ. Nếu tiếp cận từ góc độ này, việc nghiên cứu và lí giải các tài liệu về điện thờ nhà Lê ở Bố Vệ rất có thể sẽ có những bước tiến mới.
Thứ ba, quy tắc thụy hiệu có chữ “Tổ”, “Tông”.
Về cơ bản các nhân vật được thờ ở chính điện miếu nhà Lê ở Bố Vệ là những vị vua đã từng đăng quang hoặc đã được suy tôn, tôn phong hoặc truy phong, đối với hoàng đế bảo đảm có chữ “Tổ”, “Tông”; đối với hậu có chữ “Hoàng Thái hậu”, chỉ có 2 thánh vị là bà Kính Phi vợ của vua Lê Thế Tông và Mẫn Hoàng đế là vua Lê Chiêu Thống là không tuân theo quy tắc này, chúng tôi nghi vấn 2 thánh vị này được đưa vào sau. Điều này bảo đảm nguyên tắc thờ tự tại Thái Miếu.
Theo thống kê các vị vua, hoàng hậu được thờ ở điện của M. Bougier so với điện Thái Miếu ở Thăng Long thì có thêm 15 vị không được Phan Huy Chú liệt kê: gồm 4 đế: Triệu Tổ, Hiếu Tông, Hựu Tông, Chiêu Thống và 10 hậu: Phổ Từ (cụ Lê Lợi), Chánh tẩm (vợ Lê Lợi), Đoan Mục (vợ Minh Tông), Gia Khánh (vợ Chiêu Tông), Bảo Chính (vợ Trang Tông), Tự Khâm (vợ Hiếu Tông), Tuy Khánh (vợ Anh Tông), Minh Thục (vợ Thần Tông), Ôn Từ (vợ Hi Tông), Trinh Thuận (vợ Hiển Tông) và 1 Kính Phi (vợ của Thế Tông).
Việc gia tăng thêm 15 vị so với Thái miếu ở Thăng Long có thể giải thích như sau:
(1) Miếu nhà Lê (Bố Vệ) truy tôn ngược đến đời cụ cố của vua Lê Thái Tổ là Triệu Tổ Cao hoàng đế và Phổ Từ hoàng thái hậu (sơ đồ của Pau M. Bougier bị nhầm bà Hiển Từ là vợ của Triệu Tổ thực ra bà là vợ của Hiển Tổ), mặt khác vua Lê Chiêu Thống đã mất năm 1793 nên được đưa vào thờ, ông cũng là vị vua duy nhất không có miếu hiệu mà chỉ ghi là Mẫn Hoàng đế. Vấn đề này, Đại Nam thực lục cho biết: “Nhà Lê đến Duy Kỳ sang nước nhà Thanh là hết; Duy Kỳ đã nối chính thống nhà Lê mà đến nỗi róc tóc làm tôi tớ người, chẳng phải quá lầm à? Sau khi chết, nhà Thanh cho đem hài cốt về, triều ta không tặng thụy hiệu là phải đấy” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr.592).Như vậy, có thể khẳng định thánh vị Mẫn Hoàng đế là chính xác; từ đó cho biết 15 thánh vị mới đều được làm vào năm 1805.
(2) Trong 15 thánh vị mới lập, có 4 vị được thờ ở điện Chí Kính nay đưa vào Bố Vệ miếulà: Hiếu Tông, Tuy Khánh (Minh phi của Anh Tông), Kính Phi (phi của Thế Tông) và Minh Thục (vợ vua Thần Tông).
(3) Miếu các vua Lê tạo ra một quy tắc sắp đặt có trật tự và hệ thống: các vị vua nối ngôi đều phải có mẹ là Hoàng Thái hậu để tạo ra dòng chảy tiếp nối. Chính vì vậy, số các vị hậu tăng lên đáng kể, lên 10 người so với số liệu liệt kê của Phan Huy Chú. Đây cũng là điều đặc biệt và mới so với Thái Miếu ở Thăng Long.
Thứ tư, tính thống nhất và quy tắc bố trí điện thờ ở các miếu của các vua Lê.
Theo sơ đồ của Pau M. Bougier. Chúng tôi nhận thấy việc bố trí, bày đặt các thánh vị có quy luật và nguyên tắc rất chặt chẽ, thống nhất.
Quy tắc 1: Không bố trí theo hàng chiêu và hàng mục như điển chế ở Thái Miếu đương triều mà bố trí theo cha – con, anh – em. Quy tắc này được tuân thủ đối với 7 gian chính của tòa Hậu điện Thái Miếu (Bố Vệ). Riêng 2 gian hồi nhìn đối nhau, bắt đầu từ vua Thế Tông đến Hiển Tông (nhiều khả năng vua Chiêu Thống (Mẫn Hoàng đế) được đưa vào sau), được bố trí theo nguyên tắc: cứ 1 vị bên tả sẽ có 1 vị bên hữu (nếu đánh số vua Thế Tông là số 1 thì lẻ bên tả, chẵn bên hữu).
Quy tắc 2: Các bà hậu được đặt dưới chân thánh vị của Hoàng đế, với vai trò là vợ sinh ra các hoàng đế tiếp theo. Quy tắc này cơ bản giống với Thái Miếu ở Thăng Long và bản ghi của Phan Huy Chú, cũng như Lam Sơn Thực Lục do Nguyễn Diên Niên khảo cứu.
Quy tắc 3: Các miếu hiệu được tôn phong, truy phong đôi khi rất dài, nhưng khi khắc trên Thánh vị, quy định dài nhất là 5 từ. Điều này tạo ra sự thống nhất trong việc ghi miếu hiệu vào các Thánh vị, kể cả các Thánh vị ở Thăng Long và các Thánh vị mới được lập vào năm 1805.
Thứ năm, tính khoa học trong mối tương quan với các sử liệu.
Tính xác thực của các thánh vị ở Thái Miếu Bố Vệ còn là tư liệu quý, bổ sung cho các tác phẩm chính sử. Ví dụ, Thánh vị “Đoan Mục Hoàng thái hậu” là bà vợ của Minh Tông Hoàng đế, mẹ của Chiêu Tông và Cung Hoàng. Trong Đại Việt Thông sử của Lê Quý Đôn, bản dịch của Viện Sử học, phần Tựa Hậu phi ghi Minh Tông Trinh Hoàng hậu là Đoan Từ Hoàng Thái hậu, họ Trịnh, húy là Loan, sinh ra vua Chiêu Tông và Cung Hoàng (Lê Quý Đôn, 2007, tr.169). Trong khi đó, Đại Việt sử ký Toàn thư chép rằng bà Đoan Từ Hoàng Thái hậu, bà Trịnh Thị Ngọc Trinh, là vợ của vua Kính Tông và mẹ của vua Lê Thần Tông (Đại Việt sử ký Toàn thư (1998), tr.222). Đây cũng là tư liệu quý, cho thấy sự chính xác và tính tin cậy của thông tin trên các thánh vị của Thái Miếu nhà Hậu Lê ở Bố Vệ.
Một số nhầm lẫn trong việc đặt các thánh vị cần chú ý: đặt Hiển Từ Hoàng Thái hậu dưới Triệu Tổ Hoàng đế là nhầm lẫn; bà phải đặt dưới Hiển Tổ Hoàng đế. Đặt Thận Ý Hoàng Thái hậu dưới vua Hiến Tông Hoàng đế là nhầm lẫn; bà phải đặt dưới Anh Tông Hoàng đế (Phan Huy Chú khi liệt kê cũng đặt bà dưới Anh Tông Hoàng đế). Những nhầm lẫn này đều xảy ra trong một ban thờ và nằm gần nhau, nên có thể là sơ ý của người trông coi phụng vụ khi bao sái và sửa soạn ban thờ.
Thứ sáu, tính khoa học được nhìn nhận từ góc độ khảo cổ học.
Ngoài ghi chép, mô tả về di tích điện miếu thờ, M. Bougier còn vẽ lại hệ thống di vật như tượng nghê, tượng phỗng, vẹt, thánh vị… là tài liệu quý giúp nhận diện và xác định niên đại một cách đầy đủ hơn. Có 57 thánh vị nhưng ông chỉ chọn vẽ 4 thánh vị đó là những thánh vị có sự khác biệt về loại hình, phong cách trang trí gồm Thánh vị Thánh vị Thái Tổ Cao Hoàng đê (Lê Thái Tổ); Thánh vị Cung Từ Hoàng Thái Hậu, Thánh vị Chính tẩm Hoàng Thái Hậu và Thánh vị Mẫn Hoàng đế (Lê Chiêu Thống), trong đó Thánh vị Thái Tổ và Cung Từ có một phong cách giống nhau điển hình của thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII – XVIII; còn thánh vị Chính Tẩm hoàng thái hậu và Mẫn Hoàng đế có phong cách giống nhau, niên đại thời Nguyễn, thế kỷ XIX. Đây cũng là 2 trong số 15 thánh vị mà chúng tôi đã xác định là gia tăng vào năm 1805.
Như vậy, căn cứ vào các phân tích ở trên có thể khẳng định bài viết “Đền thờ nhà Lê ở Thanh Hóa” do M. Bougier khảo cứu và công bố năm 1921 trên tập san (B.A.V.H. 1921) là tài liệu có giá trị khoa học phản ánh đúng hiện trạng di tích, di vật và bố trí điện thờ của Hậu điện Thái Miếu Bố Vệ (1921). Riêng về số lượng các thánh vị là 57, gồm: 29 hoàng đế, 27 hoàng hậu và 1 kính Phi, khớp với số lượng 29 vua và 28 hoàng hậu theo sách Thanh Hóa tỉnh chí của Nhữ Bá Sĩ – một nhà thơ, nhà văn của triều Nguyễn và sách “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1993 do Ngô Đức Thọ chủ biên. Do vậy, tài liệu được xem là một trong những cơ sở khoa học để bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích. Đặc biệt là các phương án kiến trúc, quy hoạch và bố trí nội thất, cũng như đồ thờ trong chính điện, trong bối cảnh hiện nay.
4. Đánh giá sự thay đổi, gia tăng các ban thờ và sự bất cập về bài trí nội thất, đồ thờ trong bối cảnh hiện nay
4.1. Sự bất cập về bài trí nội thất, đồ thờ trong Hậu điện
Về số lượng thánh vị, ban thờ: hiện nay, số thánh vị của hoàng đế và hoàng hậu chỉ còn 39 thánh vị, được bố trí trong 7 gian thờ với 9 ban thờ. So với thời điểm năm 1921 thì giảm 2 gian thờ, nhưng cũng chỉ giảm 2 ban thờ so với hiện nay (so sánh sơ đồ của M. Bougier với hiện trạng). Nếu chúng ta khẳng định số lượng thánh vị là 57, bao gồm: 29 Hoàng đế, 28 Hoàng hậu và lấy sơ đồ của M. Bougier làm chuẩn thì cần xem xét lại việc bài trí nội thất ở hậu điện hiện nay, như: bố trí 3 ban thờ ở gian thờ giữa, vốn chỉ có một ban thờ Thái tổ Cao hoàng đế và 02 Hoàng Thái hậu là vợ của nhà vua; cũng theo đó thì thiếu 4 ban thờ ở phía đầu hồi với số lượng bố trí lên tới 23 thánh vị.
Về ban thờ, đồ thờ: tại Hậu điện có 7 ban thờ chế tác bằng gỗ theo phong cách thời Nguyễn; đồ thờ gồm 6 bộ ngũ sự bằng đồng mới. Các hiện vật này có khả năng được thiết kế theo mẫu đã được phê duyệt của dự án giai đoạn trước, nên có tính đồng bộ. Tuy nhiên, ở ban thờ Thái Tổ lại không có đồ thờ như 6 ban thờ còn lại. Do hồ sơ dự án giai đoạn này không được tiếp cận, nên chúng tôi chưa thể đưa ra ý kiến về nội dung này.
Về tượng, linh vật thờ: ở gian thờ giữa là ban thờ Thái Tổ có tượng thờ bằng đồng đặt trong khám thờ gỗ. Hai bên hương án là đôi hạc bằng đồng. Hai bên phía trước có một đôi ngựa. Theo ghi chép của M. Bougier, trong Hậu điện không có tượng như hiện nay. Điều này cũng thống nhất với nguyên tắc bố trí điện thờ thời Nguyễn: không thờ tượng mà chỉ thờ thánh vị và bài vị. Thực tế cũng cho biết tượng đồng Đức Thái Tổ chỉ mới được nhân dân quyên góp để đúc vào năm 1993. M. Bougier cũng cho biết trong điện thờ có thờ 02 tượng phỗng và 3 cặp chim Võ (chim két) bằng gỗ chứ không phải chim hạc bằng đồng. Theo tác giả Nguyễn Xuân Dương trong tác phẩm “Lần giở trước đèn”, đôi ngựa được bài trí ở Tiền điện.
4.2. Sự bất cập về bài trí nội thất, đồ thờ ở Tiền điện
Một là, về số lượng thánh vị, ban thờ. Nhà Tiền điện hiện có 10 thánh vị và 2 tượng thờ được bố trí ở 5 ban thờ, sắp đặt tại 3 gian chính và 2 gian hồi.
Ban thờ chính giữa vừa có chức năng như ban thờ công đồng, vừa đặt thánh vị Thần tông Uyên Hoàng đế (mới chế tác, đang dư thừa) và thánh vị Quang nghiệp vương Lê Thọ. Gian bên tả: trên hương án có Thánh vị của Trang Giảng vương Lê Duy Thiên, Văn Lĩnh công Lê Duy Hựu, Thái bảo Quận công Lê Duy Lựu. Gian bên hữu: trên hương án là Thánh vị của Hiển công vương Lê Duy Khang, Hoằng Dụ vương Lê Trừ, Đức tông Kiến Hoàng đế Lê Tân, Đạt nhượng công Lê Duy Ý. Gian hồi bên tả là ban thờ Danh thần Nguyễn Trãi. Gian hồi bên hữu là ban thờ Trung Túc Vương Lê Lai.
Theo M. Bougier, nhà tiền điện chỉ bố trí một ban thờ ở gian giữa, là ban thờ công đồng, và chỉ bảo đảm công năng với vai trò là nhà tiền tế. Do vậy, các ban thờ còn lại là ban thờ mới được đưa vào thờ sau này (sau năm 1921). Giai đoạn từ 1988 đến 1995, khi bà Lê Thị Thái trông coi Thái miếu, bà kết nối rất chặt chẽ với một số con cháu của dòng tộc họ Lê. Họ là những người có thể đã tham gia sâu vào quá trình làm gia tăng các nhân vật thờ tự ở Tiền điện. Những tài liệu được lấy làm căn cứ để họ dựng nên các thánh vị từng xuất hiện rất nhiều ở Thái miếu là “Lê triều ngọc phả” và “Lịch triều hiến chương loại chí”. Hai tài liệu này đều ghi chép về các vị vương được tông thất nhà Lê thờ tự, cụ thể là được thờ ở điện Chí Kính, nơi thờ các vị hoàng đế, hoàng hậu, vương, phi thời Lê Trung Hưng. Đặc biệt, đất Bố Vệ (Đông Vệ ngày nay) còn là nơi phát tích của vua Anh Tông với dòng họ Lê Duy ở thôn Kiều Đại.
Như vậy, so với ghi chép năm 1921 của M. Bougier, số lượng ban thờ đã tăng từ 1 lên 5 (dư 4 ban thờ). Số lượng nhân vật thờ từ chỗ là nơi thờ chung (ban công đồng) đã phát sinh lên 11 (trong đó có thánh vị Thần tông Uyên hoàng đế, 8 vị vương và 02 vị quan là Lê Lai và Nguyễn Trãi). Đây là sự bất cập không chỉ vi phạm công năng ban đầu mà còn phá vỡ nguyên tắc thờ tự tại Thái miếu (chỉ thờ Hoàng đế và Hoàng Thái hậu).
Hai là, về ban thờ và đồ thờ. Các ban thờ chủ yếu được bố trí hương án theo kiểu 2 cấp. Cấp trên là để đặt thánh vị hoặc khám thờ (trong đó có tượng thờ), cấp dưới là để đặt đồ thờ. Bên trong cùng là khám thờ; bên ngoài là hương án, trên có các đồ thờ như bát hương, khay mịch, đài nước, mâm bồng, cây nến, lọ hoa.
Hai bên ban thờ giữa có hai bộ chấp kích cũng mới được tạo tác nhưng đã bị nứt gãy. Ngoài ra, còn có chiêng, trống đặt ở tả hữu 2 bên hông phía giáp tường hiên.
Ba là, về tượng thờ và linh vật thờ. Theo M. Bougier, trong chính điện có 3 cặp chim Võ (Két), nhưng không nói rõ số lượng và cách bài trí ở các cung, nên chúng tôi không có ý kiến cụ thể. Hiện nay, đơn vị thi công dự án: Tu bổ, tôn tạo khu di tích Thái miếu nhà Hậu Lê đã đưa về 1 đôi hạc đồng đặt ở gian giữa nhà Tiền điện. Tuy nhiên, những cứ liệu có được cho ta biết rằng trong Thái miếu không bố trí hạc đồng để thờ. Đây là một bất cập cần được xem xét.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng thu thập được một bộ ảnh về Thái miếu. Trong đó có ảnh chụp rõ đôi rồng đá nằm ở thềm phía trước hai bên gian chính giữa của nhà tòa chính điện. Phía trước Tiền điện có bố trí 4 nghê gỗ và 2 phỗng đá đối xứng hai bên chầu vào giữa. Hiện nay những người làm dự án tu bổ đang đặt 06 nghê gỗ từ thế chầu sang thế chực trái với nguyên tắc truyền thống là “nghê chầu chó chực”.
4.3. Những bất cập về bài trí thờ Phật, Mẫu ở khu di tích hiện nay
Hiện nay, có 4 ban thờ được bài trí, gồm: ban giữa thờ cộng đồng Tứ phủ; bên hữu thờ các vị quốc công; bên tả thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo; và gian tiếp theo là ban thờ Phật.
Các tài liệu nghiên cứu và điều tra phỏng vấn cho thấy tại miếu các vua Lê không có công trình thờ Phật. Tượng Phật đang thờ ở Thái miếu hiện nay là tượng Tổ của chùa Đại Bi. Do chùa bị phá huỷ hoàn toàn và lúc này Thái miếu được Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá trưng dụng làm nơi lưu giữ hiện vật nên tượng đã được đưa về đây. Khi dời đi, còn để lại một số hiện vật của chùa có liên quan đến nhà Hậu Lê, trong đó có bộ tượng vua Lê Thần Tông và 5 bà phi rất quý giá đã được Ban quản lý di tích làm thủ tục trả lại chùa. Về thờ Mẫu, năm 1921, M. Bougier chỉ cho biết: “Về phía bên phải của cửa ra vào, bên ngoài tường rào có một ngôi nhà thờ nhỏ để thờ một vài người có công với nước và đã phục vụ cho sự nghiệp của nhà Lê”. Sau khi trích dẫn câu chuyện huyền thoại về Lê Thái Tổ để chép trong sách “Lam Sơn thực lục”, ông cũng chỉ ra 4 vị thần (tứ vị quốc công) được thờ ở đây là “Hoằng Hựu Đại vương”, “Hộ Quốc Đại vương”, “Tả Quốc công” và “Hữu Quốc công”. Như vậy, có một công trình gắn với Miếu các vua Lê (Đền Lê) là đền thờ Tứ vị quốc công, hiện nay chỉ còn nền móng cũ.
Các tượng thờ Tam phủ hiện nay có một số pho tượng do bảo tàng để lại và một số pho do người dân cung tiến trong quá trình tín ngưỡng thờ Mẫu được quan tâm và phát triển ở đây. Tuy nhiên, người dân địa phương cho biết khi ngôi đền Bố Vệ (cạnh cầu Bố) bị phá dỡ, nhân dân đem tượng và đồ thờ về lập đền, ngay sau đền thờ Tứ vị quốc công.
5. Một số giải pháp tu bổ, tôn tạo nội thất, đồ thờ tại Thái miếu nhà Hậu Lê
Việc tu bổ, tôn tạo nội thất và hệ thống đồ thờ tại Thái miếu nhà Hậu Lê phải được đặt trong quan điểm bảo tồn tổng thể di sản văn hóa, coi đây là một bộ phận hữu cơ cấu thành giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và không gian tín ngưỡng của công trình. Mọi hoạt động can thiệp cần hướng tới mục tiêu khôi phục đúng chức năng của một tông miếu hoàng gia, bảo đảm sự thống nhất giữa kiến trúc, nghi lễ, nội thất và cảnh quan văn hóa. Do vậy, công tác tu bổ, tôn tạo nội thất, đồ thờ tại Thái miếu phải thực hiện những giải pháp cơ bản có tính nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, mọi nội dung phục dựng phải dựa trên hệ thống chứng cứ khoa học xác thực, bao gồm sử liệu, công trình khoa học, tư liệu Hán Nôm, kết quả khảo cổ học, ảnh tư liệu, bản vẽ lịch sử, hiện vật gốc và các di tích đối sánh cùng loại; tuyệt đối không phục dựng theo suy đoán chủ quan. Kiến nghị lấy sơ đồ bố trí thờ tự của M.Bougier làm căn cứ khoa học chính.
Thứ hai, ưu tiên bảo tồn tối đa các yếu tố gốc còn tồn tại; chỉ phục dựng những hạng mục đã mất khi có đủ căn cứ khoa học và pháp lý. Phục dựng những hiện vật có nguy cơ huỷ hoại để trưng bày thực địa, đồng thời đưa vào bảo vệ nghiêm ngặt đối với hiện vật gốc.
Thứ ba, bảo đảm tính thống nhất giữa giá trị vật thể và phi vật thể; việc bố trí nội thất, đồ thờ phải phù hợp với nghi lễ, lễ chế và các nguyên tắc kiến trúc của tông miếu triều Lê. Đặc biệt quan tâm đến không gian lễ hội, bởi triều Lê có nhiều điệu vũ cung đình nổi tiếng gắn với Thái miếu suốt triều dài lịch sử nhà Hậu Lê còn trị vì.
Thứ tư, các yếu tố phục dựng cần có khả năng nhận diện, phân biệt với yếu tố nguyên gốc nhưng vẫn bảo đảm sự hài hòa về hình thức, vật liệu, kỹ thuật chế tác và giá trị thẩm mỹ. Cần xem xét yếu tố đối xứng, hài hòa giữa các phần của công trình kiến trúc với tư cách là quốc miếu.
Thứ năm, toàn bộ quá trình tu bổ, phục dựng phải được thực hiện công khai, có sự tham gia của hội đồng khoa học liên ngành và được lưu trữ đầy đủ hồ sơ phục vụ công tác quản lý lâu dài. Đây là khâu yếu của dự án tu bổ về kiến trúc, do vậy cần khắc phục triệt để tình trạng này bằng việc giám sát của các tổ chức, cá nhân vững về chuyên môn, tâm trong sáng và thực sự có trách nhiệm.
6. Kết luận
Trong bối cảnh hiện nay, sự thay đổi, suy giảm và gia tăng các nhân vật được thờ dẫn đến nhà Tiền điện cũng xuất hiện nhiều ban thờ mới, một số thánh vị trước đây đặt ở hậu điện thì nay hiện diện ở Tiền điện khiến cho sự sắp xếp các thánh vị trong Hậu điện không còn bảo đảm được dòng chảy liên tục, trật tự và tôn nghiêm gây ra sự xáo trộn lớn về bố trí điện miếu thờ trong Hậu điện.
Do tính chất của Thái Miếu Hậu Lê ở Bố Vệ không còn là Thái Miếu của đương triều (lúc bấy giờ), nên chắc chắn các nghi thức tế lễ đã suy giảm đáng kể. Bởi Thái Miếu đương triều không chỉ là nơi thờ Tiên đế và Tiên hậu mà còn có vị trí đặc biệt trong hệ thống nghi lễ và lễ tiết cung đình. Thái Miếu nhà Hậu Lê ở Bố Vệ là Tông miếu chính thức của nhà Hậu Lê từ năm 1805, hoạt động tế lễ chính vào 2 kỳ Xuân, Thu và các ngày kỵ của các vị vua, hoàng thái hậu. Giai đoạn đầu, do con cháu được phong chức tế lễ, có sự tham dự của Thượng thư Bộ Lễ từ Kinh thành Huế chủ trì; sau đó chuyển cho quan đầu tỉnh thực hiện. Như vậy, về cơ bản, việc thực hành nghi lễ mang tính chất tế tự theo thứ bậc “Trung tự” thời Nguyễn.
Tài liệu tham khảo:
B.A.V.H. (2018). Những người bạn cố đô Huế. Tập VIII (1921). Nxb Thuận Hoá.
Lê Quý Đôn (2007). Đại Việt thông sử. Nxb Văn hóa Thông tin, tr. 169.
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế (2010). Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình. Nxb Đại học Quốc gia.
Ngô Đức Thọ (1993). Từ điển di tích văn hóa Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
Phan Huy Chú (2007). Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch (Viện Sử học), tập I. Nxb Giáo dục.
Đại Việt sử ký toàn thư (1998). Tập 3. Nxb Khoa học Xã hội, tr. 222.
Ngô Đức Thọ (chủ biên) (1993). “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam”. Nxb Khoa học Xã hội.
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (17/7/2019). Châu bản triều Nguyễn – di sản tư liệu thế giới. https://archives.org.vn/chau-ban-trieu-nguyen/gioi-thieu.htm.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục. Tập I, bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục. Tập I. Bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục, tr.590,
Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục. Tập I. Bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục, tr.591.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục. Tập II. bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục, tr.592.
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. Tập 2. Nxb Giáo dục.
Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) (2006). Tập II. Nxb Thuận Hóa, tr.333).
Hải Yến (2019). Nhà Nguyễn với thành Hà Nội. https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/nha-nguyen-voi-thanh-ha-noi.htm.



