Private enterprises as agents of social development in contemporary Vietnam
ThS. Nguyễn Vũ Khánh Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: khanhhoanv0519@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết luận giải sự chuyển dịch từ cách nhìn doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là chủ thể kinh doanh và đối tượng thực hiện trách nhiệm xã hội sang cách tiếp cận doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể đồng kiến tạo phát triển xã hội. Trên cơ sở lý thuyết các bên liên quan, giá trị chung, quyền con người trong kinh doanh và quản trị đa trung tâm, bài viết đề xuất khung phân tích bốn hợp phần: năng lực tự chủ và huy động nguồn lực; tạo giá trị xã hội thông qua hoạt động kinh doanh cốt lõi; phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục tác động bất lợi; tham gia hợp tác và chịu trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 68-NQ/TW đã mở ra cơ sở chính trị mới để phát huy vai trò này; hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, việc làm, bảo hiểm xã hội, công đoàn, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng đã hình thành nền tảng bước đầu. Tuy nhiên, khoảng cách giữa đóng góp kinh tế lớn và chất lượng việc làm, mức độ chính thức hóa, quản trị tác động và tính minh bạch xã hội vẫn đáng kể. Bài viết kiến nghị thể chế hóa mô hình “trao quyền – nâng năng lực – ràng buộc trách nhiệm – bảo đảm giải trình”, gắn ưu đãi và tiếp cận nguồn lực công với kết quả xã hội có thể đo lường, áp dụng nghĩa vụ theo quy mô và mức độ rủi ro, đồng thời không chuyển trách nhiệm bảo đảm quyền xã hội cơ bản từ Nhà nước sang doanh nghiệp.
Từ khóa: Doanh nghiệp tư nhân, chủ thể phát triển xã hội, trách nhiệm xã hội, việc làm thỏa đáng, kinh doanh có trách nhiệm, quản lý nhà nước.
Abstract: This article explains the shift from viewing private enterprises mainly as business entities and performers of corporate social responsibility to recognizing them as co-creators of social development. Drawing on stakeholder theory, shared value, business and human rights, and polycentric governance, it proposes a four-component framework: autonomous capacity and resource mobilization; creation of social value through core business; prevention, mitigation and remediation of adverse impacts; and participation, partnership and accountability. The study finds that the Resolution of the 14th National Party Congress and Resolution No. 68-NQ/TW provide a new political foundation for this role. At the same time, legislation on enterprises, employment, social insurance, trade unions, environmental protection, and consumer protection forms an initial legal basis. Nevertheless, a substantial gap remains between the private sector’s large economic contribution and the quality of jobs, formalization, impact governance, and social transparency. The article recommends institutionalizing an “empowerment – capacity – responsibility – accountability” model, linking public incentives and access to public resources to measurable social outcomes, applying proportionate obligations according to enterprise size and risk, and preserving the State’s primary responsibility for guaranteeing fundamental social rights.
Keywords: Private enterprises; social development actor; corporate social responsibility; decent work; responsible business conduct; state management.
1. Đặt vấn đề
Trong tư duy phát triển truyền thống, doanh nghiệp tư nhân thường được đặt trong 3 vai trò: đơn vị sản xuất – kinh doanh, người sử dụng lao động và người nộp thuế. Phần đóng góp cho xã hội, nếu được đề cập, thường bị thu hẹp trong các hoạt động từ thiện hoặc các trách nhiệm xã hội mang tính tự nguyện. Doanh nghiệp ngày nay đóng vai trò quyết định không chỉ về quy mô của cải mà còn về chất lượng việc làm, kỹ năng của người lao động, cách tổ chức không gian sống, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, cấu trúc dữ liệu, chuẩn mực tiêu dùng, mức phát thải và sức chống chịu của cộng đồng. Một quyết định đầu tư, công nghệ, nhân sự hay chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có thể đồng thời tạo ra giá trị kinh tế, phân phối cơ hội phát triển và làm thay đổi các quan hệ xã hội.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”, đồng thời yêu cầu khu vực này đề cao đạo đức, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội, qua đó góp phần nâng cao đời sống Nhân dân và xây dựng xã hội văn minh, hiện đại (Bộ Chính trị, 2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục đặt ra nhiệm vụ phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân và phát triển con người ở vị trí trung tâm; đồng thời khẳng định yêu cầu phát huy mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây là sự chuyển dịch quan trọng, từ việc thừa nhận doanh nghiệp tư nhân là động lực kinh tế đến việc đặt doanh nghiệp vào cấu trúc chủ thể của sự phát triển đất nước.
Tuy nhiên, hai vấn đề về lý luận và chính sách vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Một là, “chủ thể phát triển xã hội” khác gì so với “chủ thể kinh doanh có trách nhiệm”? Nếu không làm rõ, khái niệm này mới dễ bị hiểu nhầm là một cách gọi khác của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Hai là, phải thiết kế thể chế thế nào để phát huy quyền tự chủ, nguồn lực và sức sáng tạo của doanh nghiệp mà không tư nhân hóa trách nhiệm công, không hợp thức hóa việc doanh nghiệp chi phối chính sách và không biến trách nhiệm xã hội thành gánh nặng đồng loạt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích vai trò chủ thể phát triển xã hội của doanh nghiệp tư nhân
Trong bài viết này, “doanh nghiệp tư nhân” được sử dụng theo nghĩa kinh tế – xã hội, chỉ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong nước, không đồng nhất với “doanh nghiệp tư nhân” là một loại hình pháp lý do một cá nhân làm chủ theo Luật Doanh nghiệp. Sự phân biệt này có ý nghĩa phương pháp luận, bởi khu vực được nghiên cứu bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không do Nhà nước chi phối, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo nghĩa pháp lý và, trong những nội dung liên quan đến chính thức hóa, cả mối liên hệ với hộ kinh doanh. Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Doanh nghiệp là căn cứ pháp lý trực tiếp để nhận diện các loại hình doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh, nghĩa vụ quản trị minh bạch và chế định doanh nghiệp xã hội (Văn phòng Quốc hội, 2025a).
Phát triển xã hội được hiểu là quá trình có chủ đích nhằm mở rộng năng lực, cơ hội và mức sống của con người; bảo đảm việc làm bền vững, an sinh, công bằng, gắn kết xã hội, quyền con người, môi trường sống an toàn và khả năng tham gia của các nhóm xã hội. Cách hiểu này tương thích với cách tiếp cận phát triển như sự mở rộng các tự do thực chất của con người (Sen, 1999, tr. 3-11) và Chương trình Nghị sự 2030 với nguyên tắc không để ai bị bỏ lại phía sau (United Nations, 2015). Phát triển xã hội vì vậy không phải là phần “còn lại” sau tăng trưởng; nó vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện tạo nên năng lực sản xuất, tính chính danh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Một tổ chức được coi là chủ thể phát triển xã hội khi có đồng thời bốn thuộc tính: có năng lực tự chủ và nguồn lực để tác động đến kết quả xã hội; tạo giá trị xã hội một cách có chủ đích thông qua hoạt động cốt lõi, không chỉ qua phân phối lợi nhuận sau kinh doanh; nhận diện, phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục tác động bất lợi do mình gây ra hoặc góp phần gây ra; tham gia hợp tác, đối thoại và chịu trách nhiệm giải trình trước Nhà nước, người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng và các bên bị tác động. Theo đó, vai trò chủ thể không phải là một danh hiệu mà là một trạng thái năng lực gắn liền với trách nhiệm và cơ chế kiểm chứng.
Lý thuyết các bên liên quan cho rằng doanh nghiệp phải tính đến những chủ thể có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt mục tiêu của doanh nghiệp (Freeman, 1984, tr. 46). Lý thuyết này mở rộng đối tượng trách nhiệm vượt ra ngoài cổ đông, nhưng nếu dừng ở việc “cân bằng lợi ích” sẽ chưa trả lời được trách nhiệm ưu tiên đối với người bị tổn thương và tác động mang tính quyền. Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Carroll phân biệt trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và thiện nguyện (Carroll, 1991, tr. 39-48) có giá trị trong việc hệ thống hóa, nhưng dễ bị hiểu theo hướng thiện nguyện là tầng cao nhất. Trong khi đó, cách tiếp cận “tạo giá trị chung” của Porter và Kramer đặt việc giải quyết vấn đề xã hội vào chiến lược cạnh tranh, thiết kế sản phẩm và chuỗi giá trị (Porter & Kramer, 2011, tr. 62-77); tiếp cận vai trò chính trị mới của doanh nghiệp nhấn mạnh yêu cầu về tính chính danh và trách nhiệm giải trình khi doanh nghiệp tham gia các chức năng quản trị (Scherer & Palazzo, 2011, tr. 899-931).
Tiếp cận doanh nghiệp và quyền con người bổ sung một chuẩn sàn không thể đánh đổi: doanh nghiệp có trách nhiệm độc lập trong việc tôn trọng quyền con người, thực hiện thẩm định tác động và góp phần bảo đảm việc khắc phục (Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, 2011, tr. 13-26). Bộ Hướng dẫn năm 2023 của OECD mở rộng trách nhiệm kinh doanh có trách nhiệm sang các lĩnh vực lao động, môi trường, công nghệ, người tiêu dùng, liêm chính, công bố thông tin và thẩm định chuỗi cung ứng (Organisation for Economic Co-operation and Development, 2023). Tuyên bố ba bên của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đặt việc làm đầy đủ, đào tạo, điều kiện làm việc, quan hệ lao động và đối thoại xã hội vào trung tâm của đóng góp của doanh nghiệp đối với chính sách xã hội (International Labour Organization, 2022). ISO 26000 cung cấp một ngôn ngữ chung về quản trị, quyền con người, lao động, môi trường, người tiêu dùng và sự tham gia của cộng đồng (International Organization for Standardization, 2010). Các chuẩn mực này cho thấy trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ pháp luật của nước sở tại, mà còn bao gồm quản trị dựa trên rủi ro và việc tiếp cận các biện pháp khắc phục.
Từ các cách tiếp cận trên, bài viết sử dụng “chuỗi trưởng thành vai trò chủ thể” gồm 4 nấc. Các nấc không loại trừ nhau: nấc sau bao hàm nấc trước và tuân thủ pháp luật luôn là điểm khởi đầu, chứ không phải là giới hạn cuối cùng.
Bảng 1. Chuỗi trưởng thành vai trò chủ thể phát triển xã hội của doanh nghiệp
| Nấc vai trò | Logic chủ đạo | Biểu hiện trong hoạt động doanh nghiệp | Cơ chế kiểm chứng |
| 1. Tuân thủ và không gây hại | Chuẩn sàn pháp lý | Hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm, an toàn; thuế; môi trường; sản phẩm và dữ liệu an toàn | Thanh tra, kiểm toán, khiếu nại, bồi thường |
| 2. Quản trị có trách nhiệm | Nội hóa tác động | Thẩm định rủi ro xã hội, quyền con người, môi trường; đối thoại; chuỗi cung ứng | Chỉ số trọng yếu; công bố; giám sát |
| 3. Tạo giá trị xã hội chung | Giải quyết vấn đề xã hội qua kinh doanh cốt lõi | Việc làm thỏa đáng; kỹ năng; dịch vụ bao trùm; đổi mới xanh, số có trách nhiệm | Kết quả, tác động; kiểm chứng; phản hồi |
| 4. Đồng kiến tạo phát triển | Hợp tác đa chủ thể | Đối tác công – tư; liên minh kỹ năng; sáng kiến cộng đồng; tham vấn, chia sẻ lợi ích | Minh bạch lợi ích; giải trình; đánh giá và khắc phục |
Khung này giúp phân biệt rõ doanh nghiệp “có đóng góp xã hội” với doanh nghiệp “thực hiện vai trò là chủ thể phát triển xã hội”. Một doanh nghiệp tạo nhiều việc làm nhưng vi phạm quyền lao động mới chỉ đạt kết quả kinh tế – xã hội về lượng, chưa đạt chuẩn của một chủ thể có trách nhiệm. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ không có chương trình từ thiện lớn nhưng vẫn bảo đảm hợp đồng, an toàn lao động, bình đẳng, đào tạo kỹ năng, đối thoại và sản phẩm có ích cho cộng đồng, vẫn đang thực hiện vai trò phát triển xã hội một cách thực chất.
3. Cơ sở chính trị, pháp lý và biểu hiện thực tiễn của vai trò chủ thể
Sự phát triển nhận thức của Đảng có thể được khái quát thành 3 bước. Bước thứ nhất là thừa nhận kinh tế tư nhân như một bộ phận cấu thành lâu dài và là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bước thứ hai là xác lập đội ngũ doanh nhân như một lực lượng nòng cốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập, có trách nhiệm với người lao động, cộng đồng và đất nước theo Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 (Bộ Chính trị, 2023). Bước thứ ba thể hiện sự tập trung vào Nghị quyết số 68-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV, đặt khu vực tư nhân vào mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển con người (Bộ Chính trị, 2024; Bộ Chính trị, 2025; Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Nghị quyết số 68-NQ/TW có ý nghĩa trực tiếp đối với chủ đề nghiên cứu ở 3 điểm. Một là, Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong và “một động lực quan trọng nhất”, qua đó mở rộng không gian tự chủ, quyền tiếp cận nguồn lực và khả năng tham gia các nhiệm vụ lớn. Hai là, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, khu vực tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP, 35-40% tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho 84-85% tổng số lao động; như vậy, kết quả xã hội không đứng ngoài hệ thống mục tiêu phát triển của khu vực. Ba là, Nghị quyết yêu cầu xây dựng doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, trung thực, thanh liêm, trách nhiệm xã hội; đánh giá doanh nghiệp theo các tiêu chí tuân thủ pháp luật, tạo việc làm, đóng góp ngân sách, tham gia an sinh và trách nhiệm với cộng đồng (Bộ Chính trị, 2025).
Cơ sở chính sách xã hội cũng đã thay đổi. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 yêu cầu xây dựng chính sách xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững; huy động nguồn lực xã hội; và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023). Khi đặt trong bối cảnh Nghị quyết số 68-NQ/TW, có thể rút ra một yêu cầu kép: Nhà nước kiến tạo, bảo đảm chuẩn tối thiểu và công bằng trong tiếp cận; doanh nghiệp tham gia tạo việc làm, kỹ năng, sản phẩm, dịch vụ, hạ tầng và sáng kiến xã hội nhưng phải chịu kiểm soát đối với các ngoại ứng và xung đột lợi ích.
Khung pháp luật hiện hành đã tạo nền móng nhưng vẫn còn phân tán. Pháp luật doanh nghiệp bảo đảm quyền tự do kinh doanh, minh bạch về việc chủ sở hữu hưởng lợi và ghi nhận doanh nghiệp xã hội (Văn phòng Quốc hội, 2025a). Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn năm 2024, Luật Bảo hiểm xã hội trong Văn bản hợp nhất số 58/VBHN-VPQH và Luật Việc làm năm 2025 thiết lập nghĩa vụ về hợp đồng, tiền lương, an toàn, đối thoại, đại diện, bảo hiểm, đào tạo và chính sách hỗ trợ tạo việc làm; Luật Việc làm còn nhấn mạnh phối hợp công – tư trong dịch vụ việc làm và kỹ năng cho kinh tế số, kinh tế xanh (Quốc hội, 2019; Quốc hội, 2025b; Văn phòng Quốc hội, 2025b; Quốc hội, 2024; 2025c). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Bảo vệ môi trường mở rộng trách nhiệm từ quan hệ lao động sang sản phẩm, dữ liệu người tiêu dùng, vòng đời sản xuất và tác động môi trường (Quốc hội, 2023; Quốc hội, 2020). Nghị quyết số 198/2025/QH15 tạo ra các cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho khu vực tư nhân (Quốc hội, 2025a). Tuy vậy, chưa có một khung pháp lý tích hợp về vai trò của chủ thể phát triển xã hội hay nghĩa vụ thẩm định tác động xã hội – quyền con người được áp dụng theo mức độ rủi ro.
Ở bình diện quốc tế, Chương trình Nghị sự 2030 coi doanh nghiệp là đối tác không thể thiếu trong phát triển bền vững (United Nations, 2015). Hướng dẫn OECD năm 2023 và Báo cáo năm 2026 về kinh doanh có trách nhiệm trong chuyển đổi công bằng cho thấy chuẩn mực đang dịch chuyển từ cam kết tự nguyện chung sang quản trị rủi ro, tham vấn có ý nghĩa, chia sẻ lợi ích, công bố thông tin và khắc phục (Organisation for Economic Co-operation and Development, 2023; Organisation for Economic Co-operation and Development, 2026). Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: yêu cầu xã hội ngày càng được truyền qua hợp đồng mua hàng, tài chính, dữ liệu truy xuất và các tiêu chuẩn thị trường, ngay cả khi pháp luật trong nước chưa quy định đầy đủ.
Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân là chủ thể tạo sinh kế, thu nhập và thúc đẩy sự dịch chuyển của cơ cấu xã hội. Nghị quyết số 68-NQ/TW ghi nhận khu vực kinh tế tư nhân có hơn 940 nghìn doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động (Bộ Chính trị, 2025). Dù số liệu này bao gồm cả hộ kinh doanh và không thể quy toàn bộ cho doanh nghiệp đăng ký, nó cho thấy phần lớn đời sống việc làm và thu nhập của người dân gắn với khu vực tư. Vì vậy, chất lượng quản trị nhân lực của doanh nghiệp tư nhân có ảnh hưởng hệ thống đến việc phân phối cơ hội, giảm nghèo và ổn định xã hội.
Thứ hai, doanh nghiệp là nơi hình thành năng lực con người. Thông qua tuyển dụng, đào tạo tại chỗ, chuẩn hóa kỹ năng, tổ chức kỷ luật lao động và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp biến tri thức thành năng lực sản xuất. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi xanh, chức năng này chuyển từ “sử dụng kỹ năng sẵn có” sang đồng đầu tư vào học tập suốt đời, đào tạo lại và chuyển dịch nghề nghiệp. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định khu vực tư nhân trong nước năng động nhưng năng suất còn là thách thức; nhóm doanh nghiệp tăng trưởng cao đã tạo thêm hơn 1,4 triệu việc làm trong giai đoạn 2017-2020, trong khi phần còn lại của khu vực tư nhân giảm 1,1 triệu việc làm (World Bank, 2025, tr. 92-93). Điều đó cho thấy, không chỉ số lượng doanh nghiệp mà còn chất lượng, khả năng tăng trưởng và năng lực đổi mới của doanh nghiệp quyết định kết quả việc làm.
Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân ngày càng trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chức năng xã hội: giáo dục, y tế, nhà ở, vận tải, tài chính toàn diện, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật, năng lượng sạch, nền tảng số và dịch vụ chăm sóc. Khi thiết kế sản phẩm cho nhóm thu nhập thấp, khu vực khó tiếp cận hoặc nhu cầu chưa được đáp ứng, doanh nghiệp vừa mở rộng thị trường vừa nâng cao năng lực sống của người dân. Chế định doanh nghiệp xã hội là một kênh pháp lý quan trọng, nhưng vai trò tạo giá trị xã hội không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp đăng ký theo mô hình này; các doanh nghiệp thông thường cũng có thể tích hợp mục tiêu xã hội vào mô hình kinh doanh và chuỗi giá trị của mình.
Thứ tư, doanh nghiệp là chủ thể của chuyển đổi xanh và chuyển đổi số có tác động xã hội sâu rộng. Công nghệ có thể mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, giảm chi phí và tăng tính minh bạch nhưng cũng có thể tạo ra phân biệt đối xử thuật toán, giám sát quá mức người lao động, xâm phạm dữ liệu cá nhân và lan truyền thông tin sai lệch (Organisation for Economic Co-operation and Development, 2023; Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, 2011). Chuyển đổi xanh tạo ra ngành nghề mới, song có thể làm mất việc hoặc suy giảm sinh kế tại các địa bàn phụ thuộc vào các ngành có phát thải cao. OECD vì thế yêu cầu doanh nghiệp tích hợp tác động xã hội vào kế hoạch chuyển đổi, xem xét đặc thù của địa bàn, tham vấn các nhóm bị ảnh hưởng và thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích (Organisation for Economic Co-operation and Development, 2026). Doanh nghiệp chỉ thực hiện đầy đủ vai trò chủ thể khi quản trị cả cơ hội lẫn chi phí phân phối của việc chuyển đổi.
Thứ năm, doanh nghiệp tham gia kiến tạo thể chế và năng lực cộng đồng. Thông qua hiệp hội, hội đồng tư vấn, đối thoại chính sách, hợp tác công – tư, sáng kiến ngành và liên kết với cơ sở đào tạo, doanh nghiệp cung cấp thông tin thực tiễn, công nghệ và nguồn lực cho quản trị phát triển. Đây là biểu hiện tích cực nếu quá trình tham gia công khai, cân bằng và dựa trên bằng chứng; nhưng có thể chuyển thành vận động đặc quyền, “sân sau” hoặc chi phối chính sách nếu thiếu minh bạch và kiểm soát xung đột lợi ích. Do đó, quyền tham gia phải đi cùng với quy tắc liêm chính, công bố lợi ích và cơ hội tiếp cận bình đẳng đối với người lao động, người tiêu dùng và cộng đồng.
4. Những giới hạn và vấn đề đặt ra
Một là, vẫn còn khoảng cách lớn giữa đóng góp về lượng và chất lượng trong phát triển xã hội. Báo cáo của ILO năm 2025 cho thấy, lao động phi chính thức vẫn tập trung cao ở các nhóm lao động và các loại hình kinh doanh dễ bị tổn thương (International Labour Organization, 2025). Theo tài liệu mới công bố vào tháng 8/2026, việc làm phi chính thức chiếm khoảng 64,6% tổng việc làm năm 2024 và 63,9% trong sáu tháng đầu năm 2025 (International Labour Organization, 2026). Phi chính thức không chỉ tồn tại trong hộ kinh doanh mà còn trong doanh nghiệp chính thức thông qua việc không có hợp đồng, đóng bảo hiểm không đầy đủ hoặc quan hệ lao động trung gian. Khi phần lớn việc làm thiếu bảo vệ, khả năng tạo sinh kế chưa tự động chuyển hóa thành việc làm thỏa đáng, an sinh và năng lực phát triển con người.
Hai là, trách nhiệm xã hội vẫn bị coi là ngoại vi. Nhiều doanh nghiệp coi hoạt động xã hội là khoản tài trợ sau lợi nhuận, tách khỏi quản trị nhân sự, sản phẩm, chuỗi cung ứng, thuế, môi trường và dữ liệu. Cách làm này tạo ra nghịch lý: doanh nghiệp có thể có chương trình cộng đồng nổi bật nhưng đồng thời chuyển chi phí ô nhiễm, rủi ro lao động hoặc thông tin bất cân xứng sang xã hội. Trách nhiệm xã hội khi đó trở thành một công cụ tạo danh tiếng hơn là một cơ chế thay đổi hành vi.
Ba là, khuôn khổ nghĩa vụ và thông tin còn phân mảnh. Nghĩa vụ lao động, bảo hiểm, môi trường, người tiêu dùng và công bố thông tin nằm trong nhiều luật, được quản lý bởi nhiều cơ quan, chưa có bản đồ tác động và bộ chỉ số thống nhất. Báo cáo bền vững chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết hoặc doanh nghiệp chịu sức ép từ thị trường; dữ liệu xã hội của phần lớn doanh nghiệp chưa được chuẩn hóa, thiếu kiểm chứng độc lập và khó so sánh. Khoảng trống này làm phát sinh “tẩy xanh”, “tẩy xã hội” và khiến chính sách ưu đãi khó phân biệt doanh nghiệp thực chất với doanh nghiệp chỉ có cam kết.
Bốn là, năng lực và động cơ giữa các nhóm doanh nghiệp rất không đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ; nhiều doanh nghiệp thiếu vốn dài hạn, nhân lực quản trị, hệ thống dữ liệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn chuỗi cung ứng (World Bank, 2025). Nếu áp dụng ngay nghĩa vụ báo cáo và thẩm định giống nhau cho mọi doanh nghiệp, chi phí tuân thủ có thể khiến doanh nghiệp nhỏ trở lại hoạt động phi chính thức. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào sự tự nguyện, doanh nghiệp có rủi ro cao hoặc doanh nghiệp có quyền lực thị trường lớn có thể trì hoãn việc thực hiện trách nhiệm.
Năm là, cơ chế tiếng nói và khắc phục chưa đủ hiệu quả. Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, tiếp nhận phản ánh của người tiêu dùng và tham vấn cộng đồng đã có cơ sở pháp lý, nhưng chất lượng thực hiện chưa đồng đều. Người bị ảnh hưởng thường thiếu thông tin, nguồn lực và vị thế để yêu cầu khắc phục. Trong chuỗi cung ứng nhiều tầng, doanh nghiệp đầu chuỗi có thể hưởng lợi từ giá thấp, trong khi rủi ro lao động và môi trường bị dồn xuống các nhà cung cấp nhỏ. Nếu không xác định trách nhiệm theo quan hệ nhân quả, mức độ góp phần và khả năng chi phối, cơ chế giải trình sẽ dừng ở việc chỉ xác định doanh nghiệp trực tiếp gây hại mà bỏ qua chủ thể có quyền lực quyết định.
5. Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò chủ thể phát triển xã hội
Định hướng tổng quát là xây dựng mô hình “trao quyền – nâng năng lực – ràng buộc trách nhiệm – bảo đảm giải trình”. Trao quyền mà thiếu trách nhiệm dễ tạo ra đặc quyền; ràng buộc trách nhiệm mà thiếu năng lực sẽ làm tăng chi phí và hình thức; giải trình mà không có dữ liệu và cơ chế khắc phục sẽ chỉ là một báo cáo. Mô hình này cần được triển khai theo các giải pháp sau:
Thứ nhất, thể chế hóa thống nhất khái niệm và các nguyên tắc về doanh nghiệp như một chủ thể phát triển xã hội. Trong chiến lược phát triển kinh tế tư nhân và khi sửa đổi pháp luật về doanh nghiệp, cần ghi nhận trách nhiệm tạo việc làm có chất lượng, phát triển kỹ năng, tôn trọng quyền con người, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, liêm chính và đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động cốt lõi. Sự ghi nhận phải đi kèm với 2 giới hạn: Nhà nước giữ trách nhiệm chính trong việc bảo đảm các quyền xã hội cơ bản; nghĩa vụ của doanh nghiệp được thiết kế tương xứng với quy mô, lĩnh vực, quyền lực thị trường và mức độ rủi ro.
Thứ hai, xây dựng khung quốc gia về kinh doanh có trách nhiệm và thẩm định tác động. Khung này nên tham chiếu Hướng dẫn OECD năm 2023 và Nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc, gồm sáu bước: tích hợp chính sách vào quản trị; nhận diện tác động thực tế và tác động tiềm ẩn; phòng ngừa, giảm thiểu; theo dõi; truyền thông; khắc phục (Organisation for Economic Co-operation and Development, 2023; Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, 2011). Nghĩa vụ bắt buộc trước hết áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp nhận hỗ trợ công đáng kể và ngành rủi ro cao; doanh nghiệp nhỏ áp dụng biểu mẫu rút gọn, hướng dẫn ngành và hỗ trợ kỹ thuật. Trọng tâm là tác động, không phải số lượng báo cáo.
Thứ ba, chuyển chính sách việc làm từ mục tiêu hấp thụ lao động sang việc làm thỏa đáng và khả năng chuyển đổi nghề nghiệp. Cần liên thông dữ liệu đăng ký kinh doanh, thuế, hợp đồng lao động và bảo hiểm để giảm tình trạng trốn tránh nghĩa vụ, đồng thời đơn giản hóa thủ tục chính thức hóa. Các chương trình hỗ trợ theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 nên gắn với các tiêu chí: duy trì việc làm chính thức, đóng bảo hiểm đầy đủ, đào tạo có chứng nhận, an toàn lao động, bình đẳng giới và tiếp nhận lao động yếu thế (Quốc hội, 2025a; Quốc hội, 2025b; Văn phòng Quốc hội, 2025b). Khi tự động hóa hoặc chuyển đổi xanh làm mất việc đáng kể, doanh nghiệp phải có kế hoạch chuyển đổi công bằng: thông báo sớm, đối thoại, đào tạo lại, hỗ trợ di chuyển và phối hợp với các dịch vụ việc làm.
Thứ tư, sử dụng công cụ kinh tế của Nhà nước để khuyến khích các kết quả xã hội có thể đo lường. Đấu thầu, tín dụng chính sách, bảo lãnh, ưu đãi đất đai, hỗ trợ nghiên cứu – phát triển và đối tác công – tư cần tích hợp các tiêu chí xã hội phù hợp với đối tượng của hợp đồng. Không nên đặt một tỷ lệ chi từ thiện bắt buộc áp dụng đại trà, bởi cách làm đó có thể khuyến khích “chi đủ” thay vì thúc đẩy sự thay đổi trong hoạt động cốt lõi. Hiệu quả hơn là chấm điểm và hậu kiểm các kết quả như việc làm bền vững, tỷ lệ lao động được đào tạo, khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế, giảm phát thải gắn với bảo vệ sinh kế, mức độ hài lòng và số vụ việc được khắc phục.
Thứ năm, thiết lập hệ thống đo lường và công bố thông tin xã hội theo nguyên tắc “ít chỉ số nhưng trọng yếu”. Bộ chỉ số quốc gia có thể gồm năm nhóm: việc làm và thu nhập – tỷ lệ hợp đồng, đóng bảo hiểm, tiền lương đủ sống tham chiếu, an toàn; phát triển con người – giờ đào tạo, chứng nhận kỹ năng, cơ hội thăng tiến; bao trùm – giới, khuyết tật, vùng khó khăn, doanh nghiệp nhỏ trong chuỗi; tác động sản phẩm, môi trường và dữ liệu – an toàn, khả năng tiếp cận, phát thải, quyền riêng tư; quản trị – đối thoại, khiếu nại, thời gian và tỷ lệ khắc phục, thuế và liêm chính. Chỉ số phải được phân theo giới và nhóm dễ bị tổn thương khi phù hợp, có đường cơ sở, mục tiêu, phương pháp tính và được kiểm chứng độc lập.
Thứ sáu, bảo đảm tiếng nói của các bên liên quan và khả năng tiếp cận để khắc phục. Doanh nghiệp cần có cơ chế khiếu nại nội bộ độc lập, bảo vệ người phản ánh và công bố quy trình xử lý; doanh nghiệp đầu chuỗi phải tham gia khắc phục khi mô hình mua hàng hoặc yêu cầu giá – tiến độ của mình góp phần tạo ra rủi ro. Cơ quan quản lý tăng cường thanh tra dựa trên rủi ro, chia sẻ dữ liệu liên ngành; công đoàn, tổ chức đại diện, hội bảo vệ người tiêu dùng, báo chí và cộng đồng được tiếp cận thông tin cần thiết để giám sát. Cơ chế ngoài tố tụng phải dễ tiếp cận nhưng không loại trừ quyền khởi kiện và quyền được bồi thường.
Thứ bảy, nâng cao năng lực quản trị và văn hóa kinh doanh, coi đây là điều kiện để “trao việc lớn” cho doanh nghiệp. Chương trình đào tạo doanh nhân và giám đốc điều hành cần tích hợp quản trị lao động, quyền con người, đạo đức dữ liệu, thẩm định chuỗi cung ứng, chuyển đổi công bằng và đối thoại xã hội, thay vì chỉ tập trung vào tài chính và thị trường. Hiệp hội doanh nghiệp xây dựng hướng dẫn theo ngành, cơ sở dữ liệu nhà cung cấp có trách nhiệm và cơ chế học tập đồng đẳng. Việc tôn vinh doanh nghiệp phải dựa trên dữ liệu đã được kiểm chứng và lịch sử khắc phục, không chỉ dựa trên quy mô tài trợ.
6. Kết luận
Trong bối cảnh mới, doanh nghiệp tư nhân không chỉ đứng “bên cạnh” quá trình phát triển xã hội với tư cách là nhà tài trợ, mà còn nằm “bên trong” quá trình đó thông qua các quyết định về việc làm, công nghệ, sản phẩm, dữ liệu, môi trường, chuỗi cung ứng và địa bàn đầu tư. Quy mô của khu vực tư nhân khiến mọi tiến bộ hay khiếm khuyết trong quản trị doanh nghiệp đều có thể trở thành kết quả xã hội ở tầm quốc gia. Vì vậy, phát huy vai trò chủ thể phát triển xã hội là yêu cầu nội tại của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không phải là phần bổ sung mang tính hình ảnh.
Vai trò ấy chỉ thực chất khi hội đủ bốn yếu tố: có không gian tự chủ và nguồn lực; tạo ra giá trị xã hội trong hoạt động cốt lõi; phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục tác động bất lợi; tham gia hợp tác nhưng chịu trách nhiệm giải trình. Thước đo không phải là số tiền từ thiện, mà là chất lượng việc làm, năng lực con người, mức độ bao trùm, độ an toàn của sản phẩm và công nghệ, tác động đến môi trường – cộng đồng, cùng khả năng lắng nghe và khắc phục.
Nghị quyết Đại hội XIV, Nghị quyết số 68-NQ/TW và các đạo luật mới đã tạo ra thời cơ thể chế hiếm có để chuyển từ “khuyến khích trách nhiệm xã hội” sang “quản trị tác động xã hội”. Cách tiếp cận phù hợp không phải buông lỏng theo tự nguyện, cũng không phải áp một gánh nặng đồng loạt, mà là quản lý theo quy mô và rủi ro; gắn quyền tiếp cận nguồn lực công với kết quả công; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ nâng cao năng lực; yêu cầu doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi và doanh nghiệp trong ngành rủi ro cao chịu trách nhiệm cao hơn. Khi quyền, năng lực, trách nhiệm và giải trình được thiết kế đồng bộ, doanh nghiệp tư nhân có thể trở thành lực lượng đồng kiến tạo một xã hội thịnh vượng, công bằng, văn minh và có sức chống chịu, trong khi Nhà nước vẫn giữ vững vai trò kiến tạo, điều tiết và bảo đảm quyền của Nhân dân.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2023). Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
International Labor Organization (2022). Tripartite Declaration of Principles concerning Multinational Enterprises and Social Policy (MNE Declaration) (6th ed.). ILO.
International Labor Organization (2025). Informality in Viet Nam: Trends, Drivers and Implications. ILO Brief. DOI: 10.54394/PEZL2270.
International Labor Organization (2026). Registration of Individual Businesses in Viet Nam: Drivers, Challenges and Lessons from International Experience. ILO. DOI: 10.54394/00033725.
International Organization for Standardization (2010). ISO 26000:2010 – Guidance on Social Responsibility. ISO.
Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights. (2011). Guiding Principles on Business and Human Rights: Implementing the United Nations ‘Protect, Respect and Remedy’ Framework. United Nations.
Organization for Economic Co-operation and Development. (2023). OECD Guidelines for Multinational Enterprises on Responsible Business Conduct. OECD Publishing. DOI: 10.1787/81f92357-en.
Organization for Economic Co-operation and Development. (2026). Responsible Business Conduct for a Just Transition: Protecting Workers, Communities and Consumers in the Low-Carbon Transition. OECD Publishing. DOI: 10.1787/ea041d32-en.
Quốc hội (2019). Bộ luật Lao động năm 2019.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Quốc hội (2023). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Quốc hội (2024). Luật Công đoàn năm 2024.
Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2025b). Luật Việc làm năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật số 97/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
United Nations (2015). Transforming Our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development, A/RES/70/1. United Nations.
Văn phòng Quốc hội (2025a). Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Doanh nghiệp.
Văn phòng Quốc hội (2025b). Văn bản hợp nhất số 58/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Bảo hiểm xã hội.
World Bank (2025). Viet Nam Rising: Pathways to a High-Income Future. World Bank.
Carroll, A. B. (1991). The Pyramid of Corporate Social Responsibility: Toward the Moral Management of Organizational Stakeholders. Business Horizons, 34(4), 39–48. DOI: 10.1016/0007-6813(91)90005-G.
Freeman, R. E. (1984). Strategic Management: A Stakeholder Approach. Pitman.
Porter, M. E., & Kramer, M. R. (2011). Creating Shared Value. Harvard Business Review, 89(1-2), 62–77.
Scherer, A. G., & Palazzo, G. (2011). The New Political Role of Business in a Globalized World: A Review of a New Perspective on CSR and Its Implications for the Firm, Governance, and Democracy. Journal of Management Studies, 48(4), 899–931. DOI: 10.1111/j.1467-6486.2010.00950.x.
Sen, A. (1999). Development as Freedom. Oxford University Press.



