Phát triển nguồn nhân lực số cho đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

Developing digital human resources to drive strategic breakthroughs in science, technology and innovation in contemporary Vietnam

ThS. Lê Văn Quyền
Bộ Công an

Email: caybutxanhhcma@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của nguồn nhân lực số trong thực hiện đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, làm rõ nguồn nhân lực số là điều kiện chủ thể để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị. Bài viết chỉ ra các yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực số; đánh giá một số kết quả, điểm nghẽn về chất lượng lao động, cơ cấu nhân lực, giáo dục – đào tạo và cơ chế trọng dụng nhân tài số; từ đó, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực số trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và các mục tiêu phát triển đất nước.

Từ khóa: Nguồn nhân lực số; Nghị quyết 57-NQ/TW; khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số quốc gia.

Abstract: The article analyzes the role of digital human resources in implementing Vietnam’s strategic breakthrough in science, technology, innovation and national digital transformation. Grounded in Marxism-Leninism, Ho Chi Minh Thought and the Party’s viewpoints, it argues that digital human resources are the subjective condition for developing modern productive forces, improving production relations and renewing national governance. The article identifies new requirements, current bottlenecks and policy orientations for developing digital human resources in Vietnam.

Keywords: digital human resources; Resolution No. 57-NQ/TW; science and technology; innovation; national digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Trong giai đoạn phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là những lĩnh vực chuyên biệt nằm bên cạnh đời sống kinh tế – xã hội mà đã trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, phương thức quản trị mới và năng lực cạnh tranh mới của quốc gia. Nếu trước đây phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng vốn đầu tư, thì hiện nay lợi thế phát triển ngày càng phụ thuộc vào tri thức, dữ liệu, công nghệ, năng lực tổ chức và chất lượng con người. Sự thay đổi ấy đòi hỏi phải nhìn nhận lại vai trò của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực số, trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định đây là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới (Bộ Chính trị, 2024). Điều đáng chú ý là Nghị quyết số 57-NQ/CP không tách nhân lực khỏi thể chế, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược mà xem nhân lực là một trong những nội dung cốt lõi. Cách đặt vấn đề đó phản ánh một tư duy phát triển rất rõ: công nghệ có thể được đầu tư, dữ liệu có thể được tích lũy, hạ tầng có thể được xây dựng nhưng nếu thiếu con người đủ năng lực làm chủ và sáng tạo, những yếu tố ấy không thể tự chuyển hóa thành sức mạnh phát triển hiện thực.

Trong thực tiễn Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đã tạo ra những chuyển biến đáng kể. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác lập ba trụ cột chính là chính phủ số, kinh tế số, xã hội số (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Đề án nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phổ cập kỹ năng số cho người dân, đồng thời phát triển lực lượng nhân lực chuyên sâu phục vụ chuyển đổi số (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Khung năng lực số cho người học, tạo bước đi quan trọng để chuẩn hóa năng lực số trong giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Tuy vậy, các chuyển biến đó vẫn đang đối diện một thực tế đáng suy nghĩ: nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, chất lượng lao động qua đào tạo chưa cao, khoảng cách giữa yêu cầu của kinh tế số với khả năng đáp ứng của hệ thống giáo dục và thị trường lao động còn khá lớn.

Theo thông cáo của Cục Thống kê, quý I/2025, Việt Nam có khoảng 51,9 triệu người có việc làm, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 28,8% (Cục Thống kê, 2025). Con số này cho thấy, nền tảng kỹ năng chính quy của lực lượng lao động còn mỏng, trong khi chuyển đổi số lại đòi hỏi năng lực học tập liên tục, khả năng sử dụng dữ liệu, năng lực làm việc trong môi trường số và kỹ năng thích ứng với công nghệ mới. Nếu không giải quyết được điểm nghẽn nhân lực, chuyển đổi số dễ rơi vào tình trạng “đổi công cụ mà chưa đổi con người”, “đổi hạ tầng mà chưa đổi năng lực”, hoặc “đổi khẩu hiệu mà chưa đổi phương thức phát triển”. Đây là vấn đề không nhỏ, bởi trong mọi cuộc cách mạng công nghệ, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người quyết định hướng sử dụng công nghệ.

Từ góc độ lý luận chính trị, phát triển nguồn nhân lực số không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục hay ngành công nghệ thông tin. Đây là một vấn đề gắn với phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới quan hệ sản xuất, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị và xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Bởi vậy, bài viết tập trung làm rõ: cơ sở lý luận của vai trò nguồn nhân lực số; yêu cầu mới đặt ra từ Nghị quyết số 57-NQ/TW và thực tiễn chuyển đổi số; những điểm nghẽn hiện nay và một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực số trong thực hiện đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Cơ sở lý luận về vai trò của nguồn nhân lực số trong đột phá chiến lược

Trong quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó người lao động luôn giữ vai trò chủ thể. Công cụ lao động, máy móc, kỹ thuật dù hiện đại đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả thông qua hoạt động có mục đích, có ý thức của con người. Khi khoa học và công nghệ phát triển, trình độ của lực lượng sản xuất biến đổi; đồng thời, yêu cầu đối với người lao động cũng thay đổi. Trong nền đại công nghiệp, C. Mác đã chỉ ra xu hướng người lao động phải ngày càng có năng lực toàn diện hơn, không chỉ thực hiện một thao tác hẹp mà phải thích ứng với hệ thống sản xuất ngày càng phức tạp (C. Mác & Ph. Ăngghen, 1995, tr. 474). Nhận định ấy có giá trị gợi mở trực tiếp đối với thời đại số hiện nay.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, công cụ lao động không chỉ là máy móc cơ khí mà còn là nền tảng số, dữ liệu lớn, thuật toán, trí tuệ nhân tạo, hệ thống tự động hóa, chuỗi khối và các hạ tầng kết nối. Những yếu tố này làm thay đổi cách con người lao động, quản lý, học tập, giao tiếp và sáng tạo. Tuy nhiên, dữ liệu không tự trở thành tri thức nếu không có con người biết phân tích; thuật toán không tự tạo ra giá trị xã hội nếu không có con người định hướng mục tiêu; trí tuệ nhân tạo không tự bảo đảm đạo đức nếu thiếu chủ thể có trách nhiệm. Do đó, nguồn nhân lực số phải được hiểu như một hình thái phát triển mới của nguồn lực con người trong điều kiện lực lượng sản xuất đã số hóa sâu sắc.

Nguồn nhân lực số, theo cách hiểu rộng, không chỉ là đội ngũ kỹ sư công nghệ thông tin, chuyên gia dữ liệu hay chuyên gia an ninh mạng. Đó còn là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhà giáo, doanh nhân, công nhân kỹ thuật, người lao động và công dân có năng lực tham gia, vận hành, tổ chức, sáng tạo trong môi trường số. Nguồn nhân lực số bao gồm nhiều tầng: tầng phổ cập kỹ năng số cơ bản của người dân; tầng nhân lực số ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực; tầng chuyên gia công nghệ số và tầng nhân tài số có năng lực dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Nếu chỉ chú ý tầng chuyên gia công nghệ mà bỏ qua tầng phổ cập kỹ năng số xã hội, chuyển đổi số sẽ không có nền tảng rộng. Ngược lại, nếu chỉ phổ cập kỹ năng thao tác mà không xây dựng đội ngũ tinh hoa công nghệ, đất nước khó làm chủ công nghệ chiến lược.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giáo dục cũng cung cấp nền tảng quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực số. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định học tập là công việc suốt đời, con người muốn làm việc tốt phải không ngừng nâng cao tri thức, đạo đức và năng lực. Người nhấn mạnh “vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, coi xây dựng con người là nhiệm vụ chiến lược lâu dài (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 528). Trong kỷ nguyên số, “trồng người” không chỉ là nâng cao dân trí theo nghĩa truyền thống, mà còn là hình thành năng lực số, tư duy sáng tạo, bản lĩnh chính trị, đạo đức số và trách nhiệm xã hội. Con người số không thể chỉ là người thao tác giỏi với phần mềm; đó phải là con người biết làm chủ công nghệ, biết dùng công nghệ vì lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong các đột phá chiến lược; đồng thời nhấn mạnh phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, đạo đức, sức khỏe, kỹ năng, khát vọng cống hiến và năng lực hội nhập (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 203). Trong các định hướng phát triển hiện nay, yêu cầu này được nâng lên trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực số không phải là một nhiệm vụ tách biệt mà là sự cụ thể hóa đường lối phát triển con người Việt Nam trong điều kiện mới.

Nói cách khác, nếu trong thời kỳ công nghiệp hóa, nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu chủ yếu là lực lượng lao động có tri thức, tay nghề, kỷ luật và khả năng tiếp thu công nghệ, thì trong thời kỳ chuyển đổi số, nội hàm ấy phải được mở rộng. Nhân lực số phải có khả năng học tập suốt đời, xử lý thông tin, làm việc trên nền tảng số, phối hợp liên ngành, thích ứng với thay đổi nhanh, nhận diện rủi ro số, bảo vệ dữ liệu, tôn trọng chuẩn mực đạo đức và tham gia vào đổi mới sáng tạo. Đây chính là điểm làm cho nguồn nhân lực số trở thành điều kiện chủ thể của đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực số trong thực hiện đột phá chiến lược

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu rất cao: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số (Bộ Chính trị, 2024). Muốn thực hiện yêu cầu đó, nguồn nhân lực số ở Việt Nam cần đáp ứng một số tiêu chí mới. Đây không chỉ là tiêu chí chuyên môn mà còn là tiêu chí về tư duy, phẩm chất, năng lực tổ chức và trách nhiệm xã hội.

Thứ nhất, nguồn nhân lực số phải có năng lực làm chủ công nghệ số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo. Trong nhiều năm, kỹ năng số thường được hiểu ở mức sử dụng máy tính, truy cập internet, phần mềm văn phòng hoặc các ứng dụng phổ thông. Cách hiểu này phù hợp với giai đoạn đầu của tin học hóa, nhưng không đủ cho giai đoạn chuyển đổi số sâu. Khi dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất quan trọng, người lao động phải biết tìm kiếm, đánh giá, xử lý, khai thác và bảo vệ dữ liệu. Khi trí tuệ nhân tạo phổ biến, người lao động không chỉ biết dùng công cụ AI mà còn phải biết đặt câu hỏi đúng, kiểm chứng thông tin, nhận diện thiên lệch, bảo vệ quyền riêng tư và tránh lạm dụng công nghệ. Vì vậy, năng lực số hiện đại không chỉ là kỹ năng thao tác mà là năng lực nhận thức, năng lực phán đoán và năng lực sử dụng công nghệ có trách nhiệm.

Thứ hai, nguồn nhân lực số phải có năng lực đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo không phải việc riêng của nhà khoa học hoặc doanh nghiệp công nghệ; nó phải trở thành phẩm chất của đội ngũ lao động trong mọi lĩnh vực. Cán bộ trong khu vực công cần biết sử dụng dữ liệu để cải tiến dịch vụ công; giáo viên cần biết thiết kế bài giảng số và tổ chức môi trường học tập linh hoạt; doanh nhân cần biết khai thác nền tảng số để tái cấu trúc mô hình kinh doanh; người lao động trong sản xuất cần biết vận hành, giám sát và cải tiến quy trình tự động hóa. Nếu nguồn nhân lực số chỉ dừng ở sử dụng công cụ có sẵn, đất nước sẽ luôn ở vị trí tiêu dùng công nghệ. Muốn vươn lên làm chủ, phải phát triển năng lực sáng tạo, năng lực đặt vấn đề, năng lực nghiên cứu, thiết kế và cải tiến.

Thứ ba, nguồn nhân lực số phải có năng lực học tập suốt đời. Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2025 cho thấy, khoảng trống kỹ năng là rào cản lớn nhất đối với chuyển đổi của doanh nghiệp; nhiều kỹ năng hiện có sẽ thay đổi nhanh trong giai đoạn đến năm 2030 (World Economic Forum, 2025). Trong bối cảnh ấy, không một bằng cấp ban đầu nào đủ dùng cho cả đời lao động. Người lao động phải liên tục cập nhật kỹ năng, còn cơ sở giáo dục và doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy đào tạo một lần sang tư duy đào tạo liên tục. Đối với Việt Nam, điều này càng cấp thiết vì tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp; nếu không có cơ chế học tập suốt đời, một bộ phận lớn lao động sẽ đứng ngoài quá trình chuyển đổi số.

Thứ tư, nguồn nhân lực số phải có năng lực làm việc trong môi trường liên ngành, liên thông, liên kết. Chuyển đổi số không diễn ra theo từng “ốc đảo” riêng lẻ. Một dự án chính phủ số đòi hỏi sự phối hợp giữa công nghệ, pháp luật, hành chính, dữ liệu, truyền thông và người dân. Một mô hình kinh tế số đòi hỏi sự kết hợp giữa sản xuất, logistics, thương mại điện tử, tài chính số, bảo mật và dịch vụ khách hàng. Do đó, nhân lực số không chỉ cần chuyên sâu mà còn phải biết phối hợp, biết giao tiếp, biết hiểu logic của ngành khác. Đây là lý do các kỹ năng mềm, tư duy hệ thống và năng lực quản trị dự án trở thành một bộ phận quan trọng của nhân lực số.

Thứ năm, nguồn nhân lực số phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức số và trách nhiệm xã hội. Không gian số là không gian phát triển, nhưng cũng là không gian chứa đựng nhiều nguy cơ: tin giả, thao túng thông tin, xâm phạm dữ liệu cá nhân, tấn công mạng, lệ thuộc nền tảng, suy giảm chuẩn mực giao tiếp. Đội ngũ nhân lực số, nhất là trong khu vực công, giáo dục, truyền thông, an ninh và quản trị xã hội, phải có năng lực nhận diện rủi ro, biết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, biết xử lý thông tin theo chuẩn mực và biết đặt lợi ích quốc gia, lợi ích Nhân dân lên trên lợi ích công cụ. Nếu thiếu nền tảng chính trị và đạo đức, công nghệ rất dễ bị sử dụng sai mục đích.

4. Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực số.

Một là, nhận thức chính trị và khung chính sách đã có bước chuyển rõ rệt. Từ Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 57-NQ/TW, vấn đề nhân lực số ngày càng được đặt vào trung tâm của chính sách phát triển (Bộ Chính trị, 2019; Bộ Chính trị, 2024; Thủ tướng Chính phủ, 2020). Không chỉ khu vực công nghệ thông tin, nhiều ngành khác như ngân hàng, giáo dục, y tế, logistics, báo chí, quản trị công cũng bắt đầu coi kỹ năng số là yêu cầu thiết yếu.

Hai là, hệ thống giáo dục và đào tạo đã bước đầu có chuyển động. Nhiều trường đại học mở các ngành, chương trình liên quan đến trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ tài chính, thương mại điện tử. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực số cho người học, gồm các miền năng lực và năng lực thành phần, tạo cơ sở để chuẩn hóa đào tạo năng lực số (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Một số cơ sở giáo dục đại học phát triển mô hình đại học số, học liệu số, nền tảng học trực tuyến và hợp tác với doanh nghiệp công nghệ. Đây là những tín hiệu tích cực, cho thấy quá trình hình thành nhân lực số đã bắt đầu đi vào chiều sâu hơn thay vì chỉ dừng ở phong trào ứng dụng công nghệ.

Ba, khu vực doanh nghiệp đã trở thành một lực lượng quan trọng trong đào tạo và sử dụng nhân lực số. Các doanh nghiệp công nghệ lớn, các tập đoàn viễn thông, ngân hàng, thương mại điện tử, logistics đã xây dựng trung tâm đào tạo nội bộ, học viện doanh nghiệp, chương trình thực tập và tuyển dụng nhân lực công nghệ. Nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực phát triển phần mềm, dữ liệu, an ninh mạng, vận hành nền tảng, marketing số, chuyển đổi số doanh nghiệp tăng nhanh. Thực tế đó tạo áp lực tích cực đối với hệ thống đào tạo và giúp người học nhìn rõ hơn cơ hội nghề nghiệp trong nền kinh tế số.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, chất lượng nguồn nhân lực số chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp so với yêu cầu của nền kinh tế số (Cục Thống kê, 2025). Nhiều sinh viên sau tốt nghiệp vẫn cần đào tạo lại để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về kỹ năng số, chưa thật sự thay đổi phương thức làm việc, vẫn coi chuyển đổi số như nhiệm vụ hành chính hơn là đổi mới cách quản trị. Khi con người chưa thay đổi, công nghệ được đưa vào cũng khó tạo chuyển biến thực chất.

Cơ cấu nhân lực số chưa hợp lý, nhân lực số chất lượng cao tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn, doanh nghiệp lớn và các ngành có mức độ số hóa cao, trong khi nhiều địa phương, nhất là cấp cơ sở, còn thiếu cán bộ am hiểu chuyển đổi số. Đây là điểm nghẽn đáng chú ý trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, yêu cầu chính quyền cơ sở xử lý nhiều dịch vụ công và tương tác trực tiếp với người dân trên nền tảng số. Nếu không phát triển nhân lực số ở cấp cơ sở, chuyển đổi số sẽ bị “đứt gãy” ở nơi cần phục vụ người dân nhiều nhất.

Thể chế sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài số còn chưa đủ mạnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài, nhưng từ định hướng đến thực thi còn cần nhiều bước cụ thể (Bộ Chính trị, 2024). Khu vực công gặp khó trong thu hút chuyên gia công nghệ do mức đãi ngộ, môi trường làm việc, cơ chế tuyển dụng và cơ hội sáng tạo chưa cạnh tranh với khu vực tư. Trong khi đó, khu vực tư cũng chịu sức ép cạnh tranh nhân lực với thị trường quốc tế. Nếu không có chính sách trọng dụng nhân tài số đủ thực chất, tình trạng chảy máu chất xám hoặc thiếu hụt nhân lực chiến lược sẽ còn kéo dài.

Một số chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, chậm cập nhật công nghệ mới, thiếu gắn kết với dự án thực tế. Trong khi đó, doanh nghiệp cần người làm được việc ngay, có kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng phối hợp và khả năng tự học. Khoảng cách ấy làm tăng chi phí đào tạo lại, giảm hiệu quả sử dụng nhân lực và khiến người học thiếu định hướng. Để giải quyết, cần vượt khỏi mô hình nhà trường đóng kín, chuyển sang hệ sinh thái đào tạo mở, có doanh nghiệp, Nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp và nền tảng số.

Nguy cơ bất bình đẳng số trong phát triển nguồn nhân lực. Người trẻ ở đô thị, người học trong các cơ sở giáo dục tốt và người lao động trong doanh nghiệp công nghệ có nhiều cơ hội tiếp cận kỹ năng số hơn. Trong khi đó, người lao động lớn tuổi, lao động nông thôn, lao động phi chính thức, người khuyết tật và một số nhóm yếu thế dễ bị bỏ lại phía sau. Nếu không chú trọng phổ cập kỹ năng số theo hướng bao trùm, chuyển đổi số có thể làm sâu sắc thêm phân hóa xã hội, tạo ra một tầng lớp lao động khó thích ứng với việc làm mới và dịch vụ công số.

5. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển nguồn nhân lực số theo hướng mở đường cho sáng tạo. Thể chế phải đi trước một bước, như yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024). Cần xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực số với các mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn, từng nhóm đối tượng và từng ngành nghề. Chiến lược này cần bao gồm cả phổ cập kỹ năng số toàn dân, đào tạo nhân lực số ứng dụng trong các ngành, đào tạo chuyên gia công nghệ số và phát triển nhân tài số trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, bán dẫn, điện toán đám mây. Không có chiến lược phân tầng, chính sách dễ rơi vào tình trạng dàn đều, thiếu trọng tâm.

Thứ hai, đổi mới giáo dục và đào tạo theo năng lực số. Khung năng lực số cho người học cần được triển khai thực chất vào chương trình, học liệu, phương pháp dạy học và đánh giá đầu ra (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Giáo dục phổ thông cần trang bị năng lực số nền tảng, tư duy logic, an toàn thông tin và văn hóa số. Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cần phát triển mạnh các chương trình liên ngành, gắn công nghệ với quản trị, kinh tế, pháp luật, truyền thông, y tế, nông nghiệp, logistics. Quan trọng hơn, phải thay đổi phương pháp đào tạo từ truyền thụ kiến thức sang giải quyết vấn đề, dự án, thực hành, mô phỏng và hợp tác doanh nghiệp. Người học phải được đặt vào môi trường thực tế để rèn năng lực số, chứ không chỉ học khái niệm số.

Thứ ba, phát triển cơ chế liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp – xã hội. Nhà nước định hướng, ban hành chuẩn và tạo cơ chế; nhà trường tổ chức đào tạo; doanh nghiệp cung cấp nhu cầu, môi trường thực hành và tham gia đánh giá; xã hội tạo văn hóa học tập suốt đời. Cần hình thành các hội đồng kỹ năng ngành trong lĩnh vực số, có sự tham gia của doanh nghiệp và cơ sở đào tạo để cập nhật chuẩn kỹ năng thường xuyên. Doanh nghiệp cần được khuyến khích bằng chính sách thuế, tín dụng hoặc hỗ trợ chi phí khi tham gia đào tạo, đào tạo lại cho người lao động. Mô hình đào tạo kép, đặt hàng đào tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường đại học cần được nhân rộng.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kỹ năng số và thị trường lao động số. Hiện nay, một khó khăn lớn là thiếu dữ liệu liên thông về nhu cầu kỹ năng, nguồn cung nhân lực, chất lượng đào tạo, vị trí việc làm mới và xu hướng dịch chuyển nghề nghiệp. Nếu không có dữ liệu, chính sách sẽ khó chính xác. Cần xây dựng hệ thống dự báo kỹ năng số theo ngành, vùng, nhóm tuổi, trình độ; kết nối dữ liệu giữa giáo dục, lao động, doanh nghiệp và địa phương. Hệ thống này sẽ giúp người học chọn ngành, nhà trường điều chỉnh chương trình, doanh nghiệp tìm nhân lực, còn Nhà nước hoạch định chính sách đúng hơn.

Thứ năm, phát triển học tập suốt đời và đào tạo lại cho người lao động. Không thể chỉ tập trung đào tạo thế hệ trẻ trong nhà trường mà bỏ qua hàng chục triệu lao động đang làm việc. Cần có các chương trình đào tạo lại kỹ năng số cho công nhân, nông dân, cán bộ cơ sở, người lao động phi chính thức. Các khóa học phải ngắn gọn, thiết thực, theo tình huống sử dụng: dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện lừa đảo trực tuyến, sử dụng công cụ AI cơ bản. Đào tạo lại phải gắn với sinh kế, việc làm và lợi ích cụ thể, nếu không sẽ chỉ là phong trào.

Thứ sáu, có chính sách đặc biệt để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài số. Đối với khu vực công, cần cơ chế tuyển dụng linh hoạt, hợp đồng chuyên gia, đãi ngộ cạnh tranh, môi trường làm việc sáng tạo và quyền chủ trì các dự án lớn. Đối với khu vực tư, cần hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp công nghệ, bảo vệ sở hữu trí tuệ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D. Đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần có cơ chế kết nối, mời gọi tham gia dự án, giảng dạy, cố vấn, chuyển giao tri thức. Trọng dụng nhân tài số phải thực chất; nếu chỉ dừng ở khẩu hiệu thì không thể cạnh tranh trong thị trường nhân lực toàn cầu.

Thứ bảy, gắn phát triển nguồn nhân lực số với xây dựng văn hóa số và đạo đức số. Năng lực số không chỉ là năng lực sử dụng công cụ, mà còn là năng lực ứng xử trong môi trường số. Cần giáo dục trách nhiệm công dân số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tôn trọng pháp luật, chống tin giả, chống lừa đảo trực tuyến, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Đội ngũ nhân lực số phải biết làm chủ công nghệ, nhưng cũng phải biết giới hạn đạo đức của công nghệ. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong thời đại trí tuệ nhân tạo, khi ranh giới giữa thông tin thật và giả, giữa sáng tạo và sao chép, giữa tiện ích và xâm phạm quyền riêng tư ngày càng phức tạp.

6. Kết luận

Phát triển nguồn nhân lực số là điều kiện chủ thể để thực hiện đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Công nghệ, dữ liệu, hạ tầng và thể chế chỉ có thể trở thành sức mạnh phát triển khi được con người làm chủ, tổ chức và sáng tạo. Vì vậy, nguồn nhân lực số cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển lực lượng sản xuất hiện đại của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đã có nhiều chủ trương quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, tạo cơ sở chính trị và pháp lý cho phát triển nguồn nhân lực số. Tuy nhiên, những hạn chế về chất lượng lao động, cơ cấu nhân lực, giáo dục đào tạo, thể chế nhân tài và phân hóa kỹ năng số vẫn là những điểm nghẽn cần giải quyết. Muốn tháo gỡ các điểm nghẽn đó, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ: hoàn thiện thể chế, đổi mới giáo dục, liên kết đa chủ thể, phát triển dữ liệu kỹ năng, đào tạo lại lao động, trọng dụng nhân tài và xây dựng văn hóa số.

Từ góc nhìn lý luận chính trị, phát triển nguồn nhân lực số không phải là nhiệm vụ kỹ thuật đơn thuần. Đó là một nội dung của phát triển con người Việt Nam trong thời đại mới, là phương thức phát huy nhân tố con người trong xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khi con người Việt Nam được trang bị năng lực số, tư duy sáng tạo, bản lĩnh chính trị và đạo đức số, chuyển đổi số mới trở thành động lực thực chất của phát triển quốc gia.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.
C. Mác, & Ph. Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.
Cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý I/2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 11). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
World Economic Forum (2025). The Future of Jobs Report 2025. World Economic Forum.