Implementation of Resolution No. 57-NQ/TW – bottlenecks and solutions from a state management perspective
TS. Hoàng Thị Cường
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: hoangkimcuong2025@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 57-NQ/TW khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu trong phát triển đất nước. Sau khi ban hành, Nghị quyết đã được cụ thể hóa bằng chương trình hành động, nhiệm vụ, nguồn lực tài chính, rà soát thể chế, phát triển dữ liệu, công nghệ chiến lược và thị trường khoa học, công nghệ. Kết quả bước đầu mới chủ yếu phản ánh giai đoạn khởi động chính sách; hiệu quả cuối cùng phụ thuộc nhiều vào năng lực tổ chức thực hiện. Bài viết tiếp cận vấn đề từ thể chế, năng lực thực thi, cơ chế điều phối, nguồn lực, dữ liệu và thị trường. Trên cơ sở đó, nhận diện một số điểm nghẽn trong quá trình thực thi và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện Nghị quyết theo hướng lấy kết quả đầu ra, tác động phát triển và trách nhiệm giải trình làm trọng tâm.
Từ khóa: Nghị quyết số 57-NQ/TW; khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; công nghệ chiến lược; quản lý nhà nước.
Abstract: Resolution No. 57-NQ/TW affirms that science, technology, innovation, and digital transformation constitute the foremost breakthroughs for national development. Following its promulgation, the Resolution has been operationalized through action plans, assigned tasks, financial resources, institutional reviews, data development, strategic technologies, and the science and technology market. While initial results primarily reflect the initial stage of policy implementation, ultimate efficacy depends heavily on implementation capacity. From a state management perspective, this article analyzes the issue from the perspectives of institutions, implementation capacity, coordination mechanisms, resources, data, and the market. On this basis, the paper identifies several bottlenecks in the implementation process and proposes solutions to enhance the effectiveness of implementing the Resolution, focusing on outputs, developmental impacts, and accountability.
Keywords: Resolution No. 57-NQ/TW; science and technology; innovation; digital transformation; strategic technologies; state management.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế dịch chuyển mạnh sang tri thức, công nghệ lõi, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ mà còn là đổi mới phương thức quản trị để biến nguồn lực thành năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực làm chủ công nghệ. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024) ra đời trong bối cảnh đó. Nghị quyết xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực chuyên môn riêng biệt mà được đặt vào trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn với thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, công nghiệp mới, công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) (Chính phủ, 2026).
Bài viết tiếp cận quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW từ góc độ quản lý nhà nước, trong đó tập trung phân tích làm rõ những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; đồng thời, chỉ ra một số điểm nghẽn về thể chế, điều phối nhiệm vụ, dữ liệu, tài chính và làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tổ chức hiệu quả Nghị quyết trong thực tiễn.
2. Kết quả bước đầu trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ. Nhằm nhanh chóng hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW, tính đến ngày 05/3/2026, có 102/103 cơ quan trung ương, địa phương đã hoàn thành cập nhật kế hoạch thực hiện Nghị quyết trong năm 2026 và kế hoạch chuyển đổi số trong các cơ quan đảng năm 2026, có lồng ghép với các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, 2026). Kết quả này cho thấy, sự triển khai một cách quyết liệt về mặt lãnh đạo, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ trong toàn hệ thống chính trị.
Về công tác rà soát, hoàn thiện thể chế. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đã có 207 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành trong năm 2025, trong đó có 137 phản ánh, kiến nghị liên quan đến 76 văn bản có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, chưa rõ ràng, chưa khả thi, gây khó khăn trong áp dụng hoặc tạo gánh nặng chi phí tuân thủ (Bộ Tư pháp, 2026). Đây là căn cứ quan trọng để nhận diện các rào cản thể chế thay vì chỉ nhìn vào số lượng văn bản đã được ban hành.
Về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. Chuyển đổi số trong 4 khối cơ quan cho thấy, các cơ quan đảng đã số hóa 124/156 quy trình nghiệp vụ lõi, đạt 79% và đưa vào sử dụng 16/26 hệ thống, đạt 61%. Hệ thống điều hành tác nghiệp được triển khai toàn quốc với 197 nghìn tài khoản, duy trì trên 102 nghìn lượt đăng nhập mỗi ngày; lũy kế có trên 5,3 triệu văn bản phát hành đi, trong đó 2,7 triệu văn bản ký điện tử và 7,6 triệu văn bản đến (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026a). Những số liệu này chứng minh hạ tầng vận hành số đã hình thành ở quy mô đáng kể, nhưng hiệu quả khai thác cần được đánh giá trong quá trình thực hiện.
Về nguồn lực tài chính.Tài chính, kinh phí năm 2025 đã cân đối đủ 3% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương 76 nghìn tỷ đồng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Riêng gói bổ sung 25 nghìn tỷ đồng, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định bổ sung 15.530,337 tỷ đồng trong năm 2025; phần còn lại được chuyển nguồn sang năm 2026 theo quy định (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026a). Việc bố trí nguồn lực ở quy mô này là bước tiến rõ rệt, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao về phân bổ, hấp thụ, giải ngân và đo lường hiệu quả.
Về công nghệ chiến lược, hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ và thị trường khoa học và công nghệ. Năm 2025, hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ chiến lược của Việt Nam có 875 doanh nghiệp với tổng doanh thu khoảng 79,90 tỷ USD. Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI chiếm 99,4% doanh thu, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 0,6% (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026a). Số liệu này chứng minh thách thức của Việt Nam nằm ở năng lực chiếm lĩnh các khâu có giá trị gia tăng cao. Việc hoàn thiện và phát triển Sàn giao dịch khoa học, công nghệ nhằm kết nối cung – cầu công nghệ ở trung ương và địa phương là một bước đi cần thiết (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Bên cạnh đó, các bộ, ngành, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và Hội đồng tư vấn quốc gia đã gửi đề xuất, kiến nghị để xử lý khó khăn, vướng mắc trong triển khai công nghệ chiến lược (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026b). Qua đó cho thấy, quá trình thực thi đã bắt đầu đi vào khâu khó hơn: tháo gỡ vướng mắc cụ thể, không chỉ ban hành danh mục hay kế hoạch.
3. Nhận diện điểm nghẽn trong quản lý nhà nước khi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW
Một là, sự chậm thích ứng của thể chế trước tốc độ phát triển của công nghệ mới.
Công nghệ số, AI, Big Data, Blockchain, bán dẫn và các mô hình đổi mới sáng tạo thay đổi nhanh hơn nhiều so với chu kỳ xây dựng chính sách. Trong khi đó, pháp luật phải bảo đảm tính thận trọng, ổn định, khả thi và an toàn. Khoảng cách về tốc độ giữa đổi mới công nghệ và quá trình xây dựng chính sách tạo ra vùng trống pháp lý, khiến một số cơ quan nhà nước lúng túng, doanh nghiệp thiếu căn cứ triển khai, viện nghiên cứu và trường đại học khó thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Báo cáo rà soát của Bộ Tư pháp cho thấy, vấn đề không chỉ là thiếu văn bản mà còn có sự mâu thuẫn, chồng chéo, không rõ ràng, khó áp dụng và tạo gánh nặng chi phí tuân thủ trong một số văn bản đã ban hành (Bộ Tư pháp, 2026). Quyết định số 1526/QĐ-TTg ngày 14/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh yêu cầu ban hành văn bản hướng dẫn sau các luật, nghị quyết mới là nhiệm vụ lớn, đòi hỏi kỷ luật tiến độ và chất lượng soạn thảo cao.
Hai là, năng lực thực thi còn nhiều yếu kém.
Nhiều nhiệm vụ được giao vẫn còn chậm tiến độ, năng lực thiết kế nhiệm vụ, bố trí nguồn lực, phối hợp thực hiện và kiểm soát kết quả chưa đồng đều. Trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ được giao theo đầu việc nhưng chưa gắn đủ chặt với sản phẩm đầu ra, chỉ số kết quả, nguồn lực bảo đảm và cơ chế chịu trách nhiệm. Quản lý còn nặng về giao việc, báo cáo việc và hoàn thành thủ tục, trong khi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đòi hỏi quản trị theo kết quả. Đánh giá nhiệm vụ phải qua thời gian xử lý công việc, mức độ kết nối dữ liệu, khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp và số sản phẩm công nghệ được thương mại hóa.
Kinh nghiệm từ kế hoạch triển khai ở cấp địa phương cũng cho thấy, yêu cầu ngày càng rõ về đo lường kết quả. Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2026 của Tỉnh ủy Gia Lai nhấn mạnh mọi nhiệm vụ, kết quả thực hiện phải được lượng hóa bằng chỉ tiêu, số liệu cụ thể, có cơ sở kiểm chứng và được theo dõi, giám sát minh bạch trên môi trường số; đồng thời, gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ và kết quả thực hiện (Tỉnh ủy Gia Lai, 2026).
Ba là, sự phối hợp liên ngành còn thiên về hành chính.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lĩnh vực có tính liên ngành rất cao. Chẳng hạn, một nhiệm vụ về AI không chỉ liên quan đến khoa học, công nghệ, dữ liệu mà còn liên quan tới giáo dục, tài chính, tư pháp, an ninh mạng, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, mua sắm công, thị trường và doanh nghiệp. Nếu mỗi cơ quan giữ một hệ thống, một trường dữ liệu và một quy trình chia sẻ riêng thì dữ liệu không thể kết nối và những vấn đề liên ngành sẽ khó được xử lý đến cùng. Bên cạnh đó, các kiến nghị trong triển khai công nghệ chiến lược không thuần túy là vấn đề kỹ thuật mà liên quan đến cơ chế đặt hàng, tiêu chuẩn, tài chính, mua sắm công, thu hút doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và trách nhiệm xử lý của nhiều bộ, ngành (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026b). Nếu phối hợp vẫn chủ yếu dựa vào công văn, hội nghị và báo cáo định kỳ, việc xử lý các vấn đề giao thoa sẽ bị chậm tiến độ. Do đó, điểm cần thay đổi là chuyển từ phối hợp hành chính sang điều phối theo nhiệm vụ. Với những nhiệm vụ lớn về dữ liệu, công nghệ chiến lược, thị trường công nghệ, chính phủ số và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chủ trì phối hợp phải đủ thẩm quyền để điều hòa lợi ích, xử lý xung đột chính sách, chuẩn hóa dữ liệu, theo dõi tiến độ và đề xuất điều chỉnh nguồn lực.
Bốn là, cơ chế tài chính còn nặng về đầu vào.
Việc bố trí 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, nguồn lực lớn chỉ tạo ra hiệu quả khi cơ chế phân bổ, sử dụng và đánh giá phù hợp với đặc thù hoạt động đổi mới sáng tạo. Hoạt động khoa học, công nghệ có rủi ro, có độ bất định và cần thử nghiệm. Nếu cơ chế tài chính vẫn quá nặng về định mức, chứng từ, niên độ và thủ tục thanh quyết toán, các đơn vị thực thi dễ chọn phương án an toàn, ít đổi mới, dễ giải trình nhưng hiệu quả không cao. Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã quy định chi tiết về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó bao gồm cơ cấu ngân sách nhà nước, lập dự toán, phân bổ, quản lý, sử dụng, quyết toán ngân sách; quản lý các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khoản chi của doanh nghiệp cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vấn đề đặt ra trong thực thi là chuyển các quy định này thành cơ chế đặt hàng, hỗ trợ, tài trợ, kiểm soát rủi ro và đánh giá kết quả đủ linh hoạt. Việc chậm giải ngân không chỉ là vấn đề kỹ thuật tài chính mà còn là dấu hiệu của sự chưa phù hợp giữa phương thức quản lý ngân sách truyền thống với yêu cầu đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Cần thay tư duy cấp phát và thanh quyết toán bằng tư duy đầu tư, đặt hàng và đánh giá kết quả.
Năm là, dữ liệu phân mảnh, chuyển đổi số chưa đồng bộ.
Chuyển đổi số không chỉ là đưa văn bản, thủ tục hay quy trình lên môi trường điện tử. Giá trị cốt lõi của chuyển đổi số nằm ở việc tái thiết kế quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối hệ thống và nâng cao năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu. Nếu dữ liệu phân tán theo cơ quan, phần mềm, dự án hoặc địa phương, hệ thống số dù được triển khai rộng vẫn khó tạo ra năng lực quản trị mới. Kết quả số hóa 124/156 quy trình nghiệp vụ lõi trong các cơ quan Đảng là bước tiến đáng ghi nhận, nhưng hiệu quả vận hành, khai thác thực tế giữa các cơ quan, đơn vị chưa đồng đều, chưa rõ nét; còn nhiều quy trình cần tiếp tục số hóa và nhiều hệ thống phần mềm cần nâng cao chất lượng, khắc phục lỗi kỹ thuật (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026a). Điều này cho thấy, chuyển đổi số đã có nền tảng, song vẫn cần đi sâu vào chất lượng vận hành và giá trị sử dụng. Theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, dữ liệu phải được xem là hạ tầng của quản trị. Không có dữ liệu chuẩn, dữ liệu sạch và cơ chế chia sẻ rõ ràng, rất khó đánh giá chính xác tác động chính sách, đo lường hiệu quả đầu tư hay phát triển các ứng dụng AI phục vụ khu vực công.
Sáu là, doanh nghiệp công nghệ chưa trở thành chủ thể trung tâm.
Doanh nghiệp trong nước có mặt trong hệ sinh thái nhưng năng lực doanh thu rất thấp so với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026a). Đây là vấn đề cần nhìn từ năng lực làm chủ công nghệ, chứ không chỉ từ quy mô vốn. Năng lực làm chủ công nghệ bao gồm khả năng nhận diện công nghệ phù hợp, tiếp nhận, cải tiến, tích hợp, phát triển sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường. Chức năng chính của doanh nghiệp khoa học, công nghệ là thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kết nối giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Đây là điểm rất quan trọng đối với Nghị quyết số 57-NQ/TW. Nếu doanh nghiệp không đủ năng lực làm chủ và phát triển công nghệ, kết quả nghiên cứu sẽ khó đi ra thị trường. Ngược lại, nếu viện, trường không gắn với nhu cầu doanh nghiệp, nhiệm vụ nghiên cứu dễ xa rời thực tiễn.
Các quy định về đổi mới sáng tạo và khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp đã đề cập đến các hình thức hỗ trợ, như: ưu đãi thuế, ưu đãi đất đai, tín dụng, quỹ đổi mới công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Vấn đề là cần triển khai các công cụ này theo hướng dễ tiếp cận, minh bạch và gắn với kết quả đầu ra.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ và thích ứng nhanh.
Tiếp tục rà soát các quy định liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, đầu tư công, ngân sách, đấu thầu, mua sắm công, tài sản công, sở hữu trí tuệ và an toàn thông tin. Rà soát chỉ ra quy định nào bảo đảm sự tuân thủ, quy định nào gây mâu thuẫn thẩm quyền, quy định nào làm chậm thử nghiệm công nghệ mới. Đối với các lĩnh vực có tốc độ thay đổi nhanh, như: AI, Big Data, Blockchain, bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử và các mô hình kinh doanh số, cần phát triển cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Cơ chế này cho phép thử nghiệm trong phạm vi, thời hạn và điều kiện giám sát rõ ràng, qua đó, giảm sự chậm thích ứng của thể chế mà vẫn bảo đảm an toàn pháp lý, an ninh dữ liệu và lợi ích công cộng. Đặt trách nhiệm ban hành văn bản quy định chi tiết vào quy định trách nhiệm trong thực thi chính sách. Văn bản hướng dẫn ban hành chậm sẽ làm chậm toàn bộ chuỗi triển khai, nhất là các chính sách liên quan đến tài chính, mua sắm công, dữ liệu, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược.
Thứ hai, chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả.
Thiết kế triển khai nhiệm vụ theo chuỗi: mục tiêu, đầu vào, hoạt động, sản phẩm đầu ra, kết quả và tác động. Cơ quan chủ trì phải giải trình nhiệm vụ đã tạo ra thay đổi gì, đối tượng nào được hưởng lợi và hiệu quả được đo bằng chỉ số nào. Cần xây dựng bộ chỉ số: chỉ số tiến độ là số nhiệm vụ hoàn thành, số văn bản ban hành, tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả bao gồm trong đó là tỷ lệ dữ liệu được kết nối, số quy trình được tái thiết kế, số sản phẩm công nghệ được thử nghiệm, số doanh nghiệp tham gia nhiệm vụ đổi mới sáng tạo; chỉ số tác động bảo đảm mức cải thiện chất lượng dịch vụ công, năng suất lao động, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, năng lực cạnh tranh công nghệ và đóng góp của doanh nghiệp công nghệ trong nước. Đối với nhiệm vụ quá hạn, cần làm rõ nguyên nhân: vướng mắc thể chế, thiếu nguồn lực, hạn chế trong phối hợp, năng lực thực thi chưa đáp ứng yêu cầu hoặc nguyên nhân chủ quan. Mỗi nhóm nguyên nhân phải có cách xử lý khác nhau. Không nên để mọi chậm trễ được giải thích bằng một công thức chung là nguyên nhân khách quan.
Thứ ba, đổi mới cơ chế tài chính, đặt hàng và mua sắm công cho đổi mới sáng tạo.
Nguồn lực tài chính cho Nghị quyết số 57-NQ/TW cần được phân bổ theo ưu tiên chiến lược, không dàn trải. Các nhiệm vụ tạo hạ tầng dùng chung, nền tảng dữ liệu, sản phẩm công nghệ chiến lược, năng lực công nghệ lõi và thị trường ban đầu cho doanh nghiệp trong nước cần được ưu tiên. Ngoài ra, cần chuyển cơ chế từ cấp phát kinh phí theo đầu vào sang đặt hàng theo sản phẩm và đánh giá theo kết quả. Với các nhiệm vụ có yếu tố thử nghiệm, cần có cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Một nhiệm vụ đổi mới sáng tạo có thể không thành công ngay nhưng phải có mục tiêu rõ, quy trình minh bạch, tiêu chí dừng hoặc tiếp tục và cơ chế rút kinh nghiệm sau thử nghiệm. Mua sắm công cần được sử dụng như công cụ tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm công nghệ trong nước, nhất là ở các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Mua sắm công cho đổi mới sáng tạo không thể vận hành như mua sắm hàng hóa thông thường; cần tiêu chí kỹ thuật, cơ chế thử nghiệm, đánh giá hiệu quả sử dụng và trách nhiệm giải trình phù hợp.
Thứ tư, tăng cường điều phối liên ngành và phát triển dữ liệu dùng chung.
Các nhiệm vụ liên quan đến công nghệ chiến lược, dữ liệu, AI, chuyển đổi số và thị trường công nghệ cần tổ chức điều phối theo nhiệm vụ. Cơ quan điều phối phải có đủ thẩm quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu, báo cáo tiến độ, đề xuất xử lý xung đột chính sách và kiến nghị điều chỉnh nguồn lực. Hình thành các nhóm công tác liên ngành cho những nhiệm vụ trọng điểm, với thời hạn về thời gian, sản phẩm cụ thể, đầu mối chịu trách nhiệm và cơ chế báo cáo ngắn gọn. Với các kiến nghị, đề xuất, cần theo dõi đến cùng việc xử lý, tránh tình trạng kiến nghị được tổng hợp nhưng không chuyển thành thay đổi chính sách hoặc kết quả thực thi. Về dữ liệu, cần thống nhất chuẩn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, cơ chế chia sẻ và nền tảng tích hợp. Đối với các hệ thống đã triển khai, cần đánh giá bằng mức độ sử dụng, mức giảm thời gian xử lý, khả năng hỗ trợ quyết định và mức độ tái sử dụng dữ liệu; không nên chỉ đánh giá bằng số tài khoản, số văn bản điện tử hoặc số phần mềm.
Thứ năm, đặt doanh nghiệp công nghệ trong nước và thị trường khoa học và công nghệ vào vị trí trung tâm.
Phát triển doanh nghiệp công nghệ trong nước phải là một trọng tâm của triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần đi vào năng lực làm chủ công nghệ, nghiên cứu và phát triển, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng, quản trị công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua đặt hàng công nghệ, mua sắm công đổi mới sáng tạo, hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm, bảo lãnh tín dụng đổi mới sáng tạo, hỗ trợ lãi suất vay, kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia công nghệ. Những công cụ này chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp tiếp cận được, thủ tục đủ rõ, thời gian xử lý hợp lý và kết quả được theo dõi sau hỗ trợ. Sàn giao dịch khoa học, công nghệ cần phát triển thành thiết chế trung gian của thị trường công nghệ, không chỉ là nơi công bố thông tin. Cần bổ sung dịch vụ định giá công nghệ, tư vấn sở hữu trí tuệ, tư vấn pháp lý, hỗ trợ đàm phán hợp đồng, kết nối quỹ đầu tư, hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm và theo dõi kết quả chuyển giao. Khi thị trường công nghệ vận hành theo nhu cầu thật của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội trở thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực sản xuất.
5. Kết luận
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn mới trong tư duy phát triển và quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những kết quả bước đầu cho thấy, hệ thống chính trị đã vào cuộc khẩn trương, thể chế được rà soát, nguồn lực được bố trí, chuyển đổi số được thúc đẩy và các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược được quan tâm. Thách thức lớn hiện nay là nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện. Các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, dữ liệu, phối hợp liên ngành, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và năng lực doanh nghiệp cho thấy yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước. Trong thời gian tới, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cần được chuyển từ quản lý theo đầu việc sang quản trị theo kết quả; từ phân bổ nguồn lực theo thủ tục sang đầu tư theo ưu tiên chiến lược; từ chuyển đổi số theo hệ thống phần mềm sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ hỗ trợ doanh nghiệp chung sang phát triển năng lực công nghệ nội địa; từ phối hợp hành chính sang điều phối liên ngành theo nhiệm vụ. Có như vậy, việc thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW mới có khả năng chứng minh được bằng những chuyển biến thực chất trong kết quả phát triển, năng lực công nghệ, chất lượng quản trị và sức cạnh tranh quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Báo cáo việc hoàn thiện và phát triển Sàn giao dịch khoa học và công nghệ, kèm theo Công văn số 1807/BKHCN-ĐMST.
Bộ Tư pháp (2026). Báo cáo số 207/BC-BTP ngày 04/4/2026 về kết quả rà soát, đề xuất giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 05/4/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương.
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2026). Báo cáo số 19-BC/CQTTBCĐ ngày 14/3/2026 về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Tỉnh ủy Gia Lai (2026). Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1526/QĐ-TTg ngày 14/7/2025 ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 9.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026a). Phụ lục III: Tình hình, kết quả thực hiện chuyển đổi số trong 04 khối cơ quan và một số gợi ý về phát triển dữ liệu và các cơ sở dữ liệu trọng tâm cần tập trung triển khai trong năm 2026.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026a). Phụ lục IV: Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026a). Phụ lục V: Về tài chính, kinh phí cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026b). Công văn số 1103-CV/VPTW ngày 19/3/2026 về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai công nghệ chiến lược và phụ lục kèm theo.



