Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày vùng Đông Bắc trong dòng chảy đương đại

Preservation and promotion of the cultural identity of the Tày ethnic group in the Northeastern Region in the contemporary context

TS. Đào Thị Tân
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Email: daothitan@tueba.edu.vn
TS. Đỗ Thùy Ninh
Đại học Thái Nguyên
Email: ninh@tueba.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đương đại, văn hóa phản ánh rõ nét sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn giá trị gốc và sự thích ứng, sáng tạo theo xu thế thời đại. Bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có dân tộc Tày không chỉ là sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Bài viết phân tích thực trạng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày vùng Đông Bắc trong điều kiện hội nhập, từ đó, cung cấp cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Bản sắc văn hóa; bảo tồn; phát huy; chính sách văn hóa; dân tộc Tày.

Abstract: In the contemporary context, culture clearly reflects the interplay between tradition and modernity, between the preservation of original values and adaptation and innovation in accordance with the trends of the times. The cultural identity of ethnic minorities in general, and of the Tay people in particular, constitutes not only an endogenous strength and a form of soft power of the nation but also a vital resource for sustainable socio-economic development. This article analyzes the current state of the preservation and promotion of the cultural identity of the Tay people in the Northeast region under conditions of integration, thereby providing a scientific basis for refining policies and enhancing the effectiveness of state management regarding the preservation and promotion of Tay cultural identity in the new era.

Keywords: Cultural identity, preservation, promotion, cultural policy, Tay ethnic group.

1. Đặt vấn đề

Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, đóng vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Trong lòng quốc gia đa dân tộc Việt Nam, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em là một hành trình bền bỉ nhằm gìn giữ sự đa dạng; đồng thời, là sứ mệnh củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gia tăng sức mạnh nội sinh và khẳng định bản sắc quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nổi bật trong bức họa văn hóa đa sắc ấy, cộng đồng người Tày (dân tộc thiểu số có dân số đông nhất cả nước) hiện đang sở hữu một kho tàng di sản phong phú và đặc sắc. Những giá trị di sản này không chỉ là niềm tự hào riêng của người Tày mà còn là một phần không thể tách rời, đóng góp quan trọng vào sự giàu có và linh hồn của kho tàng văn hóa Việt Nam.

Người Tày là một trong những cư dân có mặt sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam, được cho là đã hiện diện từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Họ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Kra-Dai), có quan hệ nguồn gốc gần gũi với người Nùng và người Tráng (Choang) ở Quảng Tây, Trung Quốc. Dân tộc Tày cư trú tập trung tại các tỉnh vùng Đông Bắc, như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Trong quá trình lịch sử, người Tày đã hình thành hệ thống giá trị văn hóa đặc trưng với tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật Then, đàn tính, hát lượn, hát cọi, lễ hội Lồng Tồng, kiến trúc nhà sàn, nghề thủ công truyền thống, tri thức bản địa về nông nghiệp, y học dân gian và nhiều phong tục, tập quán gắn với môi trường tự nhiên và đời sống cộng đồng. Các giá trị này không chỉ phản ánh lịch sử, thế giới quan và nhân sinh quan của người Tày mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển văn hóa, du lịch và kinh tế địa phương.

Trải qua 40 năm Đổi mới, dưới sự soi sáng từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Nghị quyết của Đảng bộ các tỉnh vùng Đông Bắc, cộng đồng dân tộc Tày đã nỗ lực không ngừng trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người. Thông qua quá trình này, hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu không chỉ được duy trì vững chắc mà còn có sự tiếp biến, tự điều chỉnh để thích ứng với thời đại. Những biến đổi tích cực theo hướng bổ sung và cập nhật các giá trị mới đã góp phần làm giàu thêm nội hàm văn hóa truyền thống, khẳng định sức sống bền bỉ của di sản Tày trong dòng chảy đương đại

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập, toàn cầu hóa đã và đang tạo ra nhiều cơ hội cho đồng bào Tày ở các tỉnh vùng Đông Bắc có tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau, dẫn đến quá trình tự điều chỉnh các yếu tố văn hóa của mình trong quá trình hội nhập cho phù hợp. Tuy nhiên, dân tộc Tày cũng đứng trước nguy cơ mai một ngôn ngữ và tri thức bản địa, sự thương mại hóa di sản, hiện tượng “người Kinh hóa” và mặc cảm tự ti tộc người ở giới trẻ… Để cộng đồng dân tộc Tày giữ vững được cốt cách giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tránh được những nguy cơ mai một, biến đổi, thất truyền; đồng thời, biến tài nguyên di sản văn hóa thành kinh tế di sản góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững ở các địa phương là một quá trình cần có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các địa phương và của cộng đồng dân tộc Tày.

2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tày vùng Đông Bắc

Thứ nhất, công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày vùng Đông Bắc. 

Sức mạnh tinh thần của dân tộc Việt Nam được truyền tải từ nền văn hóa truyền thống. Do vậy, trong tiến trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước luôn có những chủ trương, chính sách phù hợp, kịp thời nhằm ưu tiên, phát triển toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc miền núi, đặc biệt là vấn đề văn hóa. Hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số, từ Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, các đề án bảo tồn phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số của Thủ tướng Chính phủ, như: Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2022 về Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”; Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025; Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số… đã tạo ra hành lang pháp lý và nguồn lực cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Trong đó, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa Tày đều được đặt trong khuôn khổ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời, được cụ thể hóa phù hợp với đặc thù vùng Đông Bắc.

Các tỉnh có đông đồng bào Tày, như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Quảng Ninh đã ban hành kế hoạch, đề án bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nông thôn mới, thực hiện quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Nội dung bảo tồn văn hóa được lồng ghép vào quy hoạch phát triển địa phương, chương trình giảm nghèo bền vững, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Sự chuyển dịch trong phương thức bảo tồn từ tư duy “giữ gìn” nguyên trạng sang kết hợp phát huy giá trị di sản đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại vùng Đông Bắc. Theo đó, các địa phương tích cực thúc đẩy các mô hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại những bản, làng người Tày tiêu biểu. Nhiều điểm đến đã xác lập được thương hiệu di sản và đạt được các danh hiệu quốc tế, tiêu biểu như: Khu bảo tồn làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải (Thái Nguyên), Làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (Lạng Sơn), các bản làng vùng hồ Ba Bể (Bản Pác Ngòi), khu vực Trùng Khánh, Nguyên Bình (Cao Bằng) và các địa bàn trọng điểm tại Tuyên Quang.

Để hiện thực hóa mục tiêu “kinh tế di sản”, hệ thống giải pháp được triển khai đồng bộ thông qua việc hỗ trợ đào tạo kỹ năng làm du lịch cho cộng đồng chủ thể, đẩy mạnh chương trình OCOP gắn liền với các câu chuyện văn hóa từ ẩm thực truyền thống, nghề thủ công và nông nghiệp bản địa. Song song với đó, việc ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, hệ thống truyền thông và chú trọng phát triển nguồn nhân lực tại chỗ đóng vai trò then chốt trong việc biến tài nguyên di sản thành nguồn lực tăng trưởng xanh và bền vững cho khu vực. Cụ thể:

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 1750/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 về việc phê duyệt chương trình phát triển văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 – 2020, với quan điểm phát triển bền vững và bảo tồn được các giá trị văn hóa làng, bản. Với mục tiêu tổng quát: hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người phát triển toàn diện, để văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống của xã hội. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, gắn phát triển du lịch với việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản, bản sắc văn hóa các dân tộc và bảo vệ môi trường.

Nhận thức rõ vai trò của văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững, những năm qua, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với du lịch. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020 – 2025) đã nhấn mạnh giải pháp “gắn kết chặt chẽ phát triển du lịch với bảo tồn và phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc”. Hàng loạt chương trình, đề án trọng điểm đã được triển khai như: Đề án bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tuyên Quang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Đề án phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng giai đoạn 2023-2030; Kế hoạch phát triển du lịch hàng năm và đổi mới tổ chức Lễ hội Thành Tuyên giai đoạn 2023-2025… Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân tỉnh còn ban hành Nghị quyết số 09/2021/NQ-HĐND ngày 20/12/2021 quy định chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh (Dương Thúy Ngọc, 16/7/2025).

Tỉnh ủy Cao Bằng đã ban hành Chương trình số 10-CTr/TU ngày 29/4/2016 về phát triển du lịch giai đoạn 2016 – 2020, trong đó đã chú trọng việc đầu tư, bảo vệ, tôn tạo di tích, danh lam thắng cảnh; bảo tồn và phát triển các lễ hội, các hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề truyền thống… để phục vụ phát triển du lịch; chỉ đạo thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.

Thứ hai, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày vùng Đông Bắc.

(1) Về bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc Tày. Công tác hỗ trợ văn hóa vật thể đối với đồng bào Tày được các tỉnh đặc biệt quan tâm về nhà sàn ở truyền thống, nhà sinh hoạt cộng đồng; hỗ trợ hoạt động, như: nghề truyền thống, trang phục truyền thống, các món ăn truyền thống, hoạt động lao động, sản xuất, như: đan lát, săn bắn, làm ruộng… Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày đang được xây dựng theo xu thế bản thành làng du lịch cộng đồng để đón khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng, dã ngoại và trải nghiệm, tìm hiểu nét văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào. Tiêu biểu như: Dự án bảo tồn làng truyền thống dân tộc Tày, xóm Bản Đông, xã Ôn Lương (Thái Nguyên), Những nếp nhà sàn Tày nguyên bản ở Bản Giuồng (Cao Bằng)… Qua đó, tạo mối quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu gìn giữ bản sắc văn hóa, môi trường cảnh quan, bảo đảm phát triển bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch của các địa phương.

(2) Bảo tồn tiếng Tày, chữ Tày (Nôm Tày). Thông qua việc dạy học, truyền dạy tại các trường học, lớp cộng đồng; khôi phục và gìn giữ nghệ thuật dân gian, phát huy các lễ hội truyền thống, như: lễ hội Lồng Tồng, lễ cúng Then, hát Lượn…; trong đó nổi bật sự kiện “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12/2019. Nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy đã được triển khai, như: tổ chức các lớp truyền dạy Then cho thế hệ trẻ, đưa hát Then vào các chương trình biểu diễn phục vụ du lịch, tổ chức liên hoan nghệ thuật hát Then, đàn Tính với sự tham gia của 15 tỉnh, thành phố vào tháng 11/2024. Bên cạnh đó, Then cũng đang được số hóa và quảng bá rộng rãi trên các nền tảng truyền thông số, tiếp cận với công chúng trẻ.

(3) Về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày gắn với công tác số hóa di sản. Chuyển đổi số trên lĩnh vực văn hóa của đồng bào Tày không đơn thuần là việc đưa công nghệ số vào các hoạt động truyền thống mà còn là sự đổi mới các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức thể hiện qua cách nghĩ, cách làm, sự tương tác, thói quen tương tác với công nghệ số trong công việc và cuộc sống của đồng bào. Hiện nay, các địa phương đã triển khai xây dựng ngân hàng dữ liệu số đa phương tiện số hóa toàn diện các di sản văn hóa Tày, bao gồm: các làn điệu Then – Tính, các nghi lễ Then, kho tàng văn học dân gian (truyện thơ, ca dao, tục ngữ), tri thức y học dân gian và các tư liệu chữ Nôm Tày. Dữ liệu số được lưu trữ dưới nhiều định dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video 3D để phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá. Một số địa phương, như: Thái Nguyên, Cao Bằng đã bước đầu ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) để tái hiện không gian văn hóa Tày. Công nghệ thực ảo có thể giúp tái tạo các bản làng Tày cổ, các lễ hội truyền thống, như: Lồng Tồng, các nghi lễ Then một cách sống động, phục vụ giáo dục, du lịch… Quá trình chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ xây dựng hệ thống du lịch thông minh trên cổng thông tin du lịch (mythainguyen.vn, https://dulichtuyenquang.vn…), ứng dụng du lịch trên thiết bị di động (Cao Bằng Tourism, ThaiNguyenTourism…) phục vụ công tác quảng bá, xúc tiến du lịch thông qua những bài viết, hình ảnh, video clip.

(4) Về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong phát triển kinh tế di sản. Kinh tế di sản là những hoạt động khai thác và phát huy các giá trị của di sản văn hóa và di sản thiên nhiên nhằm tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế, song hành cùng công tác bảo tồn di sản. Các địa phương đã từng bước nhìn nhận như một tài sản văn hóa đặc biệt vừa có giá trị lịch sử, tinh thần, giáo dục, biểu tượng, vừa có khả năng tạo ra sinh kế, việc làm, sản phẩm sáng tạo, thương hiệu địa phương, sức hấp dẫn về du lịch. Các hoạt động truyền thông về Chương trình OCOP được thúc đẩy theo hướng phát triển sinh kế mới cho vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và phụ nữ nông thôn. Mỗi sản phẩm OCOP cần được “kể chuyện” – tích hợp các giá trị văn hóa, lịch sử, triết lý sống của Nhân dân vào sản phẩm, biến mỗi sản phẩm thành một “đại sứ” chuyển tải những câu chuyện văn hóa. Tiêu biểu như xã Nguyên Bình (Cao Bằng) có 12 sản phẩm tiêu biểu đạt OCOP 3 sao, 4 sao, như: Hồng trà, Trà Ô long, lê xanh, mật ong, chiếu trúc, miến dong… Miến dong Tài Hoan của Hợp tác xã Tài Hoan Na Rì (Thái Nguyên) đã xuất khẩu sang thị trường châu Âu nhiều năm qua, gắn liền với vùng nguyên liệu dược liệu đặc trưng, mang đậm giá trị văn hóa địa phương. Bên cạnh đó, việc triển khai quảng bá các mô hình du lịch cộng đồng thông qua các kênh Video Marketing đang đem lại hiệu quả. Các loại Video Marketing, như: Vlog/Vloger, Video phát trực tiếp trên các nền tảng Facebook live, Youtube live, Instagram live, Twitter live… được các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân sử dụng khá đa dạng, phong phú để giới thiệu bản sắc văn hóa làng, bản của dân tộc mình. Mô hình Làng Thái Hải (Thái Nguyên) được UNWTO công nhận là làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2022, được ASEAN công nhận là Điểm đến du lịch cộng đồng ASEAN giai đoạn 2023 -2025 và tiếp tục được vinh danh tại Giải thưởng Du lịch Việt Nam 2025. Mô hình Bản Quyên (Lạng Sơn) với Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn đã vinh dự nhận danh hiệu “Làng du lịch tốt nhất thế giới 2025” do UN Tourism trao tặng. Các bản làng ven hồ Ba Bể (Thái Nguyên), nơi lưu giữ các nét văn hóa, phong tục và ẩm thực đặc trưng của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng cũng là một mô hình tiêu biểu.

3. Một số vấn đề đặt ra

Thứ nhất, hiện tượng ít thực hành các giá trị văn hóa truyền thống đang trở thành xu hướng phổ biến. Dưới sự tác động của các yếu tố công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập, kinh tế thị trường…, đồng bào dân tộc Tày có nhiều cơ hội để tiếp thu các yếu tố tích cực, thuận tiện từ bên ngoài, làm biến đổi các thành tố trong cấu trúc văn hóa truyền thống. Chẳng hạn, thay vì tự dệt vải, may mặc truyền thống, các bộ quần áo truyền thống của đồng bào Tày được may sẵn và bán ở chợ với những hoa văn họa tiết đính kèm rất đẹp và giá cả hợp lý. Những đồ trang sức của đồng bào ngày càng hiếm ở cả người dùng và cách tự tạo trang sức đó. Những món quà có ý nghĩa là “của hồi môn” của các cô dâu về nhà chồng được bố mẹ đẻ và họ hàng trao tặng trong lễ cưới đã được thay thế bằng những trang sức được mua sắm trên thị trường. Đặc biệt đối với không gian văn hóa, nhiều gia đình đồng bào Tày ở các tỉnh vùng Đông Bắc – Bắc Bộ đã thay đổi cách thức xây dựng ngôi nhà sàn bằng các vật liệu hiện đại và có sự cách tân trong kiến trúc, với những vật liệu mới bằng các nguyên liệu thay thế đó là xi măng, sắt thép, ngói, tôn… với những biến đổi cho phù hợp với điều kiện kinh tế, lối sống, nếp sinh hoạt hiện đại. Như vậy, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế làm cho các thế hệ đồng bào ít thực hành các giá trị văn hóa của tộc người mình, đặc biệt với thế hệ trẻ, họ thích tiếp thu những yếu tố mới, mang hơi thở của hiện đại hơn là những yếu tố truyền thống.

Thứ hai, nguy cơ mai một ngôn ngữ và tri thức bản địa. Tiếng Tày đang bị thu hẹp nhanh chóng trong đời sống hằng ngày, đặc biệt, ở giới trẻ và tại các khu vực đô thị. Giao tiếp hiện nay của người Tày đại đa số là sử dụng tiếng Việt, còn một bộ phận nhỏ các gia đình ở nông thôn sử dụng tiếng Tày trong quá trình giao tiếp hằng ngày. Chữ Nôm Tày đang đứng trước nguy cơ thất truyền khi số người biết đọc, biết viết ngày càng ít. Chữ viết của người Tày hiện nay dường như có rất ít người có khả năng biết viết và đọc được, phần đông trong số họ là các thầy Tào, thầy Mo, thầy Then… Các tri thức bản địa về y học dân gian, nông lịch, sinh thái cũng đang bị lãng quên. Việc thực hành những làn điệu dân ca tại các buổi lễ, tết, sinh hoạt cộng đồng tại các bản làng hiện nay cũng ít có cơ hội được thể hiện. Những trò chơi truyền thống, những làn điệu dân ca, đặc biệt là những bài hát ca ngợi tình yêu nam nữ cũng không được thanh thiếu niên vui chơi và ca hát.

Thứ ba, nguy cơ làm biến đổi giá trị nguyên bản, tính xác thực và bản sắc văn hóa trong quá trình số hóa di sản và phát triển kinh tế di sản. Việc số hóa và thương mại hóa di sản có thể vô tình làm biến đổi giá trị nguyên bản, tính xác thực và bản sắc văn hóa của dân tộc Tày. Công nghệ số đóng vai trò là phương tiện làm sáng tỏ, lan tỏa và tôn vinh bản sắc văn hóa, tuy nhiên, công nghệ không thể có sự cân bằng tinh tế như tạo ra giá trị cảm xúc nguyên bản như tham gia trực tiếp trong không gian di tích lịch sử thiêng liêng, lắng nghe tiếng hát Then giữa núi rừng. Việc ứng dụng công nghệ để làm mới hình thức tiếp cận và việc tôn trọng, bảo tồn tính nguyên gốc, ý nghĩa lịch sử, văn hóa sâu sắc của di sản cần đi liền với quy trình thẩm định học thuật và tiêu chuẩn kiểm soát nội dung số. Mặt trái của số hóa công nghệ, phát triển kinh tế di sản có thể làm suy giảm vai trò chủ thể của cộng đồng nghệ nhân; đồng thời, tạo ra nguy cơ “đồng nhất hóa” di sản theo logic thị trường du lịch, ảnh hưởng đến tính xác thực và bền vững của các di sản văn hóa trong môi trường số.

4. Một số giải pháp

Một là, lấy cộng đồng người Tày làm chủ thể của quá trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Các chính sách cần bảo đảm sự tham gia thực chất của cộng đồng, lấy người dân làm trung tâm khâu từ xây dựng, thực hiện đến giám sát và đánh giá. Cần khuyến khích cộng đồng tham gia tích cực vào việc tổ chức, quản lý, khai thác các giá trị văn hóa; tạo điều kiện để thế hệ trẻ tự hào, chủ động học hỏi, kế thừa và sáng tạo dựa trên di sản. Bên cạnh đó, cần tập trung phát huy vai trò của phụ nữ Tày trong việc truyền dạy ngôn ngữ, phong tục và ẩm thực. Phụ nữ Tày đóng vai trò then chốt trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa gia đình, họ là người trực tiếp nuôi dạy con cái, truyền dạy tiếng mẹ đẻ, duy trì các phong tục trong gia đình và là người “giữ lửa” cho ẩm thực truyền thống.

Tiếp tục có các chương trình tôn vinh và hỗ trợ phụ nữ Tày trong vai trò này; đồng thời, tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động bảo tồn văn hóa cộng đồng. Cần hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác do phụ nữ Tày làm chủ, tập trung vào sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống (dệt thổ cẩm, đan lát) và chế biến các sản phẩm ẩm thực đặc sản. Các chương trình OCOP và du lịch cộng đồng cần ưu tiên hỗ trợ các nhóm phụ nữ này về vốn, kỹ thuật, kết nối thị trường và xây dựng thương hiệu.

Hai là, hoàn thiện về thể chế, chính sách và nguồn lực. Các địa phương cần xây dựng các đề án tổng thể và từng lộ trình theo tinh thần của Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ). Để đạt mục tiêu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế gắn với bản sắc văn hóa dân tộc Tày. Trên cơ sở quan điểm đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển lâu dài,các tỉnh vùng Đông Bắc cần điều chỉnh trọng tâm phân bổ nguồn lực theo hướng ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ nền tảng phục vụ lưu trữ, bảo tồn và khai thác dữ liệu di sản. Đa dạng hóa nguồn lực tài chính, như: ngân sách nhà nước, thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp công nghệ thông qua các hình thức hợp tác công – tư. Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao năng lực số thông qua các khóa đào tạo bài bản, thường xuyên về kỹ năng số, sử dụng phần mềm chuyên dụng, kỹ năng phát triển nội dung số cho đội ngũ cán bộ văn hóa, du lịch, bảo tàng và cán bộ cơ sở. Ưu tiên nâng cao năng lực số cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các kỹ năng quản trị dữ liệu, biên tập nội dung số và ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di sản nói chung. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ nghệ nhân và cộng đồng chủ thể di sản tiếp cận công nghệ, tham gia trực tiếp vào quá trình số hóa và truyền dạy di sản trên môi trường số. 

Ba là, tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng và mở rộng hợp tác trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày. Trước hết, cần xây dựng mạng lưới hợp tác bảo tồn văn hóa giữa các tỉnh vùng Đông Bắc với cơ chế phối hợp liên tỉnh về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, bao gồm các hoạt động, như: trao đổi kinh nghiệm, xây dựng các chương trình du lịch liên tỉnh và thống nhất các tiêu chuẩn, quy trình bảo tồn. Tăng cường kết nối với các tổ chức quốc tế như: hợp tác với UNESCO, các quỹ văn hóa quốc tế và các tổ chức phi chính phủ để hỗ trợ các dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số. Ngoài ra, việc học tập kinh nghiệm bảo tồn văn hóa tộc người trên thế giới với những bài học về chính sách, mô hình tổ chức và phương thức truyền dạy có thể được tham khảo và vận dụng phù hợp với bối cảnh vùng. Đây là giải pháp bảo đảm tính tổng thể và đồng bộ của quá trình chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói chung và đối với dân tộc Tày vùng Đông Bắc nói riêng tham gia sâu hơn vào không gian văn hóa số quốc gia và quốc tế.

5. Kết luận

Văn hóa Tày không chỉ là di sản của riêng người Tày mà còn là một phần không thể tách rời của kho tàng văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày chính là giữ gìn sự đa dạng và giàu có của văn hóa dân tộc, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương một cách bền vững. Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Tày đã và đang hiện thực hóa những nét cốt cách, tâm hồn và bản sắc văn hóa tộc người trong điều kiện mới – làm cho văn hóa Tày không chỉ tiếp tục sống, thở mà còn trở thành một nguồn lực quan trọng đồng hành cùng sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đoàn Việt (2012). Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc.Tạp chí Dân tộc học, số 5&6.
Dương Thúy Ngọc (16/7/2025). Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch tại Tuyên Quang. http://truongchinhtritq.edu.vn/n37385_giu-gin-va-phat-huy-ban-sac-van-hoa-dan-toc-thieu-so-gan-voi-phat-trien-du-lich-tai-tuyen-quang
Hoàng Thị Quyết (2018). Văn hóa truyền thống Tày Nùng. Nxb Văn hóa dân tộc.
Nguyễn Thị Nội (2025). Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Tày vùng Đông Bắc – Bắc Bộ. Nxb Đại học Thái Nguyên.
Nguyễn Văng Thắng (2024). Không gian xã hội tộc người: bảo tồn và phát huy giá trị trong bối cảnh mới. Tạp chí Dân tộc học, số 2.
Đào Thu Hà  (13/5/2026). Hội nhập văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc trước yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/13/hoi-nhap-van-hoa-va-bao-ton-ban-sac-dan-toc-truoc-yeu-cau-doi-moi-quan-ly-nha-nuoc-o-viet-nam/
UNESCO (2021). Digitization and digital transformation of heritage. UNESCO Publishing.