Giảng viên trường chính trị cấp tỉnh với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới

Provincial political school lecturers and their mission to safeguard the ideological foundation of the Party in the new development era

ThS. Tạ Ngọc Anh
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội
Email: tangocanhnnpl.lhp@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên phát triển mới, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà trước hết là chủ động củng cố nhận thức, bồi đắp niềm tin và tăng cường sức đề kháng tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Với chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở địa phương, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh giữ vị trí đặc biệt trong quá trình chuyển hóa nền tảng lý luận, đường lối và quan điểm của Đảng thành nhận thức, lập trường và hành động ở cơ sở. Bài viết làm rõ vai trò của đội ngũ này, phân tích những thách thức mới do môi trường truyền thông số, AI, sự biến đổi tâm trạng xã hội và yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đặt ra; đồng thời, đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, chiều sâu lý luận, năng lực thực tiễn, phương pháp giảng dạy và cơ chế bảo đảm để đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

Từ khóa: Giảng viên trường chính trị; nền tảng tư tưởng của Đảng; giáo dục lý luận chính trị; bảo vệ nền tảng tư tưởng; kỷ nguyên phát triển mới.

Abstract: In the new era of development, safeguarding the Party’s ideological foundation is not merely a matter of combating and refuting erroneous and hostile viewpoints; above all, it requires the proactive consolidation of awareness, the cultivation of conviction, and the strengthening of ideological resilience among cadres and Party members. With their mandate to provide training and further education for cadres at the local level, lecturers at provincial political schools occupy a distinctive position in the process of transforming the Party’s theoretical foundation, guidelines, and viewpoints into awareness, stance, and action at the grassroots. This article clarifies the role of this contingent, analyzes the new challenges arising from the digital media environment, artificial intelligence, shifts in social sentiment, and the requirements arising from the organization of two-tier local government, and proposes solutions to enhance political steadfastness, theoretical depth, practical competence, teaching methodologies, and support mechanisms so that lecturers at provincial political schools can effectively fulfill their mission of safeguarding the Party’s ideological foundation under the new conditions.

Keywords: Lecturers of provincial political schools; the Party’s ideological foundation; political theory education; safeguarding the ideological foundation; new era of development.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống chính trị, cái sai không chỉ gây nguy hại khi bộc lộ công khai dưới dạng những luận điệu đối lập trực diện. Nguy hiểm hơn, nó còn len lỏi vào nhận thức bằng những cách giải thích “nửa đúng, nửa sai”, những mảnh thông tin bị cắt khỏi bối cảnh hoặc những bình luận được cảm xúc hóa nhằm dẫn dắt tâm lý xã hội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được nhận thức trước hết như một quá trình chủ động củng cố nhận thức, bồi đắp bản lĩnh và tạo dựng điểm tựa lý luận vững chắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trường chính trị cấp tỉnh không chỉ là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chương trình, kế hoạch mà còn là một thiết chế chính trị – tư tưởng trực tiếp tham gia chuyển hóa đường lối, quan điểm và nền tảng lý luận của Đảng thành nhận thức, lập trường và phương hướng hành động trong đội ngũ cán bộ ở địa phương. Trong thiết chế đó, giảng viên là lực lượng trực tiếp nối liền lý luận với thực tiễn, nghị quyết với tổ chức thực hiện, những nguyên lý có tính chiến lược với các vấn đề cụ thể nảy sinh ở cơ sở.

Bối cảnh chuyển đổi số, sự phát triển nhanh của AI, Big Data, mạng xã hội và công nghệ tạo sinh nội dung làm cho môi trường tư tưởng trở nên phức tạp hơn. Đồng thời, quá trình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đặt ra những yêu cầu mới về phân quyền, phân cấp trách nhiệm công vụ và tâm thế thích ứng của đội ngũ cán bộ. Những biến đổi đó đòi hỏi giảng viên trường chính trị cấp tỉnh phải được nhìn nhận đầy đủ hơn về vị trí, vai trò và được xây dựng ngang tầm với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở.

2. Giảng viên trường chính trị cấp tỉnh – lực lượng tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở

2.1. Từ bục giảng lý luận đến tuyến đầu giữ nền tảng tư tưởng ở cơ sở

Khi đề cập nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cách hiểu phổ biến thường nghiêng về các hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên báo chí và không gian mạng. Cách hiểu đó có cơ sở nhưng mới phản ánh phần nổi. Ở tầng sâu hơn, bảo vệ nền tảng tư tưởng là làm cho cái đúng được hiểu đúng, được tin tưởng và trở thành cơ sở định hướng hành động. Nếu nhận thức của cán bộ, đảng viên không vững, những luận điệu xuyên tạc dù không đối đầu trực diện vẫn có thể từng bước làm xói mòn niềm tin.

Giảng viên trường chính trị cấp tỉnh giữ vị trí đặc biệt trong quá trình này. Họ trực tiếp giảng dạy, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên đang công tác ở cơ sở – lực lượng tổ chức thực hiện chủ trương, tiếp xúc với Nhân dân và xử lý những vấn đề nảy sinh hằng ngày. Một chủ trương đúng muốn đi vào cuộc sống phải được tiếp nhận đúng; một nghị quyết muốn tạo đồng thuận phải được hiểu đúng, tin đúng và vận dụng đúng trong đội ngũ giảng viên.

Vì vậy, nhiệm vụ của giảng viên không chỉ là truyền đạt nội dung chương trình. Mỗi bài giảng còn là một quá trình định hướng nhận thức, củng cố niềm tin, rèn luyện bản lĩnh và hình thành năng lực tư duy lý luận cho người học. Chính từ đặc điểm đó, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh trở thành lực lượng đặc thù, vừa là nhà giáo, vừa là nhà khoa học; đồng thời, là người làm công tác tư tưởng.

2.2. Làm sáng tỏ cái đúng và chuyển hóa lý luận thành sức mạnh tinh thần

Tính tiên phong trên mặt trận tư tưởng không được quyết định bởi việc nói nhiều hơn hay lặp lại cái đúng với tần suất lớn hơn mà trước hết bởi chiều sâu nhận thức, độ chắc của kiến thức, độ vững của bản lĩnh và khả năng chuyển hóa lý luận thành sức thuyết phục. Giảng viên trường chính trị cấp tỉnh giữ vị trí nổi bật ở phương diện này vì họ trực tiếp lý giải những nội dung cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở.

Công việc này đòi hỏi không chỉ sự chính xác về nội dung mà còn năng lực làm sáng tỏ căn nguyên của cái đúng: vì sao Đảng kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vì sao giữ vững nền tảng tư tưởng cũng là giữ vững phương hướng phát triển của đất nước; vì sao độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là lựa chọn có cơ sở lịch sử, lý luận và thực tiễn.

Giảng viên còn phải giúp người học nhận thức rằng, những khó khăn, hạn chế hoặc hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội không làm mất đi tính khoa học và cách mạng của nền tảng tư tưởng mà Đảng đã lựa chọn. Trái lại, những vấn đề đó phải được xem như phép thử của bản lĩnh chính trị, yêu cầu phải kiên định về nguyên tắc nhưng đồng thời thẳng thắn nhìn nhận hạn chế, tìm đúng nguyên nhân và đề xuất cách khắc phục.

Ở tầng sâu hơn, giảng viên không chỉ giúp người học tiếp nhận những kết luận đúng mà còn chuyển hóa các kết luận ấy thành niềm tin có cơ sở. Điều làm cán bộ thực sự gắn bó với lý luận không phải số lượng khái niệm ghi nhớ mà là mức độ họ nhận ra mối liên hệ giữa lý luận với trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ công tác và những áp lực cụ thể đang trực tiếp đối diện.

2.3. Hình thành năng lực nhận diện và sức đề kháng tư tưởng

Trong môi trường truyền thông hiện nay, các quan điểm sai trái không nhất thiết xuất hiện dưới hình thức cực đoan, đối đầu công khai. Chúng thường được mềm hóa bằng những cách diễn đạt tưởng như khách quan, những bình luận tưởng như hợp lý và những mảnh thông tin nửa đúng nửa sai nhưng có khả năng kích động cảm xúc. Từ một hiện tượng riêng lẻ, người tiếp nhận có thể bị dẫn dắt tới một kết luận khái quát; từ một bức xúc cục bộ, họ có thể bị kéo sang sự nghi ngờ đối với nền tảng.

Vì vậy, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh phải giúp người học hình thành năng lực phân biệt đúng – sai, bản chất – hiện tượng, nhất thời – lâu dài, phản biện xây dựng – phủ nhận nền tảng. Đây là yêu cầu cao hơn nhiều so với việc chỉ truyền đạt đúng giáo trình. Người giảng viên phải có khả năng nhận diện ngụy biện, bóc tách bản chất của cách diễn giải lệch lạc và chỉ ra vì sao cái sai có thể hấp dẫn ở bề ngoài nhưng sai ngay từ nền tảng lý luận.

Bục giảng lý luận trong điều kiện mới không chỉ là không gian sư phạm mà còn là một vị trí trực tiếp trên trận tuyến nhận thức. Giáo dục lý luận chỉ thật sự có sức sống khi giúp người học hiểu rõ bản chất những vấn đề đang diễn ra và có khả năng tự đứng vững trước sự xâm nhập ngày càng tinh vi của thông tin sai lệch, xuyên tạc.

2.4. Gắn lý luận với thực tiễn, củng cố niềm tin từ cơ sở

Ưu thế đặc thù của giảng viên trường chính trị cấp tỉnh là sự gắn bó trực tiếp với đời sống chính trị, kinh tế – xã hội và công tác xây dựng Đảng ở địa phương. Họ có điều kiện tiếp cận những vấn đề cụ thể về quản lý nhà nước, phát triển địa phương, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo và đời sống tư tưởng của cán bộ, đảng viên.

Chính vốn thực tiễn đó giúp giảng viên chuyển những nguyên lý chung thành cách lý giải cụ thể, giúp học viên thấy được lý luận không phải là những mệnh đề xa rời đời sống mà là công cụ nhận diện vấn đề, lựa chọn thái độ và xử lý công việc. Khi bài giảng trả lời đúng những băn khoăn thật, vấn đề thật và áp lực thật, niềm tin chính trị được củng cố bằng nhận thức có cơ sở.

Có thể khẳng định, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh không đứng ở vòng ngoài của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà hiện diện ở một tuyến sâu của mặt trận này – nơi cái đúng được chuyển hóa thành niềm tin và niềm tin tiếp tục được chuyển hóa thành hành động chính trị cụ thể.

3. Thực trạng phát huy vai trò của giảng viên trường chính trị cấp tỉnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

3.1. Những kết quả chủ yếu

Thời gian qua, vai trò của đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn và từng bước được cụ thể hóa trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và tham gia đấu tranh tư tưởng. Việc xây dựng trường chính trị chuẩn đã tạo ra khuôn khổ quan trọng để chuẩn hóa đội ngũ, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và tăng cường kỷ luật, kỷ cương, văn hóa Trường Đảng. Đến ngày 03/7/2026, 17 trong tổng số 34 trường chính trị trên cả nước đã được công nhận đạt chuẩn mức 1; một số trường sau sắp xếp đã nhanh chóng ổn định tổ chức, thống nhất mô hình quản trị, tiếp cận các nội dung mới, như: AI, an toàn thông tin và chuyển đổi số (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026a).

Kết quả đó cho thấy, quá trình chuẩn hóa hệ thống trường chính trị không chỉ tập trung vào cơ sở vật chất hay tổ chức bộ máy mà đã tạo động lực nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Trong điều kiện hệ thống được tổ chức lại theo 34 tỉnh, thành phố, yêu cầu đối với giảng viên không còn dừng ở bảo đảm chuẩn chức danh và hoàn thành định mức giảng dạy mà đang chuyển mạnh sang nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, nghiên cứu thực tiễn và tham gia giải quyết những vấn đề chính trị, tư tưởng nảy sinh ở địa phương.

Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các trường chính trị tiếp tục là phương thức cơ bản để giảng viên truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, qua đó, củng cố lập trường, bản lĩnh và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Việc đổi mới nội dung bồi dưỡng đang được triển khai theo hướng cập nhật yêu cầu quản trị địa phương, chuyển đổi số và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tháng 4/2026, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm xây dựng hướng dẫn nội dung các chương trình bồi dưỡng thuộc chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị giai đoạn 2026 – 2030 với sự tham gia của các trường chính trị trong cả nước (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026b).

Việc cập nhật chương trình cho thấy, hoạt động giảng dạy lý luận chính trị đang từng bước được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với những vấn đề mới của thực tiễn. Qua đó, giảng viên có điều kiện đưa vào bài giảng các nội dung về đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị địa phương, phân quyền, phân cấp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Đây là cơ sở để lý luận không chỉ được truyền đạt như hệ thống tri thức có sẵn mà trở thành công cụ giúp học viên nhận diện vấn đề, củng cố lập trường và định hướng hành động.

Công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chuyên môn cũng được quan tâm. Tháng 9/2025, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức khóa bồi dưỡng cho 74 học viên đến từ 34 trường chính trị, gồm phó hiệu trưởng, trưởng khoa và phó trưởng khoa thuộc các lĩnh vực lý luận cơ sở, xây dựng Đảng, nhà nước và pháp luật. Hoạt động này góp phần cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực lãnh đạo chuyên môn và tạo sự thống nhất trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giữa các trường (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2025a).

Bên cạnh giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo và tổng kết thực tiễn ngày càng được gắn với yêu cầu đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Các hội thảo cấp bộ về đổi mới sáng tạo trong đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng hệ sinh thái số cho hệ thống trường chính trị được tổ chức cuối năm 2025 đã tạo diễn đàn để đội ngũ cán bộ, giảng viên trao đổi về phương pháp giảng dạy mới, quản trị dữ liệu, học liệu số và khả năng ứng dụng công nghệ trong giáo dục lý luận chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2025b, 2025c).

Qua các hoạt động đó, một bộ phận giảng viên đã chủ động đổi mới bài giảng, sử dụng tình huống thực tiễn, dữ liệu trực quan, học liệu điện tử và các hình thức tương tác mới. Nghiên cứu khoa học không chỉ phục vụ chuẩn hóa chức danh, mà từng bước hướng tới giải quyết những vấn đề do thực tiễn địa phương đặt ra, cung cấp luận cứ cho cấp ủy, chính quyền và bổ sung chất liệu cho công tác đấu tranh tư tưởng.

Việc tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng được mở rộng từ lớp học sang hoạt động nghiên cứu, viết bài chính luận, hội thảo khoa học và truyền thông trên không gian mạng. Thông qua các cuộc thi chính luận, hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, trang thông tin điện tử và các kênh truyền thông của nhà trường, giảng viên có thêm điều kiện phổ biến thông tin chính thống, nhận diện luận điệu xuyên tạc và định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên. Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, thu hút sự tham gia của đông đảo cán bộ, giảng viên và các cơ quan, địa phương (Tạp chí Cộng sản, 2026).

Nhìn chung, đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh đã từng bước phát huy vai trò trên bốn phương diện: truyền bá và làm sáng tỏ nền tảng lý luận của Đảng; củng cố nhận thức, niềm tin và bản lĩnh chính trị cho cán bộ ở cơ sở; gắn nghiên cứu khoa học với tổng kết thực tiễn địa phương; tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Những kết quả đó góp phần khẳng định giảng viên trường chính trị là một lực lượng quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở.

3.2. Những hạn chế, bất cập

(1) Hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng ở một bộ phận giảng viên còn chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều giảng viên có kiến thức lý luận và kinh nghiệm giảng dạy nhưng chưa thành thạo kỹ năng kiểm chứng thông tin số, nhận diện nội dung do AI tạo sinh, xây dựng thông điệp ngắn hoặc sản xuất sản phẩm truyền thông phù hợp với từng nhóm công chúng. Trong khi các nội dung xuyên tạc thường ngắn, nhanh và giàu cảm xúc, một số sản phẩm đấu tranh chính thống vẫn dài, chậm và thiên về diễn giải, nên khả năng tiếp cận và lan tỏa còn hạn chế.

(2) Sự phối hợp giữa giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tham gia đấu tranh tư tưởng có nơi chưa thật sự chặt chẽ. Một số công trình nghiên cứu chưa được chuyển hóa thành nội dung bài giảng hoặc sản phẩm truyền thông; ngược lại, những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong lớp học và tại cơ sở chưa được hệ thống hóa thành đề tài nghiên cứu, báo cáo kiến nghị hoặc luận cứ phục vụ cấp ủy. Điều này làm cho ba hoạt động vốn có quan hệ bổ trợ là giảng dạy, nghiên cứu và đấu tranh tư tưởng chưa tạo thành một chu trình thống nhất.

(3) Cơ chế đánh giá giảng viên cũng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đánh giá thường dựa nhiều vào số giờ giảng, số lớp, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ và số lượng sản phẩm khoa học; trong khi sức thuyết phục của bài giảng, khả năng xử lý những điểm nghẽn trong nhận thức của học viên, chất lượng sản phẩm chính luận và đóng góp đối với công tác tư tưởng ở địa phương chưa có tiêu chí đo lường cụ thể. Vì vậy, động lực đầu tư cho những hoạt động khó lượng hóa nhưng có ý nghĩa chính trị trực tiếp chưa thật sự mạnh.

4. Những thách thức mới trên trận tuyến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, biến đổi nhanh của môi trường tư tưởng, truyền thông và tâm trạng xã hội.

Cán bộ, đảng viên ở cơ sở hiện không tiếp nhận lý luận trong một không gian thông tin chậm, tương đối khép kín và dễ định hướng như trước. Họ đồng thời chịu tác động của báo chí chính thống, mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới, các bình luận cảm tính, dữ liệu bị cắt ghép và những nội dung được thuật toán phân phối theo sở thích, cảm xúc.

Sự phát triển của AI và công nghệ tạo sinh làm cho thông tin giả, hình ảnh, âm thanh, video ngụy tạo ngày càng khó nhận biết. Môi trường số tạo cơ hội lớn cho đổi mới giáo dục lý luận, nhưng cũng khiến thông tin sai lệch lan truyền nhanh, tinh vi và khó kiểm chứng hơn. Điều này buộc giảng viên không thể chỉ chắc giáo trình mà còn phải có năng lực phân tích dữ liệu, kiểm chứng nguồn, nhận diện thao túng cảm xúc và giải thích các vấn đề mới.

Hai là, yêu cầu mới từ tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và thực tiễn phát triển.

Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đặt ra những yêu cầu tư tưởng mới rất cụ thể. Đây không chỉ là sự điều chỉnh bộ máy mà còn là thay đổi về phương thức quản trị, quan hệ phân cấp, phân quyền, trách nhiệm thực thi công vụ và tâm thế của đội ngũ cán bộ. Mọi thay đổi tổ chức đều kéo theo kỳ vọng, băn khoăn, áp lực thích ứng và những vấn đề về vị trí việc làm, trách nhiệm, năng lực.

Nếu các vấn đề đó không được giải thích đúng về bản chất, đầy đủ về cơ sở chính trị – pháp lý và thấu đáo về ý nghĩa thực tiễn có thể phát sinh tâm lý so bì, hoài nghi hoặc bị các luận điệu xuyên tạc lợi dụng. Vì vậy, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh phải kịp thời cập nhật những nội dung mới, giúp học viên hiểu rõ mục tiêu của cải cách và giữ vững tâm thế chính trị trong quá trình chuyển đổi.

Đồng thời, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và nâng cao hiệu lực quản trị địa phương cũng đặt ra những câu hỏi lý luận – thực tiễn mới. Người giảng viên phải đủ năng lực lý giải những vấn đề đó trong mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc và đổi mới sáng tạo.

Ba là, độ vênh giữa yêu cầu định hướng nhận thức và chất lượng giảng dạy.

Chất lượng giảng dạy lý luận ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu định hướng nhận thức từ chiều sâu. Có bài giảng bám sát chương trình, chính xác về kiến thức và chỉn chu về hình thức nhưng chưa đi tới phần quan trọng nhất: làm cho người học hiểu vì sao điều được giảng là đúng, đúng trong bối cảnh nào và có ý nghĩa gì đối với những vấn đề họ đang trực tiếp đối diện.

Khi bài giảng chủ yếu dừng ở trình bày khái niệm, luận điểm, kết luận mà chưa bóc tách ngụy biện, chưa phân biệt hiện tượng với bản chất, lý luận dễ bị tiếp nhận như nội dung phải học để hoàn thành chương trình hơn là điểm tựa nhận thức. Độ trễ ở đây không chỉ là chậm thông tin mà sâu hơn là chậm nắm bắt tâm trạng, chậm giải thích và chậm định hướng.

Cán bộ ở cơ sở không chỉ cần nghe lại những kết luận đúng. Họ cần được soi sáng để hiểu vì sao phải kiên định khi thực tiễn xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp; vì sao có hiện tượng tiêu cực nhưng không thể từ đó phủ nhận bản chất của chế độ; vì sao phản biện xây dựng khác với xuyên tạc chống phá. Nếu bài giảng chưa đi tới những câu hỏi ấy, khoảng cách giữa lý luận với đời sống vẫn còn và chính khoảng cách đó là nơi cái sai dễ len vào.

Bốn là, chức năng chính trị của hoạt động giảng dạy chưa được đặt đúng tầm.

Ở một số nơi, hoạt động giảng dạy lý luận vẫn được nhìn chủ yếu như công việc truyền đạt tri thức trong quy trình đào tạo, bồi dưỡng. Khi cách nhìn còn như vậy, kết quả thường được đo bằng số tiết, số lớp, mức độ hoàn thành chương trình và quy trình chuyên môn. Những tiêu chí đó cần thiết nhưng chưa phản ánh được chiều sâu chính trị của hoạt động giảng dạy trong điều kiện mới.

Điều quyết định không chỉ là đã truyền đạt đủ nội dung hay chưa mà là lý luận có thật sự đi vào nhận thức người học, bài giảng có giúp họ phân biệt đúng – sai, phản biện xây dựng – phủ nhận nền tảng hay không. Nếu chức năng chính trị chưa được nhận thức đầy đủ, giảng viên dễ bị nhìn như người thực hiện chương trình hơn là chủ thể trực tiếp giữ nền tư tưởng ở cơ sở. Do đó, cần tái định vị hoạt động giảng dạy lý luận chính trị như một nhiệm vụ chính trị trực tiếp trên trận tuyến nhận thức, chứ không chỉ là hoạt động chuyên môn theo nghĩa hẹp.

Năm là, điều kiện bảo đảm chưa tương xứng với tầm nhiệm vụ.

Không thể yêu cầu giảng viên vừa giảng dạy tốt, vừa nắm chắc tình hình tư tưởng, vừa theo kịp môi trường số, vừa nhận diện và bóc tách các dạng xuyên tạc mới nếu họ không được cập nhật tài liệu kịp thời, đi thực tế thường xuyên, bồi dưỡng kỹ năng số và tham gia trao đổi học thuật nghiêm túc.

Cơ chế đánh giá ở một số nơi vẫn nặng về số tiết, số lớp, số sản phẩm, trong khi sức thuyết phục của bài giảng, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn nhận thức và đóng góp thực tế đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng chưa được coi trọng tương xứng. Khoảng cách giữa tầm nhiệm vụ với cơ chế xây dựng, bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng đội ngũ là một trở ngại lớn.

5. Xây dựng đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh ngang tầm sứ mệnh trong điều kiện mới

Thứ nhất, nâng cao ý thức chính trị và trách nhiệm nghề nghiệp.

Phát huy trách nhiệm chính trị trước hết phải bắt đầu từ sự tự ý thức đầy đủ của chính đội ngũ giảng viên về vị trí, vai trò và tính chất công việc mình đang đảm nhiệm. Nếu người giảng viên chỉ nhìn hoạt động của mình như một phần việc chuyên môn trong quy trình đào tạo, họ khó tự đặt mình trước yêu cầu cao hơn của nhiệm vụ giữ nền tư tưởng từ cơ sở.

Sự tự ý thức đó phải chuyển hóa thành thái độ nghề nghiệp cụ thể trong từng khâu. Người giảng viên không thể tự bằng lòng với việc giảng đúng nội dung, mà phải làm cho người học hiểu đúng, tin đúng và có khả năng tự bảo vệ trước cái sai. Mỗi chuyên đề cần được chuẩn bị từ những câu hỏi: người học đang băn khoăn ở đâu, đang vướng mắc điều gì, lý luận có thể giúp họ giải quyết vấn đề như thế nào.

Khi trách nhiệm chính trị trở thành yêu cầu nội tại của lao động giảng dạy, mỗi giờ học sẽ không chỉ hướng tới hoàn thành chương trình mà còn tạo ra chuyển biến thực chất trong nhận thức, lập trường và phương pháp tư duy của người học.

Thứ hai, nâng cao bản lĩnh chính trị, chiều sâu lý luận và năng lực đối thoại với thực tiễn.

Giảng viên không thể chỉ dừng ở nắm giáo trình, thuộc tài liệu hay bám văn kiện theo lối lặp lại, mà phải hiểu sâu nội hàm, mạch logic của vấn đề và mối liên hệ giữa nguyên lý lớn với đời sống cụ thể. Nếu bản thân người giảng viên chưa đi tới tận cùng cái đúng, chưa tự giải quyết được những băn khoăn mà thực tiễn đặt ra, rất khó giúp người khác đứng vững trước cái sai.

Chiều sâu lý luận chỉ phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực định hướng. Người giảng viên phải làm cho học viên hiểu vì sao điều được giảng là đúng, đúng trong bối cảnh nào và soi sáng thế nào đối với công việc ở cơ sở. Định hướng tư tưởng không phải chỉ là bổ sung một vài ví dụ thời sự, mà là giúp người học phân biệt bản chất với hiện tượng, hạn chế cục bộ với bản chất chế độ, đổi mới sáng tạo với rời bỏ nguyên tắc.

Thứ ba, bám sát cơ sở, tăng cường nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn.

Hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn cần tập trung vào những vấn đề mới nảy sinh trên địa bàn, những biểu hiện lệch chuẩn trong nhận thức, những thủ đoạn xuyên tạc trên không gian mạng và các tình huống tư tưởng mà cán bộ đang đối diện. Những chất liệu ấy cần được đưa vào bài giảng có chọn lọc để lý luận không đứng ngoài đời sống.

Cần tổ chức các nhóm nghiên cứu, diễn đàn học thuật, tọa đàm định kỳ giữa trường chính trị với cơ quan tuyên giáo, báo chí, cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị cơ sở. Qua đó, giảng viên vừa cập nhật thông tin, vừa kiểm chứng cách lý giải, vừa hình thành các sản phẩm có giá trị trực tiếp đối với giảng dạy và đấu tranh tư tưởng.

Thứ tư, đổi mới phương pháp giảng dạy và phương thức đấu tranh tư tưởng.

Đổi mới phương thức đào tạo, phương pháp giảng dạy từ truyền thụ một chiều sang mô hình “Giảng viên – học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới”, phát huy tư duy phản biện, ứng dụng thực tiễn và chuyển đổi số; tổ chức đối thoại, xử lý tình huống, tranh luận có định hướng và giải quyết vấn đề. Bài giảng phải tạo điều kiện để người học tự phân tích luận điểm, nhận diện ngụy biện, đối chiếu thông tin và vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác.

Giảng viên cần chủ động sử dụng tình huống thực tế, dữ liệu trực quan, sản phẩm truyền thông số và các trường hợp điển hình để tăng sức thuyết phục. Tuy nhiên, đổi mới phương pháp không đồng nghĩa với chạy theo hình thức. Mọi công cụ chỉ có ý nghĩa khi phục vụ việc làm rõ bản chất, củng cố niềm tin và nâng cao năng lực tư duy của người học.

Đồng thời, giảng viên phải tham gia tích cực hơn vào đấu tranh phản bác quan điểm sai trái bằng các bài viết, chuyên đề, sản phẩm số và hoạt động truyền thông phù hợp. Sự tham gia đó cần bảo đảm tính khoa học, tính chiến đấu, tính thuyết phục và gần với những vấn đề cán bộ, Nhân dân quan tâm.

Thứ năm, nêu gương về tư tưởng, đạo đức và phong cách.

Nêu gương không chỉ là chuẩn mực đạo đức, mà còn là sự nghiêm túc trong tư duy khoa học, cẩn trọng trong phát ngôn, dám đi vào vấn đề khó, trách nhiệm với chân lý và sự thống nhất giữa điều mình giảng với cách mình sống, làm việc, ứng xử. Khi có sự thống nhất đó, bài giảng có thêm chiều sâu của sự chân thực và lời nói có thêm trọng lượng của uy tín chính trị, khoa học.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng đội ngũ.

Phát huy trách nhiệm chính trị không thể chỉ trông đợi vào nỗ lực tự thân của từng cá nhân, mà phải được bảo đảm bằng cơ chế tổ chức đồng bộ. Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên về lý luận, thực tiễn địa phương, kỹ năng truyền thông số, kiểm chứng thông tin, nhận diện nội dung ngụy tạo và xử lý tình huống tư tưởng.

Cơ chế đánh giá giảng viên phải chuyển từ nặng về số lượng sang coi trọng chất lượng và hiệu quả tác động. Bên cạnh số giờ giảng, số lớp và sản phẩm khoa học, cần đánh giá khả năng cập nhật thực tiễn, sức thuyết phục của bài giảng, mức độ tháo gỡ vướng mắc nhận thức cho học viên và đóng góp đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng ở địa phương.

Cần có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng những giảng viên có năng lực nghiên cứu, phản biện, truyền thông và xử lý vấn đề tư tưởng; đồng thời xây dựng mạng lưới phối hợp giữa trường chính trị với các lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đầu tư cho đội ngũ này phải được nhìn nhận là đầu tư cho một lực lượng giữ nền tư tưởng ở địa phương, không chỉ là đầu tư cho một bộ phận giảng dạy.

7. Kết luận

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở xét đến cùng là làm cho lý luận trở thành nhận thức đúng, niềm tin vững và hành động đúng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ở điểm chuyển hóa có ý nghĩa quyết định đó, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Trước những biến đổi nhanh của môi trường tư tưởng, truyền thông số, AI, yêu cầu phát triển đất nước và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đội ngũ giảng viên phải được xây dựng theo hướng vững vàng về bản lĩnh, sâu sắc về lý luận, am hiểu thực tiễn, hiện đại về phương pháp và sắc bén trong định hướng nhận thức.

Xây dựng đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh ngang tầm sứ mệnh không chỉ là nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà còn là củng cố một tuyến phòng thủ tư tưởng quan trọng của Đảng ở địa phương. Khi đội ngũ này đủ bản lĩnh, năng lực và điều kiện hoạt động, nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được bảo vệ từ nơi các vấn đề tư tưởng nảy sinh trực tiếp nhất – trong nhận thức, niềm tin và hành động của cán bộ ở cơ sở.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quyết định số 393-QĐ/TW ngày 5/1/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị.