Leveraging the value of Vietnam’s UNESCO-recognized world cultural heritage to enhance comprehensive national strength in the new era
TS. Đặng Thị Minh Phương
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Email: phuongdm@huc.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bài viết làm rõ vai trò của các di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận; thực trạng phát huy di sản văn hóa thế giới được UNESCO thời gian vừa qua; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận để nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Di sản văn hóa thế giới; Việt Nam; UNESCO; kỷ nguyên mới.
Abstract: Promoting the value of Vietnam’s UNESCO-recognized world cultural heritage plays an important role in building and firmly protecting the socialist Fatherland of Vietnam. The article clarifies the role of Vietnam’s UNESCO-recognized world cultural heritage and its current promotion status. On that basis, it proposes some basic solutions to promote the value of Vietnam’s world cultural heritage recognized by UNESCO and enhance the country’s comprehensive strength in the new era.
Keywords: World Cultural Heritage; Vietnam; UNESCO; new era.
1. Mở đầu
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Đảng đã chỉ rõ: “Phát huy giá trị di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia”. Vì vậy, việc phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận không chỉ có ý nghĩa đối với nhân loại mà còn mở ra cơ hội quảng bá hình ảnh đất nước, khẳng định bản sắc, gia tăng vị thế và nâng cao khả năng hội nhập với cộng đồng quốc tế. Phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam được UNESCO công nhận không thể dừng lại ở việc bảo tồn những gì đã có, mà phải hướng tới chuyển hóa những giá trị văn hóa của quá khứ thành nguồn lực cho hiện tại và động lực cho tương lai, qua đó tạo nên sự thống nhất giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới.
2. Vai trò của việc phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tính đến hết năm 2025, Việt Nam có 9 di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhân, bao gồm: Vịnh Hạ Long – quần đảo Cát Bà (năm 1994); khu di tích Chăm Mỹ Sơn (năm 1999); đô thị cổ Hội An (năm 1999); khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội (năm 2010); thành Nhà Hồ (năm 2011); quần thể di tích Cố đô Huế (năm 1993); quần thể danh thắng Tràng An (năm 2014); vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (năm 2015); quần thể di tích và cảnh quan Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn – Kiếp Bạc (năm 2025) (Minh Nhật, 2025).
Một là, việc phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận góp phần củng cố bản sắc dân tộc, bồi đắp sức mạnh tinh thần và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước.
Di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận là sự kết tinh của lịch sử, ký ức cộng đồng, trí tuệ, tâm hồn và sức sáng tạo của các thế hệ trong quá trình dựng nước và giữ nước. Bởi vậy, giá trị của di sản không chỉ nằm ở những công trình, địa điểm, tập quán hay hình thức văn hóa được lưu giữ, mà sâu xa hơn là ở hệ giá trị tinh thần và những chuẩn mực văn hóa, đạo lý, lối sống, cách ứng xử với con người, cộng đồng và tự nhiên được kết tinh, trao truyền qua thời gian. Khi được nhận thức đúng đắn, được bảo tồn có trách nhiệm và được phát huy phù hợp với đời sống hiện đại, di sản trở thành một phương thức quan trọng để dân tộc nhận diện chính mình, hiểu sâu hơn về cội nguồn và củng cố ý thức về bản sắc.
Phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận chính là một phương thức quan trọng để biến chiều sâu văn hóa của dân tộc thành chiều cao của khát vọng phát triển; biến ký ức lịch sử thành sức mạnh hiện tại; biến niềm tự hào về quá khứ thành ý chí tự lực, tự cường và năng lực kiến tạo tương lai. Khi những giá trị ấy được thẩm thấu vào con người, cộng đồng và đời sống xã hội, di sản sẽ vượt ra khỏi giới hạn của một “tài sản văn hóa” để trở thành nguồn lực tinh thần, sức mạnh nội sinh và một bộ phận cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, góp phần tạo nên thế và lực mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững của đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Hai là, việc phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận góp phần nâng cao sức mạnh mềm, quảng bá hình ảnh và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khoa học – công nghệ mà còn ngày càng phụ thuộc vào sức hấp dẫn văn hóa, khả năng tạo dựng niềm tin và mức độ lan tỏa hình ảnh quốc gia. Với Việt Nam, các di sản văn hóa thế giới được UNESCO ghi danh là những giá trị có sức lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, trở thành những “đại sứ văn hóa” tự nhiên, góp phần giới thiệu với cộng đồng quốc tế về lịch sử, bản sắc, trí tuệ và sức sáng tạo của dân tộc. Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng toàn diện, di sản có thể tạo ra “lợi thế mềm” mà nhiều nguồn lực vật chất không thể thay thế.
Một nền văn hóa giàu bản sắc, có chiều sâu lịch sử và được quốc tế ghi nhận sẽ làm gia tăng sức hấp dẫn của Việt Nam đối với du khách, nhà đầu tư, các đối tác quốc tế và cộng đồng người Việt ở nước ngoài. “Bản sắc là gốc, hội nhập là cành. Bản sắc giúp chúng ta đứng vững và trường tồn; hội nhập giúp chúng ta nở hoa kết trái và lan tỏa. Bảo tồn và phát triển bổ sung cho nhau trong một thực thể hữu cơ sống động” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026).
Ba là, phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận góp phần chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực kinh tế, xã hội, tạo động lực cho phát triển bền vững.
Di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận không chỉ là “ký ức sống” của dân tộc mà còn là một dạng nguồn lực đặc biệt có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế, xã hội và con người nếu được bảo tồn, khai thác và phát huy đúng hướng. Trong điều kiện phát triển mới, yêu cầu đặt ra không phải là lựa chọn giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế, mà là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, biến giá trị văn hóa thành nguồn lực, đồng thời sử dụng thành quả phát triển để tái tạo và làm giàu sức sống của di sản.
Phát huy di sản có thể tạo ra chuỗi giá trị liên kết giữa văn hóa – con người – kinh tế – xã hội. Giá trị lịch sử, nghệ thuật và bản sắc của di sản tạo sức hấp dẫn cho du lịch; du lịch mở rộng thị trường cho các sản phẩm văn hóa, thủ công truyền thống và công nghiệp sáng tạo; những hoạt động đó tạo việc làm, sinh kế và thu nhập cho cộng đồng; còn sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng lại tạo động lực để người dân chủ động bảo vệ, trao truyền và phát huy di sản. Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm của quốc gia (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 2026).
3. Thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận trong thời gian vừa qua
Trong thời gian vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, giá trị các di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày càng được phát huy, từng bước trở thành nguồn lực quan trọng góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Các bộ, ban, ngành từ trung ương đến địa phương nhận thức rõ hơn về giá trị chiến lược của di sản văn hóa và từng bước chuyển từ tư duy bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy giá trị, phát triển cộng đồng và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm 2024 và cao hơn 17,8% so với năm 2019; đồng thời đón khoảng 137 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng (Trung tâm Thông tin Du lịch, 2026). Những số liệu trên cho thấy giá trị di sản văn hóa thế giới của Việt Nam đang ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái du lịch và kinh tế dịch vụ, qua đó tạo thêm nguồn lực vật chất cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Đặc biệt, việc UNESCO ghi danh Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc năm 2025 đã làm nổi bật một giá trị không chỉ của lịch sử Việt Nam mà còn của Trúc Lâm Phật giáo – một hệ thống tư tưởng, tinh thần và văn hóa có sức sống lâu dài, được UNESCO đánh giá là một đóng góp đặc sắc và bền vững cho di sản văn hóa và tinh thần của nhân loại (The World Heritage Committee, 2025). Phát huy di sản ở Việt Nam đã từng bước chuyển từ mô hình “nhà nước bảo tồn, người dân thụ hưởng” sang coi cộng đồng là chủ thể tham gia bảo tồn và hưởng lợi từ di sản. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt, bởi di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi nó còn gắn với đời sống của cộng đồng đã sáng tạo, gìn giữ và trao truyền.
Giá trị của di sản đang từng bước được chuyển hóa theo nhiều chiều: từ giá trị lịch sử thành giá trị giáo dục; từ giá trị văn hóa thành sức mạnh tinh thần; từ sức hấp dẫn văn hóa thành sức mạnh mềm; từ giá trị di sản thành nguồn lực kinh tế; từ sự tham gia của cộng đồng thành sức mạnh xã hội. Chính sự cộng hưởng đó khiến di sản không còn là “phần ký ức đứng yên” của dân tộc mà trở thành nguồn lực sống động của hiện tại và động lực kiến tạo tương lai. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đánh giá: “Các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, sức mạnh mềm của quốc gia.”
Bên cạnh kết quả đạt được, phát huy giá trị di sản văn hoá thế giới Việt Nam được UNESCO công nhận còn một số hạn chế: Nhận thức và phương thức phát huy di sản ở một số nơi chưa thật sự theo kịp yêu cầu phát triển mới, còn thiên về bảo tồn hành chính, khai thác du lịch đơn thuần, chưa phát huy đầy đủ giá trị văn hóa, giáo dục, sáng tạo và sức mạnh mềm của di sản. Sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển kinh tế – xã hội chưa thật sự hài hòa; có nơi còn biểu hiện thương mại hóa, khai thác quá mức hoặc thiếu chiều sâu, trong khi nguồn lực đầu tư cho bảo tồn, tu bổ và quản trị di sản còn hạn chế. Vai trò của chủ thể cộng đồng chưa được phát huy đầy đủ; lợi ích từ di sản chưa được phân bổ hài hòa. Bên cạnh đó, công tác quảng bá quốc tế, chuyển đổi số và đổi mới phương thức truyền thông về di sản còn chưa tương xứng với tiềm năng, nên sức lan tỏa và khả năng chuyển hóa giá trị di sản thành sức mạnh mềm, nguồn lực phát triển và sức mạnh tổng hợp quốc gia vẫn còn dư địa rất lớn.
4. Một số giải pháp
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Đảng đã xác định: “Xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước… theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hoá, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại (Bộ Chính trị, 2026).
Một là, đổi mới nhận thức, hoàn thiện cơ chế, chính sách và phương thức quản trị nhằm phát huy toàn diện các giá trị di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành, cộng đồng và toàn xã hội về vị trí của di sản văn hóa UNESCO như một nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và bộ phận cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, khắc phục tư duy coi bảo tồn di sản chủ yếu là nhiệm vụ của ngành văn hóa hoặc chỉ nhằm gìn giữ những giá trị của quá khứ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hoá, bảo đảm văn hóa phát triển xứng đáng với vị trí, vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng để phát triển đất nước” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 2026).
Trên cơ sở đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng tích hợp mục tiêu bảo tồn và phát huy di sản vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, du lịch, đô thị, giáo dục, khoa học – công nghệ, đối ngoại và công nghiệp văn hóa. Không nên xây dựng chính sách về di sản theo cách biệt lập, mà phải hình thành cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và đa chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và bảo đảm pháp lý; các địa phương là chủ thể tổ chức thực hiện; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia đầu tư, sáng tạo, khai thác và hưởng lợi. UNESCO cũng khuyến nghị các quốc gia đưa các nguyên tắc phát triển bền vững vào chính sách và chương trình ở cấp quốc gia, khu vực và tại từng di sản, đồng thời tăng cường năng lực cho các cơ quan, chuyên gia và cộng đồng trong công tác quản lý di sản.
Đổi mới phương thức đánh giá giá trị và hiệu quả trong việc phát huy di sản. Nếu chỉ đánh giá bằng số lượt khách, doanh thu du lịch hoặc số công trình được tu bổ thì chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của di sản đối với sức mạnh quốc gia. Cần xây dựng hệ thống tiêu chí đa chiều, bao gồm: mức độ bảo tồn giá trị nổi bật toàn cầu; khả năng giáo dục lịch sử, văn hóa và hình thành nhân cách; mức độ tham gia và hưởng lợi của cộng đồng; đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương; sức lan tỏa trong quảng bá hình ảnh quốc gia; khả năng kết nối với công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa tư liệu, hiện vật và không gian di sản; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường và nền tảng số để mở rộng khả năng tiếp cận di sản, nhất là đối với thế hệ trẻ và công chúng quốc tế.
Hai là, đẩy mạnh chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, sức mạnh mềm và động lực nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Đây là giải pháp có vai trò đặc biệt quan trọng không khai thác di sản để lấy lợi ích trước mắt, mà phải phát huy di sản để tạo ra năng lực phát triển lâu dài; không biến di sản thành hàng hóa đơn thuần, mà biến những giá trị độc đáo của di sản thành giá trị sáng tạo, giá trị kinh tế, giá trị xã hội và giá trị quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Bảo tồn văn hoá trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan toả và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hoá và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 2026).
Với tinh thần đó, xây dựng hệ sinh thái kinh tế di sản, trong đó du lịch văn hóa giữ vai trò quan trọng; phát triển các sản phẩm du lịch có chiều sâu về lịch sử, văn hóa và trải nghiệm; đồng thời kết nối di sản với các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo như: điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn, sản phẩm thủ công và nội dung số. Mỗi di sản cần được nhận diện như một “hệ sinh thái giá trị” với những lợi thế riêng, từ đó xây dựng sản phẩm đặc thù thay vì khai thác theo mô hình đại trà; đặc biệt chú trọng bảo đảm cộng đồng là chủ thể và là đối tượng trực tiếp hưởng lợi từ quá trình phát huy di sản. Nếu người dân chỉ đứng ngoài hoạt động khai thác di sản, lợi ích kinh tế tập trung vào một số chủ thể, thì rất khó hình thành động lực xã hội lâu dài cho việc bảo tồn.
Ngược lại, khi cộng đồng có sinh kế, thu nhập và cơ hội phát triển từ di sản, họ sẽ có thêm động lực để bảo vệ không gian văn hóa, trao truyền tri thức và duy trì các giá trị truyền thống. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và các hộ dân địa phương phát triển sản phẩm dựa trên di sản, đồng thời khuyến khích các mô hình hợp tác công – tư – cộng đồng trong việc bảo tồn và khai thác các di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận.
Chủ động đưa di sản vào các hoạt động ngoại giao văn hóa, giao lưu nhân dân, xúc tiến du lịch, quảng bá thương hiệu quốc gia và hợp tác quốc tế. Mỗi di sản cần được xây dựng thành một câu chuyện có khả năng truyền tải những giá trị đặc sắc của Việt Nam: lịch sử dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu chuộng hòa bình, khả năng thích ứng, sức sáng tạo, lòng nhân ái và bản lĩnh văn hóa của dân tộc.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần tạo bước đột phá trong số hóa và truyền thông số về di sản. Xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất; số hóa tư liệu, hiện vật và không gian di sản; phát triển bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, công nghệ thực tế ảo và thực tế tăng cường; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thuyết minh, nghiên cứu và quảng bá di sản. Do đó, cần kiểm soát chặt chẽ tình trạng thương mại hóa, xây dựng và khai thác quá mức; đánh giá sức chứa du lịch; bảo vệ cảnh quan, môi trường và không gian văn hóa; đồng thời thường xuyên đánh giá tác động của các hoạt động phát triển đối với tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của di sản.
Ba là, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường quảng bá quốc tế nhằm nâng cao sức lan tỏa của các di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác định: “Phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên” (Bộ Chính trị, 2026). Theo đó, cần xây dựng mạng lưới các chủ thể xã hội tham gia bảo tồn và phát huy di sản, chú trọng nghệ nhân, nhà nghiên cứu, người thực hành văn hóa, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thế hệ trẻ.
Đặc biệt, cần quan tâm đến việc truyền dạy tri thức, kỹ năng và giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ, bởi nếu di sản chỉ được bảo tồn bằng hiện vật mà không được tiếp nối trong con người thì di sản sẽ dần mất đi sức sống. Phát huy di sản vì thế phải gắn với giáo dục lịch sử, văn hóa, lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân; đưa các giá trị di sản vào trường học, hoạt động trải nghiệm, các chương trình sáng tạo của thanh niên; đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn, quản lý và quảng bá di sản; số hóa hồ sơ, tư liệu, hiện vật, kiến trúc và không gian văn hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu số về các di sản UNESCO có khả năng liên thông, chia sẻ và cập nhật; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), bản đồ số và công nghệ 3D để tái hiện, nghiên cứu và giới thiệu di sản.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức truyền thông và quảng bá di sản trên không gian số, nhất là trên các nền tảng mạng xã hội. Thay vì chỉ cung cấp thông tin mang tính giới thiệu, cần kể những câu chuyện hấp dẫn về con người, lịch sử, ký ức và giá trị của từng di sản bằng hình thức trực quan, ngắn gọn, đa ngôn ngữ và phù hợp với từng nhóm công chúng. Phát triển các sản phẩm video ngắn, podcast, phim tài liệu, đồ họa thông tin, triển lãm số, trải nghiệm thực tế ảo và các nội dung sáng tạo nhằm đưa di sản đến gần hơn với giới trẻ và công chúng quốc tế.
Gắn phát huy di sản với ngoại giao văn hóa và quảng bá thương hiệu quốc gia. Mỗi di sản UNESCO cần được xem như một “đại sứ văn hóa”, qua đó truyền tải ra thế giới những giá trị đặc sắc của Việt Nam về lịch sử, con người, hòa bình, lòng nhân ái, sức sáng tạo và khả năng thích nghi.
Hoạt động quảng bá cần được thực hiện có chiến lược, thống nhất thông điệp và gắn với các sự kiện quốc tế, các diễn đàn đa phương, hoạt động ngoại giao, xúc tiến đầu tư, du lịch và giao lưu nhân dân. Cần hình thành cơ chế đo lường sức lan tỏa và hiệu quả xã hội của di sản, không chỉ thông qua số lượt khách hay doanh thu, mà còn thông qua mức độ nhận diện quốc tế, tương tác trên nền tảng số, mức độ tham gia của cộng đồng, hiệu quả giáo dục, khả năng tạo sinh kế và đóng góp vào hình ảnh quốc gia. Trên cơ sở dữ liệu đó, từng bước điều chỉnh phương thức quản trị, truyền thông và khai thác di sản cho phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ.
5. Kết luận
Di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận không chỉ là những giá trị được kết tinh từ lịch sử mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Giá trị của di sản chỉ thực sự được phát huy khi được bảo tồn trong tính nguyên gốc, được trao truyền trong đời sống cộng đồng và chuyển hóa thành nguồn lực cho phát triển. Vì vậy, cần thống nhất biện chứng giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống và hiện đại, giá trị văn hóa và sức mạnh kinh tế, nội lực dân tộc và hội nhập quốc tế. Khi di sản trở thành niềm tự hào, nguồn lực sáng tạo, sức hấp dẫn quốc tế và động lực phát triển bền vững, giá trị văn hóa sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh con người, sức mạnh mềm và, rộng hơn, sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Phát huy di sản không chỉ là gìn giữ những gì cha ông để lại mà còn là làm cho quá khứ tiếp tục sống, hiện tại được bồi đắp và tương lai có thêm nền tảng để vươn lên, mở rộng không gian sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Minh Nhật (17/7/2025). Việt Nam có 9 di sản thế giới danh giá trong hệ thống danh hiệu của UNESCO. https://vietnamnet.vn/viet-nam-co-9-di-san-the-gioi-danh-gia-trong-he-thong-cac-danh-hieu-cua-unesco-2422907.html
Cục Thể dục, Thể thao Việt Nam (23/8/2025). Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành văn hóa. https://tdtt.gov.vn/tin-tuc/tin-tuc-khac/id/92995/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-truyen-thong-nganh-van-hoa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (13/7/2026). Toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. https://baochinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-hop-thu-hai-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-102260713135324221.htm
Trung tâm Thông tin Du lịch (05/01/2026). Việt Nam đón lượng khách quốc tế cao nhất từ trước đến nay, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng của khu vực dịch vụ. https://vietnamtourism.gov.vn/post/66259.UNESCO World Heritage Centre-Decision-47Com.8B.22 (2025). Yen Tu-Vinh Nghiem-Con Son, Kiep Bac Complex of Monuments and Landscapes (Viet Nam).



