Vietnam unlocks the potential of its people to shape development
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
E-mail: ngochoaajc1005@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 không thể đạt được chỉ bằng cách kéo dài quán tính của 40 năm trước. Việt Nam cần tiếp tục một cuộc đổi mới đồng bộ: đột phá về thể chế là điều kiện tiên quyết; khoa học, công nghệ và con người là động lực; doanh nghiệp là lực lượng chuyển hóa sáng kiến thành giá trị; văn hóa là nền tảng và hệ điều tiết; hạnh phúc, cơ hội phát triển của Nhân dân là thước đo cuối cùng. Khơi thông sức dân vì thế vừa là bài học lớn nhất của quá khứ, vừa là mệnh lệnh phát triển cấp bách của hiện tại.
Từ khóa: Việt Nam khơi thông sức dân; kiến tạo phát triển; đổi mới đồng bộ; đột phá thể chế.
Abstract: The goal of becoming a developed, high-income country by 2045 cannot be achieved simply by continuing the momentum of 40 years ago. Vietnam must pursue comprehensive reform: institutional breakthroughs are a prerequisite; science, technology, and human capital are the driving forces; businesses transform initiatives into value; culture provides the foundation and regulatory framework; and the people’s happiness and development opportunities are the ultimate measure. Unleashing the people’s potential is therefore both the greatest lesson from the past and an urgent development imperative of the present.
Keywords: Vietnam unleashing the people’s potential; fostering development; comprehensive reform; institutional breakthroughs.
1. Sức dân hiện diện trong từng chuyển động nhỏ
Đầu năm 2025, tại vùng đất Bạc Liêu, sản phẩm đan lát thủ công mỹ nghệ của ông Phan Văn Đạt được giới thiệu trên sàn giao dịch điện tử và mạng xã hội; lượng tiêu thụ tăng gấp 2 – 3 lần. Cũng tại đây, Hợp tác xã nông nghiệp 8/3 đưa sản phẩm rau cần nước OCOP ba sao lên môi trường số để tiếp cận người mua trên cả nước (Tuấn Kiệt, 22/8/2026). Như vậy, một chiếc điện thoại không tự tạo nên thịnh vượng, nhưng khi người dân có kỹ năng, hạ tầng, quyền chủ động và thị trường, công nghệ có thể biến nghề truyền thống và sản vật địa phương thành giá trị mới.
Ở một không gian khác, PGS.TS. Chử Mạnh Hưng và TS. Vũ Thị Tần của Đại học Bách khoa Hà Nội được trao Giải thưởng sáng tạo châu Á năm 2025 vì những nghiên cứu hướng tới giải quyết vấn đề xã hội và phát triển bền vững (Báo Tin tức và Dân tộc, ngày 17/01/2026). Trong cộng đồng doanh nghiệp, ông Trương Gia Bình nhấn mạnh tinh thần doanh nhân Việt Nam là không ngại khó, không ngại khổ và phải gắn khát vọng làm giàu với trách nhiệm xây dựng đất nước (VietnamPlus, ngày 29/6/2025). Người nông dân, nhà khoa học và doanh nhân hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng cùng cho thấy một điều, sức dân không phải khái niệm trừu tượng, đó là năng lực sáng tạo đang chờ một môi trường đủ tin cậy để được đánh thức.
40 năm đổi mới xác nhận một quy luật xuyên suốt: khi lợi ích chính đáng được tôn trọng, quyền chủ động được bảo đảm và sáng kiến từ thực tiễn được lắng nghe, xã hội có thể tạo ra nguồn lực lớn hơn nhiều so với những gì Nhà nước có thể phân bổ trực tiếp. Thành tựu đổi mới là kết quả kết tinh sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; đồng thời đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, chủ thể của phát triển (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Bởi vậy, câu hỏi của giai đoạn 2026 – 2045 không chỉ là Nhà nước sẽ đầu tư thêm bao nhiêu mà trước hết là thể chế có giúp mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp và mỗi địa phương phát huy được bao nhiêu năng lực hay không.
Hộp thông tin: Việt Nam từ mở đường đến kiến tạo tương lai
| Phương diện | Đổi mới 1986 | Đổi mới 2026 – 2045 |
| Thể chế | Tháo bỏ cơ chế kìm hãm | Tạo lợi thế cạnh tranh và năng lực thực thi |
| Tăng trưởng | Giải phóng sức sản xuất | Giải phóng sức sáng tạo, nâng năng suất |
| Doanh nghiệp | Thừa nhận quyền kinh doanh | Nuôi dưỡng doanh nghiệp công nghệ, thương hiệu Việt |
| Con người | Cải thiện đời sống cơ bản | Phát triển năng lực, cơ hội và hạnh phúc |
| Hội nhập | Phá thế bao vây, mở thị trường | Nâng nội lực, tham gia kiến tạo luật chơi |
2. Thể chế phải mở đường, quá trình thực thi phải tạo dựng niềm tin
Đột phá đầu tiên phải là thể chế. Ở chặng đầu đổi mới, thể chế tháo bỏ những ràng buộc làm triệt tiêu động lực. Ở chặng đường tới năm 2045, thể chế còn phải kiến tạo thị trường mới, bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích chấp nhận rủi ro sáng tạo, bảo đảm cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực theo hiệu quả. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị xác định xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”. Điều đó đòi hỏi chuyển trọng tâm từ ban hành nhiều quy định sang tạo ra quy định tốt và thực thi nhất quán.
Một môi trường pháp lý có chất lượng phải ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và có cơ chế sửa sai nhanh. Ngân hàng Thế giới (WB, 2025) lưu ý cải cách thể chế không dừng ở việc thông qua luật; kết quả còn phụ thuộc vào tổ chức có năng lực, động lực đúng và hệ thống bảo đảm quy tắc được tuân thủ. Khoảng cách phải thu hẹp là khoảng cách từ văn bản đến hành vi công vụ, từ lời hứa chính sách đến trải nghiệm của người dân.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tự chủ, tự chịu trách nhiệm và kiểm soát quyền lực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây là sự thay đổi căn bản về triết lý quản trị: cơ quan công quyền không quyết định thay thị trường và xã hội, mà xác lập luật chơi, cung cấp dịch vụ công, xử lý rủi ro và bảo vệ lợi ích công cộng. Phân quyền phải đi cùng dữ liệu, nguồn lực, chuẩn mực kết quả và trách nhiệm giải trình; nếu không, điểm nghẽn chỉ dịch chuyển từ cấp này sang cấp khác.
Xóa cơ chế xin – cho không chỉ là cắt một thủ tục mà là thu hẹp không gian tùy nghi, công khai tiêu chí, số hóa quy trình, truy vết quyết định và bảo đảm quyền giám sát. Mỗi ngày chờ đợi của doanh nghiệp là chi phí của nền kinh tế; mỗi thủ tục đúng hạn, mỗi quyền hợp pháp được bảo vệ là một đơn vị cụ thể của năng lực kiến tạo phát triển.
3. Biến khoa học, công nghệ thành năng lực của mỗi người dân
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ đặt ra nhiệm vụ phát triển một ngành mà mở ra một phương thức phát triển mới dựa trên tri thức, dữ liệu và năng lực sáng tạo toàn xã hội. Công nghệ chỉ trở thành động lực khi đi qua ba cầu nối: từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm; từ nền tảng số đến năng suất của doanh nghiệp; từ dịch vụ công trực tuyến đến thời gian và chi phí mà người dân thực sự tiết kiệm được.
Sáu tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ; nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,7% (Cục Thống kê, ngày 03/7/2026). Hai con số đặt cạnh nhau cho thấy, vừa có đà phát triển, vừa có áp lực chuyển đổi. Tốc độ trước mắt chỉ trở thành năng lực dài hạn nếu người lao động được học lại, nâng kỹ năng và dịch chuyển vào những công việc có năng suất cao hơn. Chính sách khoa học, công nghệ vì vậy phải đồng thời là chính sách giáo dục, lao động, doanh nghiệp và an sinh.
Đổi mới sáng tạo cũng không thể bị thu hẹp vào một số trung tâm lớn. Người nông dân cải tiến quy trình canh tác, công nhân đề xuất cách giảm phế phẩm, giáo viên tạo học liệu số, bác sĩ triển khai tư vấn từ xa, cán bộ cơ sở liên thông dữ liệu để người dân không phải nộp lại giấy tờ – tất cả đều là những mắt xích của năng suất quốc gia. Tinh thần cần được thiết lập là trân trọng từng sáng kiến, cho phép thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận thất bại trung thực và đánh giá bằng giá trị tạo ra, thay vì bằng số lượng đề tài hay quy trình đã hoàn thành.
Muốn vậy, phải hình thành thị trường tri thức: bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; chia sẻ dữ liệu an toàn; để trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng đặt bài toán; chấp nhận rủi ro nghiên cứu hợp lý; dùng mua sắm công tạo thị trường ban đầu; trao quyền và đãi ngộ người tài. Khi kết quả nghiên cứu đi được ra thị trường và người dân tiếp cận được kỹ năng số, khoa học, công nghệ mới thật sự trở thành năng lực quốc gia.
4. Doanh nghiệp Việt Nam phải lớn lên cùng đất nước
Khu vực tư nhân là nơi sức dân chuyển hóa trực tiếp thành việc làm, sản phẩm, thu nhập và nguồn thu ngân sách. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đến năm 2045 có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp và khu vực tư nhân đóng góp trên 60% GDP. Những mục tiêu này chỉ có ý nghĩa khi đi kèm sự trưởng thành về công nghệ, quản trị, năng lực liên kết và trách nhiệm xã hội, chứ không chỉ là tăng số lượng đăng ký.
Một nền kinh tế tự chủ cần doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn để dẫn dắt chuỗi cung ứng, nhưng cũng cần hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh đủ khỏe để trở thành nhà cung cấp, đối tác và nguồn đổi mới. Chính sách phải mở con đường lớn lên: tiếp cận đất đai, vốn, dữ liệu và nhân lực theo nguyên tắc thị trường; giảm chi phí tuân thủ; hỗ trợ chuẩn hóa quản trị và chuyển đổi số; tạo cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp đầu đàn với doanh nghiệp nhỏ; khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi trên cơ sở tự nguyện và lợi ích nhìn thấy được.
Ngân hàng Thế giới (WB, 2024) nhận định liên kết giữa khu vực xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước còn mỏng. Đáp án không phải lựa chọn bên nào mà là tạo quan hệ cộng sinh: đầu tư nước ngoài mang thị trường, vốn, công nghệ; doanh nghiệp Việt Nam cung cấp năng lực nội địa; Nhà nước dùng tiêu chuẩn, hạ tầng và chương trình phát triển nhà cung cấp để tăng giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước.
Niềm tin dành cho doanh nghiệp phải đi cùng kỷ luật thị trường. Bảo vệ quyền tự do kinh doanh không đồng nghĩa dung thứ gian lận; hỗ trợ doanh nghiệp lớn không đồng nghĩa tạo đặc quyền; khuyến khích làm giàu không tách rời nghĩa vụ thuế, quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường và liêm chính kinh doanh. Doanh nghiệp dân tộc có tầm vóc không chỉ bởi quy mô tài sản, mà bởi năng lực công nghệ, thương hiệu, văn hóa kinh doanh và khả năng cùng xã hội giải quyết những vấn đề phát triển.
5. Đầu tư cho con người, giữ văn hóa ở vị trí nền tảng
Mô hình phát triển mới sẽ tạo ra cơ hội, đồng thời làm mất đi nhiều công việc và kỹ năng cũ. Vì vậy, đầu tư cho con người không thể chỉ tính bằng số trường học hay số chứng chỉ, mà phải đo bằng năng lực học tập, tư duy phản biện, kỹ năng số, khả năng thích ứng và phẩm chất công dân. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam tạo nên một cấu trúc chính sách đặt con người trong tính toàn diện: trí tuệ, thể chất, nhân cách và khả năng sáng tạo.
Tổng tỷ suất sinh năm 2025 là 1,93 con/phụ nữ, vẫn thấp hơn mức sinh thay thế; quá trình già hóa diễn ra nhanh (Cục Thống kê, ngày 05/01/2026). Điều đó khiến cửa sổ dân số vàng trở thành một thời hạn phát triển. Trong những năm còn lại, Việt Nam phải nâng nhanh năng suất lao động, mở rộng học tập suốt đời, xây dựng hệ thống chăm sóc người cao tuổi, phát triển kinh tế bạc và cải thiện môi trường sống để người trẻ có thể lập nghiệp, lập gia đình, nuôi dạy con trong điều kiện an toàn. Chính sách dân số vì vậy không tách rời nhà ở, việc làm, giáo dục, y tế và bình đẳng giới.
Không ai bị bỏ lại phía sau phải được chuyển thành khả năng tiếp cận có chất lượng. Học sinh miền núi phải có cơ hội học và kết nối số; người mất việc do tự động hóa phải có con đường học nghề mới; người yếu thế phải tiếp cận y tế, trợ giúp pháp lý và an sinh kịp thời. Chuyển đổi chỉ bền vững khi lợi ích được phân bổ rộng và chi phí không bị đẩy về phía nhóm ít khả năng tự bảo vệ nhất.
Văn hóa phải giữ vai trò nền tảng và hệ điều tiết của phát triển. Công nghệ có thể tối ưu hóa quyết định, nhưng không thay thế được trách nhiệm, lòng nhân ái, tinh thần cộng đồng và ý thức thượng tôn pháp luật. Tăng trưởng có thể làm giàu một quốc gia, nhưng chỉ văn hóa mới giúp của cải được tạo ra và sử dụng theo cách củng cố niềm tin, phẩm giá và bản sắc. Sức mạnh mềm của Việt Nam trước hết bắt đầu từ chất lượng con người Việt Nam: yêu nước, trung thực, sáng tạo, nhân văn, có trách nhiệm với cộng đồng và có năng lực đối thoại với thế giới.
6. Hội nhập để tự chủ hơn
Trong một thế giới phân mảnh, tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự khép kín. Đó là năng lực lựa chọn con đường phát triển phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc; duy trì các cân đối thiết yếu; thích ứng và phục hồi trước cú sốc; không bị lệ thuộc vào một thị trường, một nguồn cung hay một nền tảng công nghệ. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế và Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng đặt hội nhập và tự chủ trong cùng một chỉnh thể chiến lược.
Năng lực tự chủ phải được xây từ những nền tảng cụ thể: năng lượng đa dạng và ít carbon; an ninh lương thực, nguồn nước, dữ liệu và hạ tầng số; công nghệ lõi ở các lĩnh vực thiết yếu; logistics có khả năng chống chịu; nhân lực đủ sức làm chủ công nghệ. Ngân hàng Thế giới (WB, 2025) cảnh báo chi phí của việc chậm thích ứng với biến đổi khí hậu có thể cản trở mục tiêu thu nhập cao. Chuyển đổi xanh vì thế là đầu tư cho an ninh phát triển, sức cạnh tranh và sinh kế tương lai.
Hội nhập ở tầm cao hơn còn đòi hỏi Việt Nam chuyển từ chấp nhận luật chơi sang chủ động góp phần xây dựng luật chơi. Điều đó cần năng lực dự báo, đội ngũ pháp lý và ngoại giao kinh tế chuyên nghiệp, doanh nghiệp có tiếng nói trong các tiêu chuẩn kỹ thuật, cùng sự tham gia của trí thức và người Việt Nam ở nước ngoài. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại không phải phép cộng cơ học; đó là khả năng biến tri thức, vốn, mạng lưới và chuẩn mực quốc tế thành năng lực nội sinh của Việt Nam.
Ngay trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Bộ Chính trị ban hành Chương trình số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa XIV) về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Chuỗi quyết sách liên tục cho thấy, thời gian chuẩn bị đã chuyển sang thời gian hành động.
Khâu quyết định từ nay không còn là nhận diện đúng hướng đi mà là năng lực tổ chức thực hiện. Cần bốn chuyển dịch rõ ràng: từ quản lý quy trình sang quản trị theo kết quả; từ phân bổ nguồn lực bình quân sang lựa chọn ưu tiên có sức lan tỏa; từ chính sách đơn ngành sang phối hợp liên ngành; từ báo cáo tiến độ sang công khai sản phẩm và tác động. Mỗi mục tiêu phải có cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực, dữ liệu đo lường và cơ chế xử lý khi không hoàn thành.
Đại hội XIV của Đảng (2026) đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp trên 55%; năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 84-45). Những chỉ tiêu này phải được phân rã thành kết quả xã hội kiểm chứng được: thời gian xử lý thủ tục và chi phí tuân thủ giảm bao nhiêu; tỷ lệ thương mại hóa nghiên cứu tăng ra sao; có thêm bao nhiêu nhà cung cấp Việt Nam, lao động kỹ năng cao và sản phẩm ít phát thải.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo và mục tiêu phấn đấu. Đây phải là tiêu chuẩn cuối cùng của mọi cải cách. Một nền hành chính số nhưng người yếu thế khó tiếp cận chưa thể là thành công; tăng trưởng cao nhưng cơ hội tiến bộ bị thu hẹp chưa thể là phát triển; doanh nghiệp lớn mạnh nhưng môi trường suy thoái chưa thể là thịnh vượng bền vững.
Năm 2045 không phải một điểm hẹn tự đến mà là kết quả tích lũy của từng quyết định đúng, từng ngày thực thi nghiêm túc và từng sáng kiến được tạo điều kiện từ hôm nay. Nhà nước phải kiến tạo để Nhân dân làm được nhiều hơn; thị trường phải được định hướng bằng cạnh tranh công bằng; công nghệ phải được con người có tri thức và văn hóa sử dụng để mở rộng tự do, cơ hội và phẩm giá. Bốn mươi năm trước, Đổi mới mở đường để Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng. Hôm nay, tiếp tục đổi mới phải mở đường để đất nước vượt qua giới hạn của chính mình. Mục tiêu năm 2045 chỉ có thể trở thành hiện thực khi mọi quyết sách được chuyển hóa thành kết quả mà người dân có thể nhìn thấy, cảm nhận và thụ hưởng.
Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2026). Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 19/8/2026 về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026c). Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025c). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2025d). Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2025e). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2025f). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bộ Chính trị (2026a). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bộ Chính trị (2026b). Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Cục Thống kê (2026a). “Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025”, ngày 5/1/2026.
Cục Thống kê (2026b). “Một số nét chính về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026”, ngày 3/7/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Thông tấn xã Việt Nam/Báo Tin tức và Dân tộc (2026). “Hai nhà khoa học Việt Nam giành Giải thưởng Sáng tạo châu Á 2025”, ngày 17/1/2026. https://www.vietnamplus.vn/hai-nha-khoa-hoc-viet-nam-gianh-giai-thuong-sang-tao-chau-a-2025-post1089060.vnp
Thông tấn xã Việt Nam/VietnamPlus (2025). “Nghị quyết số 68: ‘Cú hích’ khơi nguồn sức mạnh doanh nghiệp Việt”, ngày 30/6/2025. https://www.vietnamplus.vn/nghi-quyet-so-68-cu-hich-khoi-nguon-suc-manh-doanh-nghiep-viet-post1047209.vnp
Tuấn Kiệt (2025). “Những nông dân số ở Bạc Liêu”. Báo Dân tộc và Miền núi. https://dantocmiennui.baotintuc.vn/nhung-nong-dan-so-o-bac-lieu-post1377628.html
World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World, Washington, D.C.
World Bank (2025a). Viet Nam 2045-Breaking Through: Institutions for a High-Income Future, Washington, D.C.
World Bank (2025b). Viet Nam 2045-Growing Greener: Pathways to a Resilient and Sustainable Future, Washington, D.C.



