Kiến tạo chất lượng giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW: Từ đổi mới quản trị đến đồng kiến tạo tri thức

Creating quality in higher education in the spirit of Resolution No. 71-NQ/TW: From governance reform to knowledge co-creation

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến
Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: chiennb@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra yêu cầu đổi mới có tính hệ thống đối với giáo dục đại học. Yêu cầu này đòi hỏi chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại; từ chú trọng điều kiện đầu vào sang quản trị theo sứ mạng, kết quả và tác động; từ tự chủ chủ yếu về tài chính sang tự chủ toàn diện gắn với trách nhiệm giải trình; từ truyền thụ tri thức sang phát triển năng lực, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và tạo lập giá trị. Trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, đặt trong tổng thể các chủ trương mới của Đảng về đổi mới mô hình phát triển, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế, bài viết làm rõ hai trục chuyển đổi có quan hệ hữu cơ: đổi mới quản trị là nền tảng hình thành năng lực kiến tạo chất lượng và đồng kiến tạo tri thức như phương thức làm sâu sắc quá trình đào tạo. Từ thực tiễn Học viện Hành chính và Quản trị công, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm chuyển tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW thành năng lực phát triển bền vững của cơ sở giáo dục đại học, gắn chất lượng với sứ mạng, năng lực thực thi và giá trị tạo ra cho xã hội và hệ thống chính trị trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Giáo dục đại học; Nghị quyết số 71-NQ/TW; quản trị đại học; kiến tạo chất lượng; bảo đảm chất lượng; đồng kiến tạo tri thức; quản trị phát triển.

Abstract: Resolution No. 71-NQ/TW dated August 22, 2025, of the Politburo on breakthrough development in education and training requires systemic innovation in higher education: shifting strongly from administrative management to developmental facilitation and modern governance; from focusing on input conditions to governance by mission, results, and impact; from mainly financial autonomy to comprehensive autonomy linked with accountability; and from knowledge transmission to capacity building, research, innovation, and value creation. Grounded in the spirit of Resolution No. 71-NQ/TW and situated within the broader policy context of development model reform, science and technology, innovation, digital transformation, and institutional improvement, the article clarifies two organically related transformational axes: governance innovation as the foundation for quality-creating capacity, and knowledge co-creation as a means of deepening the educational process. Drawing on the practice of the National Academy of Public Administration, the article proposes orientations to transform the Resolution’s breakthrough spirit into the sustainable development capacity of higher education institutions, linking quality with mission, implementation capacity, and value created for society and the political system in the new era.

Keywords: Higher education; Resolution No. 71-NQ/TW; university governance; quality creation; quality assurance; knowledge co-creation; public value; development governance.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, giáo dục đại học không chỉ thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà ngày càng giữ vai trò quan trọng trong kiến tạo tri thức, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị quốc gia và tự chủ chiến lược. Vì vậy, yêu cầu đối với giáo dục đại học cũng thay đổi về chất: không chỉ mở rộng quy mô hay chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm, mà phải tạo ra năng lực phát triển nhanh và bền vững, với kết quả có thể kiểm chứng và giá trị thực chất đối với người học, cơ quan sử dụng nhân lực và xã hội.

Từ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về đổi mới các đơn vị sự nghiệp công lập (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2017) đến Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 (Bộ Chính trị, 2024a), tư duy của Đảng về phát triển giáo dục ngày càng được hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiện đại hóa, tự chủ và trách nhiệm giải trình. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Bộ Chính trị, 2025b) tiếp tục phát triển tư duy đó ở cấp độ đột phá hơn: giáo dục đại học được xác định là nòng cốt trong phát triển nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; đồng thời, yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại được đặt ra như một điều kiện để tạo chuyển biến thực chất.

Từ tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, có thể thấy chất lượng giáo dục đại học không phải là khâu kiểm soát ở cuối quá trình, càng không chỉ là nhiệm vụ của bộ phận bảo đảm chất lượng. Chất lượng được tạo ra trong toàn bộ quá trình vận hành của cơ sở giáo dục, từ thể chế, tự chủ, tổ chức bộ máy, đội ngũ, chương trình, khoa học, công nghệ và dữ liệu đến tài chính, văn hóa học thuật và văn hóa quản trị. Vì vậy, Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã bổ sung yêu cầu căn bản là chuyển từ tư duy “đạt chuẩn” sang xây dựng năng lực tự thân để tạo ra, duy trì và liên tục nâng cao chất lượng; kiểm định và giám sát bên ngoài có vai trò xác nhận, cảnh báo và thúc đẩy cải tiến nhưng không thể làm thay trách nhiệm bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục (Quốc hội, 2025).

 Yêu cầu này càng trở nên rõ nét khi được đặt trong mối liên hệ với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024b) và các chủ trương mới về hoàn thiện thể chế (Bộ Chính trị, 2025a). Vấn đề cốt lõi không còn là có thêm công cụ hay quy trình, mà là làm cho thể chế, dữ liệu, công nghệ và nguồn lực thực sự nâng cao chất lượng của quyết định quản trị, quá trình học tập và năng lực đổi mới của cơ sở giáo dục.

Trong bài viết này, “kiến tạo chất lượng giáo dục đại học” được tiếp cận như một quá trình chủ động tạo lập các điều kiện, động lực và năng lực để chất lượng trở thành thuộc tính nội tại của cơ sở giáo dục. Cách tiếp cận đó không đối lập với bảo đảm chất lượng mà đặt bảo đảm chất lượng trong một logic rộng hơn: thể chế phải mở đường, quản trị phải tạo động lực, dữ liệu phải trở thành cơ sở của quyết định, đội ngũ phải có năng lực đổi mới sáng tạo, còn quá trình đào tạo phải tạo ra sự tiến bộ thực chất của người học. Từ đó, đổi mới quản trị và đồng kiến tạo tri thức không phải hai chủ đề tách rời mà là hai mắt xích của cùng một quá trình: quản trị tạo không gian và điều kiện cho chất lượng; đồng kiến tạo tri thức làm cho chất lượng được hình thành trong chính hoạt động học thuật.

Từ thực tiễn Học viện Hành chính và Quản trị công – cơ sở giáo dục đại học chuyên ngành thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, có thể nhìn rõ hơn yêu cầu chuyển chủ trương thành năng lực tổ chức thực hiện. Những kết quả và vấn đề đặt ra trong đổi mới chương trình, phát triển đội ngũ, nghiên cứu và tư vấn chính sách, số hóa học liệu, bảo đảm chất lượng, khảo thí và quản trị dữ liệu cho thấy, thách thức của giai đoạn mới không chỉ là hoàn thiện từng hoạt động riêng lẻ, mà là kết nối chúng trong một logic quản trị thống nhất, hướng tới kết quả, tác động và giá trị tạo ra. Đây cũng là vấn đề có tính phổ biến đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học trong quá trình triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW.

2. Tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW và tư duy kiến tạo chất lượng giáo dục đại học

Điểm mới có ý nghĩa sâu sắc của Nghị quyết số 71-NQ/TW không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm nhiệm vụ cho giáo dục đại học, mà ở sự thay đổi logic phát triển của cả hệ thống. Đó là chuyển từ quản lý cơ sở giáo dục sang kiến tạo năng lực phát triển; từ kiểm soát điều kiện sang quản trị kết quả; từ trao quyền đơn lẻ sang gắn quyền hạn với nguồn lực và trách nhiệm; từ đào tạo tách rời nghiên cứu sang gắn đào tạo với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; từ truyền thụ tri thức sang đồng kiến tạo tri thức và tạo lập giá trị mới. Có thể khái quát tinh thần đột phá đó qua năm chuyển đổi chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chuyển từ quản lý hành chính mang tính mệnh lệnh sang quản trị kiến tạo phát triển và tự chủ toàn diện gắn với trách nhiệm giải trình. Cơ chế tự chủ không thể chỉ đóng khung ở khía cạnh tài chính hay chia sẻ gánh nặng ngân sách mà phải là quyền tự chủ học thuật, tổ chức bộ máy và quản trị nguồn nhân lực. Đi kèm với phân quyền là cơ chế giải trình minh bạch trước người học, xã hội và cơ quan quản lý nhà nước. Quản trị đại học chuyển từ “tiền kiểm” nặng nề về thủ tục sang quản trị theo kết quả đầu ra và tác động phát triển.

Thứ hai, chuyển từ “đạt chuẩn” sang hình thành năng lực phát triển tri thức. Các mục tiêu đến năm 2030 không chỉ đặt ra yêu cầu chuẩn hóa hệ thống mà còn gắn với hiện đại hóa, thu hút nhân tài, nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và vị thế quốc tế. Mục tiêu có ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực cho thấy chất lượng được đặt trong quan hệ trực tiếp với năng lực tạo tri thức, phát triển con người và sức cạnh tranh quốc gia. Đến năm 2045, mục tiêu đưa hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam vào nhóm các quốc gia có nền giáo dục hàng đầu thế giới càng khẳng định yêu cầu phải xây dựng năng lực chất lượng bền vững, thay vì chạy theo các kết quả ngắn hạn (Bộ Chính trị, 2025b).

Thứ ba, chuyển từ quản lý dựa nhiều vào thủ tục và kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và bằng chứng. Dữ liệu phải trở thành nguồn lực để nhận diện vấn đề, theo dõi tiến bộ của người học, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả. Gắn với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, số hóa phải đi cùng tái thiết kế quy trình, liên thông dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Chuyển đổi số chỉ thực sự tạo ra giá trị khi làm thay đổi chất lượng của quyết định quản trị và trải nghiệm học tập. Trong mô hình quản trị mới, dữ liệu cung cấp bằng chứng, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phân tích, chuyên gia thực hiện phán đoán chuyên môn và người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về quyết định; công nghệ không thể thay thế trách nhiệm pháp lý, đạo đức và trách nhiệm giải trình của con người.

Thứ tư, chuyển từ mô hình đào tạo tương đối biệt lập sang hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu – đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu không thể là hoạt động song song, tách rời đào tạo mà phải trở thành nguồn lực làm giàu nội dung học tập, phát triển đội ngũ và giải quyết vấn đề thực tiễn (Chính phủ, 2026). Trường đại học phải ngày càng trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp cần được thúc đẩy thực chất. Theo đó, một cơ sở giáo dục chất lượng không chỉ tạo ra người tốt nghiệp mà còn phải tạo ra tri thức mới, giải pháp mới và năng lực đổi mới cho xã hội.

Thứ năm, chuyển từ truyền thụ tri thức sang tổ chức quá trình đồng kiến tạo tri thức và giá trị mới. Khi chương trình tích hợp dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tinh thần doanh nhân, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, người học không thể chỉ là đối tượng tiếp nhận (Đoàn Minh Huấn, 2026). Người học cần được đặt vào những tình huống phải phân tích, lựa chọn, phản biện và chịu trách nhiệm về phương án; giảng viên phải trở thành người thiết kế môi trường học tập, định hướng lý luận, tổ chức đối thoại và thẩm định chất lượng tri thức. Đây chính là cơ sở để đồng kiến tạo tri thức trở thành một phương thức hiện thực hóa chiều sâu của Nghị quyết số 71-NQ/TW trong hoạt động đào tạo.

3. Đổi mới quản trị – khâu then chốt để kiến tạo chất lượng giáo dục đại học

Đổi mới quản trị là khâu then chốt trong kiến tạo chất lượng giáo dục đại học, vì chất lượng không chỉ được quyết định bởi chương trình, đội ngũ hay các điều kiện bảo đảm, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của quá trình ra quyết định, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện. Có thể xem quản trị là “hạ tầng vô hình” của chất lượng, một chương trình tốt khó có thể vận hành bền vững nếu cơ chế ra quyết định chậm, dữ liệu phân tán, trách nhiệm không rõ và nguồn lực không gắn với ưu tiên; ngược lại, một hệ thống quản trị hiệu quả có khả năng nhận diện sớm vấn đề, tập trung nguồn lực cho các mục tiêu chiến lược, tạo động lực đổi mới và thúc đẩy cải tiến liên tục. Vì vậy, đổi mới quản trị không chỉ là điều chỉnh quy trình điều hành, mà sâu hơn là tái thiết kế phương thức cơ sở giáo dục tổ chức nguồn lực, phân cấp, phân quyền, phối hợp thực thi và chịu trách nhiệm về kết quả. Theo đó, tinh gọn tổ chức, phân quyền hợp lý, tích hợp trong điều hành và tăng cường trách nhiệm giải trình phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất nhằm hình thành năng lực phát triển bền vững và nâng cao chất lượng thực chất của cơ sở giáo dục đại học. Nói cách khác, chất lượng của giáo dục đại học khó có thể cao hơn chất lượng của chính hệ thống quản trị tạo ra nó.

Từ góc nhìn năng lực thể chế, nghiên cứu của Phú Thị Tuyết Nga (2026) cho thấy hiệu quả tự chủ đại học không chỉ phụ thuộc vào phạm vi quyền được trao mà còn ở năng lực tổ chức thực thi, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giải trình. Điều này củng cố yêu cầu đổi mới quản trị trong mối quan hệ trực tiếp với năng lực kiến tạo và duy trì chất lượng của cơ sở giáo dục.

Đặc biệt, đổi mới quản trị phải bắt đầu từ người đứng đầu và đội ngũ quản lý. Người đứng đầu cơ sở giáo dục trong giai đoạn mới không chỉ là người điều hành hành chính mà còn phải là người kiến tạo tầm nhìn, tổ chức thực thi, huy động nguồn lực và dẫn dắt sự thay đổi. Năng lực lãnh đạo chiến lược, quản trị rủi ro, phát triển đội ngũ, sử dụng dữ liệu và xây dựng văn hóa chất lượng ngày càng trở thành yêu cầu cốt lõi. Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, am hiểu về giáo dục, dữ liệu, tài chính và có khả năng phối hợp liên ngành. Quản trị đại học hiện đại không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hành chính truyền thống mà còn phải dựa trên năng lực, bằng chứng và trách nhiệm đối với kết quả theo đúng tinh thần Thông tư số 17/2026/TT-BGDĐT ngày 27/3/2026 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a) và Thông tư số 58/2026/TT-BGDĐT ngày 07/7/2026 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026d).

Cùng với đổi mới thể chế và năng lực quản trị, cần coi văn hóa chất lượng là động lực nội sinh của phát triển. Văn hóa chất lượng không hình thành bằng khẩu hiệu hay chỉ bằng hệ thống quy trình mà được tạo nên khi lãnh đạo chủ động sử dụng dữ liệu trong điều hành; các đơn vị chủ động nhận diện vấn đề và công khai tiến độ cải tiến; các sáng kiến có tác động tích cực được ghi nhận; còn việc phản ánh trung thực được xem là điều kiện của tổ chức. Theo cách tiếp cận đó, chất lượng không phải là nhiệm vụ riêng của đơn vị chuyên trách mà là trách nhiệm của toàn bộ cơ sở giáo dục, của từng đơn vị, từng giảng viên, viên chức và người học.

Tiếp cận quản lý chất lượng toàn diện trong nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hiển và Hà Thị Thu Phương (2026) cũng nhấn mạnh sự tham gia của toàn tổ chức, quản trị dựa trên bằng chứng và cải tiến liên tục; đồng thời, phân biệt vai trò của quản lý chất lượng, bảo đảm chất lượng và kiểm định. Từ đó, xây dựng văn hóa chất lượng cần vượt ra ngoài việc đáp ứng bộ tiêu chuẩn để trở thành phương thức vận hành thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục.

Đối với Học viện, văn hóa chất lượng chỉ thực sự trở thành năng lực của tổ chức khi trách nhiệm bảo đảm chất lượng có “địa chỉ” rõ ràng. Lãnh đạo, quản lý phải sử dụng bằng chứng để định hướng và ra quyết định; các khoa và đơn vị chuyên môn trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình, học phần và hoạt động chuyên môn; các đơn vị chức năng bảo đảm các điều kiện thực hiện; Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo giữ vai trò điều phối và giám sát hoạt động cải tiến toàn hệ thống; mỗi giảng viên, viên chức và người học thể hiện trách nhiệm đảm bảo chất lượng trong công việc và học tập. Khi trách nhiệm được xác định rõ ràng, chất lượng mới chuyển từ yêu cầu riêng của một bộ phận thành năng lực vận hành của toàn hệ thống Học viện.

Đối với đội ngũ giảng viên, cần chuyển từ quản lý chủ yếu theo khối lượng sang phát triển theo năng lực và mức độ đóng góp. Giờ giảng và số lượng công bố vẫn cần được ghi nhận, nhưng không thể là thước đo duy nhất. Cần đánh giá chất lượng thiết kế hoạt động học tập, năng lực đổi mới phương pháp giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học, mức độ cập nhật thực tiễn, khả năng hợp tác, giá trị sử dụng của sản phẩm học thuật và mức độ đóng góp vào sứ mạng chung của cơ sở đào tạo. Một môi trường chất lượng phải khuyến khích sáng tạo, đối thoại học thuật, dám thử nghiệm và dám chịu trách nhiệm; đồng thời bảo đảm liêm chính, chuẩn mực và cơ chế đánh giá công bằng nhằm nuôi dưỡng sự đồng thuận, niềm tin cùng khát vọng cống hiến trong cộng đồng học thuật.

4. Đồng kiến tạo tri thức – phương thức hiện thực hóa chất lượng giáo dục đại học

Nếu đổi mới quản trị tạo ra nền tảng và điều kiện cho chất lượng thì đồng kiến tạo tri thức làm rõ chất lượng ấy được hình thành như thế nào trong quá trình học tập (Đoàn Minh Huấn, 2026). Đây không chỉ là thay đổi quan hệ giữa giảng viên và người học, mà sâu hơn là thay đổi cách cơ sở giáo dục tạo ra tri thức: từ tri thức chủ yếu được truyền đạt theo một chiều sang tri thức được hình thành trong tương tác giữa lý luận, dữ liệu, kinh nghiệm, thực tiễn và phản biện có tổ chức. Khi đó, lớp học không còn chỉ là nơi tiếp nhận kiến thức mà trở thành một không gian học thuật để phát hiện vấn đề, kiểm chứng cách hiểu và phát triển giải pháp giải quyết vấn đề.

Đối với đào tạo, bồi dưỡng hành chính, quản lý nhà nước, quản trị công, quản trị phát triển, đồng kiến tạo có ý nghĩa đặc biệt bởi nhiều học viên mang theo kinh nghiệm nghề nghiệp, dữ liệu thực tiễn và những vấn đề quản trị đang diễn ra. Nếu được đưa vào lớp học một cách có phương pháp, những kinh nghiệm đó có thể trở thành nguồn chất liệu quý để kiểm nghiệm lý luận và phát triển tri thức ứng dụng. Quan trọng hơn, tri thức được tạo ra trong lớp học phải có khả năng quay trở lại phục vụ thực tiễn. Đây là điểm nối giữa đồng kiến tạo tri thức và tư duy kiến tạo thực thi, tri thức chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề và những kết quả có thể nhận biết trong thực tiễn quản trị.

Trong định hướng đổi mới mô hình đào tạo của hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, mô hình “Giảng viên – học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới” được xác định theo hướng chuyển từ “học để biết” sang “học để làm”, lấy tình huống thực tiễn làm phương thức quan trọng, gắn với chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và đổi mới kiểm tra, đánh giá theo năng lực vận dụng (Đoàn Minh Huấn, 2026). Điểm cốt lõi không phải tăng thời lượng thảo luận hay sử dụng thêm công nghệ, mà là tái cấu trúc quá trình học tập để kinh nghiệm thực tiễn của người học được đặt trong đối thoại với lý luận, dữ liệu và yêu cầu của công việc, nghề nghiệp; qua đó hình thành tri thức mới có khả năng dẫn dắt hành động.

Để đồng kiến tạo thực sự trở thành một thành tố của chất lượng đào tạo, cần thể chế hóa mô hình trong chương trình, tổ chức dạy học và đánh giá theo chuẩn mực quy chế đào tạo mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chuẩn đầu ra phải được diễn đạt dưới dạng năng lực có thể quan sát; hoạt động học tập phải tạo cơ hội để người học vận dụng; đánh giá phải đo được khả năng phân tích, lựa chọn, phản biện và chịu trách nhiệm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026d). Đồng thời, cần có cơ chế ghi nhận lao động học thuật mới của giảng viên, chế độ cho đồng giảng và chuyên gia thực tiễn, cùng hạ tầng lớp học và nền tảng số phù hợp. Nếu chỉ yêu cầu giảng viên “đổi mới phương pháp” mà không đồng thời thay đổi cơ chế, nguồn lực và đánh giá thì đổi mới rất dễ trở nên hình thức, phong trào.

Đồng kiến tạo tri thức cũng cần được đặt trong logic học tập suốt đời. Trong một thế giới mà tri thức và công nghệ thay đổi nhanh, chất lượng đại học không chỉ được đo bằng những gì người học tích lũy tại thời điểm tốt nghiệp mà còn bằng năng lực tự học, cập nhật, thích ứng và tiếp tục phát triển sau khi rời nhà trường. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, yêu cầu này càng có ý nghĩa đặc biệt bởi sứ mạng không chỉ bao gồm đào tạo cấp bằng mà còn gắn với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong suốt hành trình nghề nghiệp. Vì vậy, kiến tạo chất lượng phải đồng thời hướng tới một hệ sinh thái học tập linh hoạt, liên tục – nơi tri thức từ thực tiễn quay trở lại làm giàu chương trình và người học có khả năng nâng cao năng lực công việc.

5. Những yêu cầu chuyển đổi đặt ra từ thực tiễn Học viện Hành chính và Quản trị công

Học viện Hành chính và Quản trị công giữ vị trí đặc thù trong hệ thống giáo dục đại học khi vừa thực hiện nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học và sau đại học, vừa thực hiện công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nghiên cứu khoa học về hành chính, quản lý nhà nước, quản trị công, quản trị phát triển, hợp tác quốc tế và tham gia tư vấn chính sách. Chính vị trí đặc thù đó đặt ra yêu cầu chất lượng cao hơn và thước đo chất lượng cũng phải toàn diện hơn: không chỉ là quy mô người học, số bằng cấp hay số lượng công bố khoa học mà còn là năng lực thực thi công vụ của người học, chất lượng luận cứ chính sách, khả năng hỗ trợ cải cách và giá trị công được tạo ra cho hệ thống chính trị, nền hành chính và xã hội.

Trong bối cảnh phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và trách nhiệm xã hội trở thành yêu cầu xuyên suốt của quản trị quốc gia, sứ mạng đó đòi hỏi chương trình đào tạo của Học viện không chỉ trang bị kiến thức hành chính, pháp lý và kỹ năng quản lý, mà còn phải hình thành tư duy hệ thống, năng lực phân tích tác động chính sách, điều phối liên ngành, tham vấn các bên liên quan và trách nhiệm giải trình trước xã hội. Với một cơ sở đào tạo nhân lực khu vực công, đây không đơn thuần là câu chuyện cập nhật nội dung học thuật mà còn là trách nhiệm chính sách, chất lượng của người học hôm nay có thể trở thành chất lượng của những quyết định công ngày mai.

Trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển đổi số tại Học viện đã từng bước được nâng tầm ở cấp độ lãnh đạo và tổ chức thực thi. Giai đoạn tiếp theo cần chuyển mạnh hơn từ số hóa công cụ sang hình thành hệ sinh thái dữ liệu chất lượng: dữ liệu đào tạo, khảo thí, phản hồi người học, nghiên cứu, đội ngũ và các điều kiện bảo đảm phải được chuẩn hóa, liên thông và đưa vào các điểm ra quyết định. Mục tiêu cốt lõi không phải là có thêm nhiều phần mềm hay kho minh chứng số mà là rút ngắn khoảng cách từ dữ liệu đến quyết định, từ quyết định đến cải tiến và từ cải tiến đến giá trị được kiểm chứng. Trên nền tảng đó, AI có thể hỗ trợ phân tích, phát hiện xu hướng và cảnh báo sớm, nhưng phán đoán chuyên môn và trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về con người.

Một biểu hiện cụ thể của yêu cầu chuyển từ bảo đảm chất lượng sang quản trị chất lượng là đổi mới khảo thí và đánh giá người học theo hướng thực chất. Khảo thí không chỉ là khâu tổ chức thi và xác nhận kết quả học tập, mà phải trở thành một nguồn dữ liệu cốt lõi của quản trị chất lượng. Chất lượng ngân hàng câu hỏi, mức độ gắn kết giữa công cụ đánh giá với chuẩn đầu ra, khả năng đo lường năng lực vận dụng, phân tích và giải quyết vấn đề, cùng việc khai thác dữ liệu kết quả để điều chỉnh hoạt động dạy – học phải được xem xét trong một chỉnh thể thống nhất. Khi dữ liệu khảo thí được sử dụng để nhận diện khoảng trống năng lực, cảnh báo sớm, đối sánh và cải tiến chương trình, đánh giá người học mới thực sự trở thành một mắt xích của hệ thống bảo đảm chất lượng và quản trị dựa trên bằng chứng.

6. Một số định hướng trọng tâm để kiến tạo chất lượng giáo dục đại học

Từ tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, kiến tạo chất lượng giáo dục đại học cần được tiếp cận như một quá trình đồng bộ, trong đó mỗi định hướng phải trả lời rõ một câu hỏi: quản trị tạo điều kiện gì cho chất lượng; đội ngũ tạo ra năng lực gì; quá trình học tập thay đổi ra sao; dữ liệu được sử dụng thế nào; và kết quả cuối cùng tạo ra giá trị gì cho người học, tổ chức và xã hội.

Để các định hướng này không dừng ở chủ trương, mỗi nhiệm vụ chất lượng cần được gắn với chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn dữ liệu theo dõi, điểm ra quyết định và bằng chứng về kết quả cải tiến. Theo đó, hệ thống bảo đảm chất lượng phải giúp Học viện thường xuyên trả lời được 4 câu hỏi: (1) Chúng ta cam kết tạo ra chất lượng gì? (2) Bằng chứng nào cho thấy cam kết đó đang được thực hiện? (3) Khoảng cách chất lượng nằm ở đâu và (4) Quyết định nào cần được đưa ra để cải tiến?. Đây là cách để chất lượng đi vào quản trị thường xuyên, thay vì chỉ được quan tâm theo từng đợt kiểm định. Trên cơ sở đó, cần tập trung vào sáu định hướng trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy và thể chế quản trị theo hướng lấy sứ mạng, chất lượng và hiệu quả làm trung tâm. Mỗi cơ sở giáo dục cần xác định rõ mình tạo ra giá trị gì, cho ai, bằng năng lực cốt lõi nào và với thước đo nào; từ đó tổ chức chiến lược, bộ máy, chương trình, đội ngũ và nguồn lực theo cùng một logic. Thể chế nội bộ phải vừa tạo không gian cho sáng tạo và quyền chủ động chuyên môn, vừa xác lập rõ trách nhiệm của người đứng đầu, cơ chế kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro. Chất lượng phải trở thành tiêu chí xuyên suốt trong mọi quyết định quản trị, chứ không chỉ là yêu cầu của kiểm định hay nhiệm vụ của một bộ phận chuyên trách.

Hai là, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và hoàn thiện cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Cần tái thiết kế quy trình vận hành theo hướng giảm tầng nấc trung gian và thủ tục hành chính hình thức, chuyển mạnh sang phân cấp, phân quyền gắn liền với phân bổ nguồn lực, kiểm soát quyền lực và đánh giá kết quả. Tự chủ phải được thực thi toàn diện từ tổ chức nhân sự, học thuật đến tài chính (Quốc hội, 2025), nhưng giá trị của tự chủ chỉ được khẳng định khi cơ sở giáo dục chứng minh được chất lượng quyết định, hiệu quả sử dụng nguồn lực và trách nhiệm đối với người học, xã hội và các bên liên quan.

Ba là, tập trung phát triển đội ngũ và cộng đồng học thuật, coi nhân lực là điều kiện quyết định của chất lượng. Cần nâng chuẩn tuyển dụng, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp, thu hút chuyên gia, mở rộng hợp tác quốc tế và giảm những gánh nặng hành chính không cần thiết đối với giảng viên. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, ưu tiên hàng đầu là phát triển giảng viên trình độ cao trong các lĩnh vực cốt lõi, nâng cao năng lực nghiên cứu và tư vấn chính sách, đồng thời xây dựng mạng lưới chuyên gia thực tiễn tham gia giảng dạy, nghiên cứu và phản biện theo các chuẩn nghề nghiệp giảng viên mới (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Quan trọng hơn, phát triển đội ngũ phải hướng tới năng lực tạo tri thức, dẫn dắt học thuật và giải quyết các bài toán thực tiễn.

Bốn là, đưa đồng kiến tạo tri thức trở thành một phương thức tổ chức đào tạo có hệ thống, đồng thời phát triển năng lực học tập suốt đời của người học (Đoàn Minh Huấn, 2026). Cần xây dựng ngân hàng tình huống gắn với chuẩn năng lực, phát triển bài giảng mẫu, tổ chức đồng giảng, huy động chuyên gia thực tiễn, sử dụng hồ sơ học tập điện tử và đổi mới kiểm tra, đánh giá theo năng lực vận dụng. Trọng tâm không phải là tăng thêm hình thức tương tác, mà là tạo ra bằng chứng về sự tiến bộ của người học, khả năng chuyển tri thức thành hành động và năng lực tiếp tục tự học, tự cập nhật sau khi kết thúc chương trình. Theo đó, kiểm tra, đánh giá phải chuyển từ kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức sang đo lường mức độ đạt chuẩn đầu ra, năng lực vận dụng và sự tiến bộ; kết quả đánh giá phải được phản hồi trở lại để cải tiến hoạt động dạy – học và chương trình đào tạo.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng phục vụ quản trị và học tập, đồng thời xây dựng năng lực quản trị dựa trên dữ liệu. Cần hình thành kiến trúc dữ liệu thống nhất, liên thông các hoạt động cốt lõi, phát triển năng lực phân tích dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Quản trị dữ liệu phải đi trước việc mở rộng công cụ: mỗi dữ liệu cốt lõi cần có định nghĩa thống nhất, nguồn chuẩn, chủ sở hữu và điểm sử dụng rõ ràng. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, mục tiêu không chỉ là có thêm công cụ số mà là từng bước xây dựng Học viện thông minh, trong đó dữ liệu đi vào các điểm ra quyết định, công nghệ hỗ trợ phân tích, con người chịu trách nhiệm về quyết định và kết quả được phản hồi trở lại quá trình cải tiến.

Sáu là, gắn chặt đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, hội nhập và thực tiễn để tạo ra giá trị (Chính phủ, 2026). Các cơ quan nhà nước, địa phương, tổ chức xã hội và doanh nghiệp cần được kết nối như những chủ thể cung cấp vấn đề, dữ liệu và không gian thực nghiệm; cơ sở giáo dục tổ chức nghiên cứu, giảng dạy và phát triển giải pháp; người học tham gia như một chủ thể học thuật; kết quả được chuyển giao trở lại phục vụ thực tiễn. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, cần từng bước hình thành hệ sinh thái tri thức quản trị công, quản trị phát triển, nơi đề tài, dữ liệu, tình huống, báo cáo chính sách và chương trình đào tạo được kết nối liên thông. Thước đo cuối cùng không nằm ở khối lượng hoạt động, mà là giá trị gia tăng đối với người học, mức độ sử dụng sản phẩm tri thức và tác động thực tế đối với quản trị và phát triển.

7. Kết luận

Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển mới đối với giáo dục đại học Việt Nam, theo đó chất lượng không thể chỉ được nhìn như kết quả của việc đáp ứng tiêu chuẩn mà phải được nhìn như năng lực phát triển của cả hệ thống và của từng cơ sở giáo dục. Chiều sâu của đột phá vì vậy nằm ở khả năng chuyển các yêu cầu về tự chủ, quản trị, dữ liệu, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển người học thành năng lực tổ chức thực hiện và kết quả có thể kiểm chứng.

Kiến tạo chất lượng giáo dục đại học không phải là một chiến dịch ngắn hạn, càng không phải là việc bổ sung thêm thủ tục hay cơ chế kiểm soát mang tính hình thức. Đó là năng lực của tổ chức trong việc xác lập đúng sứ mạng, hoàn thiện thể chế, phát triển đội ngũ, thiết kế chương trình, sử dụng dữ liệu, tự phát hiện và khắc phục hạn chế, đồng thời tổ chức một môi trường học thuật có khả năng tạo ra tri thức và giá trị mới. Trong cấu trúc đó, đổi mới quản trị là điều kiện nền tảng; đồng kiến tạo tri thức là phương thức làm sâu sắc quá trình đào tạo; còn chất lượng được kiểm chứng bằng sự tiến bộ của người học, năng lực đổi mới và giá trị mà cơ sở giáo dục tạo ra cho xã hội.

Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, yêu cầu đó gắn trực tiếp với sứ mạng của một cơ sở giáo dục chuyên ngành thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Chất lượng không chỉ được thể hiện ở quy mô đào tạo, chương trình hay công bố khoa học, mà còn ở khả năng phát triển năng lực thực thi, cung cấp luận cứ khoa học, hỗ trợ cải cách và tạo ra giá trị công. Những nền tảng đã hình thành về đào tạo, nghiên cứu, khảo thí, học liệu số, chuyển đổi số và liêm chính học thuật là điều kiện quan trọng; đồng thời, các vấn đề về đội ngũ trình độ cao, liên thông dữ liệu và đo lường tác động cần tiếp tục được giải quyết bằng tư duy quản trị và cải tiến có hệ thống.

Với một cơ sở giáo dục chuyên ngành về hành chính và quản trị công, thước đo cuối cùng của chất lượng phải vượt ra ngoài khuôn viên nhà trường, người học có giải quyết vấn đề công tốt hơn hay không; cơ quan, tổ chức có vận hành hiệu lực, minh bạch và phục vụ tốt hơn hay không; sản phẩm nghiên cứu có được sử dụng hay không; tri thức hình thành trong quá trình đào tạo có được chuyển hóa thành năng lực hành động hiệu quả hay không. Chính ở điểm này, đồng kiến tạo tri thức tạo ra một hướng đi có ý nghĩa để gắn lý luận với thực tiễn, học tập với nghiên cứu, nghiên cứu với chính sách và tri thức với năng lực thực thi.

Ở bình diện văn hóa tổ chức, điều quan trọng không phải là che giấu khoảng cách chất lượng, mà là hình thành năng lực nhìn đúng vấn đề, sử dụng đúng dữ liệu, xác định đúng trách nhiệm và quyết tâm cải tiến. Một tổ chức có văn hóa chất lượng là tổ chức nhận diện được hạn chế để thay đổi, biết biến phản hồi thành hành động và coi cải tiến là công việc thường xuyên của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân.

Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, chất lượng phải trở thành cách tư duy, phương thức hành động và trách nhiệm hằng ngày của toàn hệ thống Học viện; mỗi đơn vị, mỗi giảng viên, viên chức và người học đều là một chủ thể tạo ra chất lượng. Khi đó, tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW mới thực sự được chuyển hóa từ chủ trương thành năng lực phát triển của Học viện và thành những giá trị cụ thể đóng góp cho nền hành chính, hệ thống chính trị và xã hội./.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2024a). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a). Thông tư số 17/2026/TT-BGDĐT ngày 27/3/2026 quy định tiêu chuẩn người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026b). Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT ngày 09/4/2026 quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026c). Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT ngày 30/6/2026 quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026d). Thông tư số 56/2026/TT-BGDĐT ngày 07/7/2026 ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026e). Thông tư số 58/2026/TT-BGDĐT ngày 07/7/2026 hướng dẫn về quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026f). Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT ngày 17/7/2026 quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Chính phủ (2026). Nghị định số 125/2026/NĐ-CP ngày 06/4/2026 quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học.
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
Thủ tướng Chính phủ (2026a). Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Thủ tướng Chính phủ (2026b). Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Đoàn Minh Huấn (2026). Mô hình giảng viên – học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới: Tiếp cận hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tạp chí Quản lý nhà nước, 360(1), 4-10. DOI: https://doi.org/10.59394/qlnn.360.2026.1395
Hoàng Ngọc Hiển & Hà Thị Thu Phương (27/8/2026). Nghiên cứu các mô hình quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận quản lý chất lượng toàn diện. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/27/nghien-cuu-cac-mo-hinh-quan-ly-chat-luong-dao-tao-dai-hoc-theo-tiep-can-quan-ly-chat-luong-toan-dien/
Phú Thị Tuyết Nga (16/6/2026). Năng lực thể chế trong thực thi tự chủ đại học ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/16/nang-luc-the-che-trong-thuc-thi-tu-chu-dai-hoc-o-viet-nam/