ThS. Hà Thị Thúy
Học viện Phụ nữ Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không chỉ là tổ chức chính trị – xã hội đại diện cho quyền lợi hợp pháp, chính đáng của phụ nữ mà còn là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị. Với vai trò tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện chính sách, Hội đã thể hiện rõ uy tín, năng lực và trách nhiệm trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy bình đẳng giới. Bài viết phân tích vị thế và uy tín của Hội trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước hiện nay qua các nội dung: vai trò chính trị; năng lực tham mưu, đề xuất chính sách; giám sát và phản biện xã hội; thúc đẩy bình đẳng giới.
Từ khóa: Vị thế; uy tín; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; hệ thống chính trị; quản lý nhà nước.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính đại diện, tính phản biện và tính giám sát từ Nhân dân đối với hệ thống quyền lực nhà nước. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với đặc thù là tổ chức đại diện cho giới nữ không chỉ tham gia truyền tải chủ trương, chính sách mà ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò chủ động trong hoạch định và thực thi chính sách công, đặc biệt ở những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phụ nữ, gia đình và bình đẳng giới.
Từ một tổ chức chủ yếu mang tính phong trào, Hội đã từng bước khẳng định vai trò là chủ thể có năng lực chính trị, có ảnh hưởng chính sách và có khả năng tạo ra chuyển biến thực chất ở cơ sở. Trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu về nâng cao chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị công và thúc đẩy phát triển bao trùm ngày càng rõ nét, việc đánh giá toàn diện vị thế, uy tín và năng lực của Hội trong hệ thống chính trị là cần thiết để xác định định hướng đổi mới phù hợp.
2. Thực trạng vị thế, uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước
Thứ nhất, vai trò chính trị. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội đại diện hợp pháp cho các tầng lớp phụ nữ, hoạt động dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Ngay từ khi thành lập, Hội đã được xác định là lực lượng nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò chính trị của Hội không chỉ được khẳng định về mặt pháp lý mà còn được thể chế hóa và củng cố trong thực tiễn qua các kỳ đại hội và qua các văn kiện của Đảng.
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã khẳng định: “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức đại diện cho lợi ích của phụ nữ, là trung tâm tập hợp, đoàn kết phụ nữ Việt Nam, hướng dẫn và vận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ, vì sự phát triển và hạnh phúc của phụ nữ”. Tiếp đó, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ hơn vai trò của Hội là tổ chức nòng cốt trong công tác phụ nữ, có trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và thực hiện bình đẳng giới.
Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (khóa XII) lần đầu tiên khẳng định rõ: “Hội là tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện để Hội tham gia sâu rộng vào các cơ chế quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, với tư cách là một thiết chế chính trị có vị thế.
Trên thực tế, Hội được phân công tham gia chính thức vào nhiều ban chỉ đạo, hội đồng và tổ công tác liên ngành các cấp. Cụ thể, Hội hiện là thành viên thường trực của các cơ quan, như: Ban Chỉ đạo Quốc gia về bình đẳng giới, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ban Chỉ đạo phòng, chống mua bán người, Hội đồng Tư vấn dân tộc – trẻ em cùng nhiều tổ công tác về giáo dục, y tế, an sinh xã hội và phòng, chống bạo lực gia đình. Báo cáo giữa nhiệm kỳ 2022 – 2027 cho thấy, các cấp hội đang tham gia hơn 17.000 ban chỉ đạo, hội đồng và tổ công tác tại trung ương và địa phương1.
Ngoài ra, Hội đã chủ động thực hiện các hoạt động phản biện chính sách. Các hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo Hội với cấp ủy, chính quyền các cấp đã trở thành một kênh phản ánh nguyện vọng phụ nữ có hiệu quả, với hàng nghìn lượt góp ý vào các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực, như: lao động nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số, vùng khó khăn.
Từ một tổ chức vận động có tính chất phong trào, Hội đã vươn lên trở thành lực lượng chính trị được thể chế hóa, có quyền, có trách nhiệm và có ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách công. Vai trò chính trị của Hội không chỉ dừng lại ở việc truyền tải chính sách từ trên xuống, mà ngày càng thể hiện rõ tính chủ động, sáng tạo và phản biện trong kiến tạo chính sách từ thực tiễn cơ sở. Đây là minh chứng sống động cho quan điểm nhất quán của Đảng về việc coi phụ nữ là lực lượng chính trị – xã hội quan trọng và Hội là tổ chức đại diện tiêu biểu cho lực lượng đó trong hệ thống chính trị quốc gia.
Thứ hai, năng lực tham mưu, đề xuất chính sách. Trong quá trình phát triển, đặc biệt từ sau đổi mới đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã không ngừng nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất chính sách. Từ một tổ chức mang tính vận động và tuyên truyền chủ trương của Đảng, Hội đã từng bước khẳng định vai trò là một chủ thể chính sách, có năng lực nghiên cứu, xây dựng và phản biện chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em, gia đình và bình đẳng giới.
Hội đã chủ động tham gia và có đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng và sửa đổi các luật, nghị định quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền lợi phụ nữ. Tiêu biểu có thể kể đến: Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và Gia đình, Đề án 939 hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp…
Theo số liệu từ báo cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025) cho thấy, 43 tỉnh, thành phố đã đề xuất thành công 82 đề án, dự án và chính sách trong nửa đầu nhiệm kỳ, tập trung vào các lĩnh vực: hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, sinh kế bền vững, giảm nghèo đa chiều, chăm sóc sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo. Điều này cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ về chất trong chức năng của Hội – từ một tổ chức vận động đơn tuyến thành một thiết chế kiến tạo chính sách đa chiều, có năng lực tư duy chiến lược và thực tiễn triển khai. Đây cũng là bước phát triển phù hợp với xu thế “hành chính nhà nước hiện đại” và các yêu cầu quốc tế về thúc đẩy công bằng, bình đẳng và phát triển bao trùm.
Một minh chứng điển hình là việc Hội được chính thức giao chủ trì Dự án 8 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (giai đoạn 2021 – 2030). Đây là lần đầu tiên một tổ chức chính trị – xã hội chủ trì triển khai dự án cấp quốc gia về chính sách xã hội đặc thù. Dự án 8 tập trung nâng cao quyền năng kinh tế, thúc đẩy sự tham gia xã hội và tăng cường an sinh cho phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu số.
Từ góc nhìn đánh giá, kết quả khảo sát năm 2025 trên 303 cán bộ và chuyên gia cho thấy, điểm trung bình đánh giá về năng lực tham mưu chính sách của Hội đạt 4,32/5 điểm, trong đó nhóm chuyên gia và lãnh đạo cấp cao cho điểm trung bình cao nhất (4,33), tiếp đến là cán bộ hội các cấp (4,32) và cán bộ cấp huyện/xã (4,31)2. Sự đồng thuận cao và nhất quán giữa các nhóm cho thấy, năng lực tham mưu chính sách không chỉ được nhìn nhận trong nội bộ mà còn được khẳng định từ các thiết chế phối hợp và hoạch định chính sách bên ngoài hệ thống Hội.
Có thể nói, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa vai trò là một chủ thể chính trị – xã hội có năng lực kiến tạo và phản biện chính sách độc lập, đặc biệt trong lĩnh vực giới – một trụ cột quan trọng trong phát triển bền vững và hiện đại hóa thể chế quốc gia.
Thứ ba, vai trò giám sát và phản biện xã hội. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một trong những tổ chức chính trị – xã hội đi đầu trong thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Khác với giai đoạn trước khi Hội chủ yếu tập trung vận động, hiện nay hoạt động giám sát và phản biện của Hội đã được thể chế hóa, triển khai đồng bộ, sâu rộng và đạt được nhiều kết quả thực chất.
Theo Báo cáo giữa nhiệm kỳ, chỉ trong hơn hai năm đầu nhiệm kỳ, Trung ương Hội đã chủ trì giám sát 9 nội dung tại 8 tỉnh, thành phố; cấp tỉnh giám sát 232 nội dung; cấp huyện thực hiện 1.841 cuộc và cấp xã triển khai tới 18.488 cuộc giám sát ít nhất một nội dung liên quan đến chính sách phụ nữ, bình đẳng giới, an sinh xã hội và phòng chống bạo lực3. Các nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề thiết thực, như: chính sách lao động nữ, bảo hiểm xã hội, bình đẳng giới trong tuyển dụng, hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số, thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại vùng khó khăn.
Song song với hoạt động giám sát, Hội tích cực tham gia phản biện xã hội. Từ năm 2022 – 2024, Hội đã góp ý 98 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 4 dự thảo luật được phản biện độc lập, bao gồm các luật: Luật Bình đẳng giới (sửa đổi), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi), Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi). Điểm nổi bật là Hội đã triển khai nhiều mô hình giám sát sáng tạo, như: “Phiên tòa giả định” về phòng chống xâm hại phụ nữ – trẻ em (triển khai tại 12 tỉnh, thu hút gần 10.000 người tham gia); Câu lạc bộ pháp luật cộng đồng; Tổ truyền thông pháp luật tại thôn, bản, tổ dân phố, với sự tham gia của trưởng thôn, già làng, người có uy tín4.
Ngoài ra, hoạt động đối thoại chính sách cũng được tổ chức rộng khắp. Hội các cấp đã tổ chức hơn 8.900 cuộc đối thoại với lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đặc biệt tại cấp xã và cụm dân cư. Đây là kênh hiệu quả để tiếp nhận ý kiến từ cơ sở, chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có căn cứ và giàu thực tiễn.
Kết quả khảo sát năm 2025 cho thấy, điểm trung bình đánh giá vai trò giám sát, phản biện xã hội của Hội đạt điểm khá cao 4,32/5 điểm, trong đó cán bộ cấp trung ương, cấp tỉnh đánh giá cao nhất (4,43 điểm), tiếp đến là chuyên gia bên ngoài (4,32), cán bộ cấp huyện, cấp xã (4,29)5.
Có thể khẳng định, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không chỉ là đơn vị đồng hành trong thực thi chính sách mà còn là tác nhân giám sát độc lập, có chuyên môn, có tiếng nói và có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ và thúc đẩy chính sách bình đẳng giới một cách thực chất và bền vững.
Thứ tư, vai trò thúc đẩy bình đẳng giới. Trong bối cảnh bình đẳng giới được xác định là một trong những trụ cột phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hiệp quốc, Việt Nam là một trong những quốc gia cam kết mạnh mẽ và sớm đưa nguyên tắc này vào luật pháp và chiến lược quốc gia. Đáng chú ý, Hội đã và đang đóng vai trò tiên phong, không chỉ trong vận động chính sách mà còn trong thực thi, giám sát và chuyển hóa bình đẳng giới thành hành động cụ thể tại cộng đồng.
Theo số liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2024) về kết quả thực hiện bình đẳng giới năm 2023, toàn hệ thống Hội đã tổ chức được hơn 16.000 hoạt động tuyên truyền, trực tiếp tiếp cận 1,42 triệu lượt người, sản xuất gần 532.000 sản phẩm truyền thông, nhiều sản phẩm được địa phương triển khai nhân rộng như phim ngắn, bộ ảnh “Bình đẳng trong gia đình” hay các video hoạt hình chống định kiến6.
Đặc biệt, Hội là đơn vị chủ trì Tháng hành động vì Bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới toàn quốc. Hoạt động này không chỉ mang tính tuyên truyền mà còn thúc đẩy chính quyền địa phương, trường học, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp cùng tham gia cam kết thúc đẩy bình đẳng giới ở nơi làm việc, trong gia đình và ngoài xã hội. Hội đã thiết lập và duy trì 7.623 tổ truyền thông cộng đồng tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực khó khăn và được Cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) đánh giá cao về hiệu quả tiếp cận người dân. Các tổ này bao gồm cán bộ Hội, trưởng thôn, người có uy tín, cán bộ công an, y tế… cùng tổ chức các buổi sinh hoạt về giới, phòng chống bạo lực, quyền tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ – trẻ em7. Các tổ truyền thông này đã tổ chức được hơn 49.000 buổi sinh hoạt, tiếp cận gần 1,6 triệu lượt người dân, góp phần làm thay đổi nhận thức về phân vai giới, định kiến giới và nâng cao khả năng phản kháng bạo lực cho phụ nữ nông thôn.
Ngoài việc hỗ trợ phụ nữ nói chung, Hội đặc biệt chú trọng phụ nữ khuyết tật, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ đơn thân và phụ nữ di cư lao động. Các chương trình được triển khai bao gồm: Dự án “An toàn cho phụ nữ và trẻ em gái” tại các khu công nghiệp, khu nhà trọ do phụ nữ quản lý; Gói hỗ trợ phụ nữ khuyết tật tiếp cận công nghệ số và tự lập kinh tế phối hợp với các tổ chức quốc tế; tổ chức hơn 3.200 lớp tập huấn kỹ năng bảo vệ quyền lợi phụ nữ yếu thế cho cán bộ Hội cơ sở, công an xã và tổ trưởng tổ dân phố8.
Kết quả khảo sát năm 2025 từ 303 người gồm cán bộ Hội các cấp và chuyên gia trong, ngoài Hội cho thấy, đánh giá trung bình vai trò của Hội trong thúc đẩy bình đẳng giới đạt 4,49/5 điểm, trong đó cán bộ Trung ương Hội cho điểm trung bình 4,54; cán bộ huyện/xã là 4,43 và các chuyên gia, lãnh đạo ngoài Hội là 4,53. Sự đồng thuận cao từ cả bên trong và ngoài hệ thống cho thấy, bình đẳng giới không chỉ là cam kết mà đã được Hội chuyển hóa thành một “năng lực xã hội” có tổ chức – một lực đẩy để thay đổi cấu trúc bất bình đẳng đang tồn tại trong gia đình, công sở và cộng đồng.
Bảng 1. Vai trò giám sát, phản biện xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
TT | Nội dung đánh giá | Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ cấp trung ương /tỉnh (SL 63) | Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ cấp huyện/quận, xã/phường/thị trấn (SL162) | Cán bộ Hội các cấp (SL225) | Chuyên gia, lãnh đạo đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cấp trung ương, tỉnh(78) | Chung(SL303) |
1 | Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được uy tín, vị thế trong tham gia quản lý nhà nước, phản biện xã hội, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới | 4.43 | 4.29 | 4.33 | 4.32 | 4.32 |
2 | Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được uy tín, hiệu quả trong việc tham mưu đề xuất chính sách | 4.32 | 4.31 | 4.32 | 4.33 | 4.32 |
3 | Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được vai trò tiên phong trong thúc đẩy bình đẳng giới | 4.54 | 4.43 | 4.46 | 4.53 | 4.49 |
3. Đề xuất, khuyến nghị
Để tiếp tục khẳng định vị thế và nâng cao uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước, trước yêu cầu đổi mới thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bao trùm, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần thể chế hóa rõ hơn vai trò của Hội trong hệ thống chính trị và hệ thống pháp luật quốc gia. Cụ thể, cần đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để khẳng định rõ địa vị pháp lý, chức năng đại diện và quyền tham gia xây dựng chính sách của Hội ở cả cấp trung ương và địa phương. Vai trò của Hội cũng cần được lồng ghép sâu rộng hơn vào các chiến lược, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là những lĩnh vực liên quan đến phụ nữ, gia đình, lao động và an sinh xã hội.
Thứ hai, cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực chính sách của đội ngũ cán bộ Hội. Việc tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích, phản biện và truyền thông chính sách cần được thực hiện thường xuyên, có hệ thống. Bên cạnh đó, cần hình thành các nhóm chuyên gia nòng cốt có khả năng xây dựng chính sách độc lập dựa trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng khoa học, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu của Hội trong các lĩnh vực then chốt.
Thứ ba, phương thức giám sát và phản biện xã hội cần được đổi mới theo hướng chuyên sâu, thực chất và có tính kiến tạo. Hội cần mở rộng hợp tác với các cơ quan của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức quốc tế và viện nghiên cứu để xây dựng bộ công cụ giám sát có cơ sở pháp lý và tiêu chí rõ ràng. Đồng thời, các mô hình giám sát sáng tạo, như: phiên tòa giả định, câu lạc bộ pháp luật cộng đồng hay tổ truyền thông pháp luật thôn, bản cần được nhân rộng để tăng cường tính lan tỏa, tạo sự tham gia chủ động từ cộng đồng cơ sở.
Thứ tư, Hội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong thúc đẩy bình đẳng giới một cách thực chất. Bên cạnh các hoạt động truyền thông và vận động chính sách, cần đề xuất thêm các chương trình hỗ trợ cụ thể cho phụ nữ yếu thế như phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ di cư, phụ nữ đơn thân. Những chính sách này nên tập trung vào việc tăng cường khả năng tiếp cận nguồn lực kinh tế, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và kỹ năng số, qua đó, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong thực tiễn.
Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động của Hội cần được đẩy mạnh. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về hội viên, các vấn đề giới và tình hình phụ nữ theo địa phương sẽ giúp Hội chủ động hơn trong việc nắm bắt thực tiễn, đề xuất chính sách và thực hiện giám sát hiệu quả. Đồng thời, ứng dụng công nghệ trong đào tạo cán bộ, tổ chức đối thoại chính sách và khảo sát dư luận cũng góp phần tăng tính linh hoạt, minh bạch và tiết kiệm nguồn lực.
Thứ sáu, việc mở rộng hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực cần được xem là một định hướng ưu tiên. Hội nên chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế, các mạng lưới phụ nữ trong khu vực và toàn cầu để chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi mô hình hiệu quả và tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ các chương trình trọng tâm. Tham gia tích cực vào các diễn đàn quốc tế không chỉ nâng cao hình ảnh và vị thế của Hội, mà còn góp phần thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và bình đẳng giới.
4. Kết luận
Với hành trình hơn 90 năm phát triển, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã và đang khẳng định vị thế là một tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt trong hệ thống chính trị nước ta. Trên cả bốn phương diện then chốt, Hội không chỉ đảm nhiệm vai trò truyền tải chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn là chủ thể chính sách có ảnh hưởng, có tiếng nói và có năng lực thực thi độc lập. Các minh chứng từ thực tiễn triển khai tại trung ương và địa phương cho thấy, Hội đã trở thành một thiết chế chính trị có chiều sâu, góp phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển xã hội bao trùm, công bằng, bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ động, trách nhiệm và sáng tạo của Hội càng trở nên cấp thiết.
Chú thích:
1, 3, 7. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2024). Báo cáo giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII phụ nữ Việt Nam (2022 – 2027).
2, 4, 5. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025). Báo cáo tổng kết nội dung, phương thức hoạt động của Hội trong 40 năm đổi mới 1986 – 2025.
6, 8. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2024). Báo cáo số 332/BC-ĐCT ngày 01/3/2024 về kết quả thực hiện bình đẳng giới năm 2023.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 về công tác phụ nữ trong tình hình mới.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Ban Dân vận Trung ương (2024). Tham luận tổng kết công tác vận động phụ nữ giai đoạn 2017 – 2022 (bản nội bộ).
4. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2012). Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (khóa XII).
5. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2024). Báo cáo 530/BĐG tổng hợp các mô hình, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới trong giai đoạn 2022 – 2024.
6. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025). Báo cáo chuyên đề các mô hình sáng tạo trong giám sát, phản biện xã hội và truyền thông về bình đẳng giới.
7. Nguyễn Thị Minh (2022). Đổi mới phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng chính sách công từ cơ sở. Tạp chí Dân vận, số 3/2022.
8. Quốc hội (2006). Luật Bình đẳng giới năm 2006.
9. Quốc hội (2022). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
10. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2222/QĐ-TTg ngày 28/12/2021 về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030.