Nguyễn Xuân Tùng
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội của TP. Hồ Chí Minh. Những năm qua, nguồn vốn này đã góp phần hình thành hệ thống hạ tầng đô thị hiện đại, tạo động lực thu hút đầu tư, tuy nhiên, các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều điểm nghẽn so với yêu cầu đặt ra. Bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản góp phần sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách, nâng cao hiệu lực quản lý và thúc đẩy sự phát triển bền vững của Thành phố.
Từ khóa: Quy định pháp luật; đầu tư xây dựng cơ bản; ngân sách nhà nước; TP. Hồ Chí Minh.
1. Đặt vấn đề
TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử phát triển đô thị Việt Nam. Đây là sự tái cấu hình toàn diện không gian phát triển, nơi 3 cực kinh tế năng động bậc nhất cả nước hội tụ với tầm nhìn mới, là siêu đô thị quốc tế của Đông Nam Á với thế mạnh là những địa phương phát triển hàng đầu trong vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là động lực trực tiếp cho phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh. Với vị thế mới, Thành phố cần có những giải pháp để khắc phục những điểm nghẽn của pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm sử dụng nguồn ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, nâng cao chất lượng và tiến độ công trình; đồng thời, tăng cường tính công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng hiện đại và bền vững của một đô thị đặc biệt.
2. Thực trạng thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh
Những năm qua, TP. Hồ Chí Minh luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về quy mô và giá trị các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước. Nguồn vốn này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực then chốt, như: giao thông vận tải, hạ tầng đô thị, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa – thể thao, chỉnh trang đô thị và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện môi trường sống và thúc đẩy thu hút đầu tư xã hội vào Thành phố.
Bảng 1. Thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2024
Đơn vị: Tỷ đồng
| Năm | Ngân sách trung ương | Ngân sách địa phương | Tổng chi | |||
| Giá trị | % | Giá trị | % | Giá trị | % | |
| 2021 | 2.991,99 | 9,3% | 29.270,996 | 90,7 | 32.262,986 | 100% |
| 2022 | 2.479,640 | 9,1 | 34.886,566 | 91,9 | 37.366,206 | 100% |
| 2023 | 14.996,981 | 22,1 | 53.637,33 | 77,9 | 68.634,311 | 100% |
| 2024 | 3.168,89 | 5,0 | 75.577,216 | 95,0 | 79.263,776 | 100% |
| 2025 | 3.237,492 | 4,8 | 80.911,56 | 95,2 | Đang triển khai | |
Trước thời điểm sáp nhập, chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2021 – 2025, quy mô đầu tư xây dựng cơ bản bằng ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh tăng nhanh liên tục, gấp gần 3 lần, từ 32.262,986 tỷ đồng năm 2021 lên 84.149,052 tỷ đồng năm 2025. Điều này cho thấy, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản ở Thành phố rất lớn và ngày càng có xu hướng tăng.
Năm 2023, vốn thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh tăng lên gần gấp 2 so với năm 2022, một phần là do nhiều dự án trọng điểm như đường Vành đai 3 đã được đẩy nhanh chi phí bồi thường và giải tỏa, giúp tăng tốc giải ngân từ 3% lên khoảng 30%, tương đương giá trị tăng gấp 10 lần. Ngoài ra, Thành phố còn được bổ sung nguồn vốn từ Nghị quyết số 98/2023/QH15 làm tổng nguồn huy động tăng lên mạnh mẽ so với đầu năm; mặt khác, do quyết tâm của chính quyền TP. Hồ Chí Minh nên đã giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách địa phương đạt 42.669 tỷ đồng, xấp xỉ 62% kế hoạch vốn đầu tư công được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố giao1.
Xét về cấp ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh, bảng số liệu trên cho thấy, đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Thành phố tăng nhanh chủ yếu từ nguồn ngân sách địa phương. Về tỷ trọng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương chỉ chiếm dưới 10% riêng, năm 2023 chiếm 22,1% (năm 2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều quyết định giao vốn trung hạn và bổ sung vốn đầu tư công trung ương cho Thành phố, như: Vành đai 3, vốn ODA…). Thành phố là địa phương có quy mô thu ngân sách lớn nhất cả nước (năm 2023 đạt 439.288 tỷ đồng, tương đương gần 1/4 cả nước2, do đó, ngân sách địa phương của Thành phố rất dồi dào, chiếm phần lớn tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn, bao gồm cả chi đầu tư xây dựng cơ bản.
Bảng 2. Kết quả giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại TP. Hồ Chí Minh trong kỳ trung hạn 2021 – 2025
Đơn vị: Tỷ đồng
| Năm | Ngân sách trung ương | Ngân sách địa phương | Tổng số vốn đã giải ngân/Tổng số vốn đã cấp | |||
| Giá trị | % | Giá trị | % | Giá trị | % | |
| 2021 | 1.041,092 | 34,8% | 18.680,065 | 63,82% | 19.721,157 | 61% |
| 2022 | 1.662,503 | 67% | 24.539,764 | 70,3% | 26.202,262 | 70% |
| 2023 | 13.478,908 | 90% | 34.567,344 | 64% | 48.046,252 | 70% |
| 2024 | 3.206,672 | 86,9% | 55.222,218 | 73,06% | 58.428,889 | 73% |
Qua bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại TP. Hồ Chí Minh trong kỳ trung hạn 2021 – 2025 có tăng lên qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Thành phố. Năm 2021, tỷ lệ giải ngân thấp nhất (61%) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Các năm 2022 – 2024, tỷ lệ giải ngân có cải thiện nhưng vẫn chỉ từ 70 – 73%, không đạt mục tiêu đề ra trong kế hoạch. Năm 2024, tỷ lệ giải ngân cao nhất 73% là do kế hoạch vốn được giao sớm ngay từ đầu năm; các sở, ngành, quận, huyện cam kết tiến độ giải ngân từng quý. Các công trình, như: đường Vành đai 3 đã xong giải phóng mặt bằng, chuyển sang giai đoạn thi công; dự án Metro số 1 bắt đầu tăng tốc hoàn thiện; các dự án cải tạo Nhi đồng 1, nút giao An Phú, Kênh Nước Đen, Rạch Xuyên Tâm… bước vào giai đoạn thanh toán khối lượng lớn.
Nguyên nhân của tình trạng giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2021 – 2024 chậm do công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng bị ảnh hưởng bởi Luật Đất đai năm 2024 điều chỉnh thời hạn hiệu lực sớm hơn nên phải điều chỉnh lại theo quy định mới. Do đó, việc thực hiện thủ tục bồi thường giải phóng mặt bằng chậm, giải ngân vốn bồi thường giải phóng mặt bằng dồn vào cuối năm và chưa thể giải ngân vốn bố trí cho công tác thi công dự án.
Bảng 3. Tỷ lệ dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh phải điều chỉnh và chậm tiến độ
| Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | |
| Tỷ lệ phải điều chỉnh | 68% | 57% | 64% | 61% |
| Tỷ lệ chậm tiến độ | 65% | 54% | 51% | 56% |
Tình trạng chậm tiến độ trong triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh diễn ra phổ biến và có tính hệ thống. Việc hàng trăm dự án chậm tiến độ qua từng năm không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực cho phát triển kinh tế – xã hội, quản lý đô thị và đời sống người dân. Đặc biệt, trong các dự án trọng điểm, tỷ lệ chậm tiến độ lên tới hơn 60% (năm 2023, trong 26 dự án trọng điểm được giám sát, có 16 dự án chậm tiến độ), như: dự án nút giao An Phú và cải tạo kênh Tham Lương – Bến Cát liên tục chậm tiến độ3.
3. Những hạn chế, bất cập
Một là, từ thực tiễn của địa phương cho thấy, trong giai đoạn đầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật thay đổi, trong đó có sự xáo trộn về chủ thể quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh; việc chuyển giao nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền địa phương dẫn đến nhiều khó khăn khi thực hiện Luật Đầu tư công năm 2024 và các luật có liên quan vào thực tiễn.
Hai là, mặc dù Luật Đầu tư công năm 2024 đã có những điều chỉnh tích cực so với Luật Đầu tư công năm 2019 quy định rõ hơn về nội dung, trình tự và thẩm quyền lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, quy định tại Điều 27, Điều 33 Luật Đầu tư công năm 2024 vẫn chưa xác định rõ ràng, tách bạch giữa cơ quan lập và cơ quan thẩm định báo cáo, cũng như chưa cụ thể hóa cơ chế ủy quyền cho các Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng trong các trường hợp có khối lượng công việc lớn hoặc yêu cầu kỹ thuật cao. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về chức năng, thiếu khách quan trong quy trình thẩm định; đồng thời, gây ra áp lực lớn cho TP. Hồ Chí Minh khi đang triển khai hàng trăm dự án trọng điểm hạ tầng, giao thông và chỉnh trang đô thị.
Theo khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024, quy định chủ tịch UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho cấp phó hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn quyết định đầu tư đối với dự án nhóm B, nhóm C thuộc cấp tỉnh quản lý, trừ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Luật Đầu tư công năm 2024. Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (nay là Sở Tài chính) là đầu mối chủ yếu trong việc tham mưu, thẩm định và tổng hợp báo cáo chủ trương đầu tư cho hầu hết các dự án nhóm B, C của Thành phố. Báo cáo của các sở, ngành cho thấy, hiện nay các cơ quan này phải xử lý hàng trăm hồ sơ cùng lúc, dẫn tới sự trùng lặp, kéo dài thời gian thẩm định diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố.
Ba là, vẫn còn thiếu đồng bộ giữa các luật có liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước, cụ thể, như: Luật Đất đai năm 2024 quy định tại Điều 158, Điều 160: giá đất trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được xác định sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường nhằm bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi và tính thực tiễn của công tác giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, Luật Đầu tư công năm 2024 khi xác định tổng mức đầu tư và chi phí giải phóng mặt bằng vẫn dựa trên bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành định kỳ 5 năm một lần theo cơ chế cũ của Luật Đất đai năm 2013. Điều này dẫn tới sự “vênh” về giá trị bồi thường, cùng một khu đấ, nhưng giá đất trong hồ sơ dự án lại thấp hơn đáng kể so với giá thị trường được xác định theo Luật Đất đai năm 2024. Hệ quả là nhiều dự án phải thẩm định, điều chỉnh lại tổng mức đầu tư, gây kéo dài thời gian thẩm định chủ trương đầu tư, chậm phê duyệt dự án và đình trệ giải ngân vốn. Thực tế tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy rõ bất cập này trong các dự án lớn, như: Vành đai 3, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài hay mở rộng Quốc lộ 50, chi phí giải phóng mặt bằng cao hơn từ 20 – 30% so với dự toán phê duyệt ban đầu, do vậy, phải điều chỉnh kế hoạch vốn.
Bên cạnh đó, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 vẫn quy định nguyên tắc niên độ ngân sách cứng, tức là các khoản chi đầu tư công phải hoàn tất giải ngân trong cùng năm ngân sách, trừ một số trường hợp đặc biệt do Quốc hội cho phép. Trong khi các thủ tục đầu tư, thẩm định, đấu thầu và bồi thường thường kéo dài nhiều tháng khiến cho số lượng dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Thành phố chậm giải ngân ngày càng tăng.
Bốn là, công tác giải phóng mặt bằng vẫn là “nút thắt” lớn nhất trong giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Mặc dù, Luật Đầu tư công năm 2024 đã cho phép tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, tuy nhiên, quy định này mới dừng lại ở nguyên tắc chung, khi quy định việc tách dự án “được thực hiện trong trường hợp thật sự cần thiết” (Điều 17). Luật không quy định tiêu chí, hướng dẫn cụ thể khiến việc thực thi phụ thuộc vào cách hiểu của từng địa phương, tạo nên khoảng trống thể chế. Ngoài ra, các luật có liên quan đến nội dung này vẫn chưa được điều chỉnh đồng bộ, như: Luật Đấu thầu năm 2023 quy định các gói thầu giải phóng mặt bằng, xây lắp, tư vấn, giám sát đều phải nằm trong phạm vi một dự án đầu tư được phê duyệt. Khi tách giải phóng mặt bằng thành dự án riêng, chưa có quy định hướng dẫn rõ ràng về việc có cần tổ chức đấu thầu riêng cho tư vấn giải phóng mặt bằng không? Nếu đã đấu thầu xong phần giải phóng mặt bằng, sau đó đấu thầu phần xây lắp, có cần thẩm định lại phạm vi đất, mốc giới hay không? Những hạn chế này gây ra khó khăn cho các địa phương khi triển khai vào thực tiễn.
Năm là, về đánh giá năng lực của nhà đầu tư để thực hiện dự án đầu tư: theo quy định tại điểm c và điểm h khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án do nhà đầu tư đề xuất, bao gồm: “tài liệu chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư” và “tài liệu khác liên quan đến dự án đầu tư, yêu cầu về điều kiện, năng lực của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật (nếu có)”. Nội dung thẩm định đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư không quy định nội dung thẩm định, đánh giá điều kiện năng lực của nhà đầu tư để thực hiện dự án (bao gồm: việc đánh giá năng lực tài chính và khả năng huy động vốn của nhà đầu tư). Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định tài liệu chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư trong Hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư. Đồng thời, tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, trong đó, quy định nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ và các văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Ngoài ra, Điều 47, Điều 48 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định nội dung thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn do cơ quan kế hoạch và đầu tư chủ trì cùng với thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan xây dựng đã dẫn tới hai vòng thẩm định.
Sáu là, Luật Đấu thầu năm 2025 và Luật Xây dựng năm 2020 quy định khác nhau về “chủ thể phê duyệt” kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Điều 37 Luật Đấu thầu năm 2023 cho phép chủ đầu tư hoặc bên mời thầu được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu nhằm phân cấp, rút ngắn thủ tục và đẩy nhanh tiến độ dự án. Trong khi đó, khoản 3 Điều 70 Luật Xây dựng năm 2020 lại quy định người quyết định đầu tư mới có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch này, theo hướng kiểm soát chặt chẽ và tiền kiểm. Sự khác biệt này khiến các cơ quan, địa phương lúng túng khi áp dụng, dẫn đến tình trạng hồ sơ đấu thầu phải chỉnh sửa, trả lại nhiều lần, làm chậm tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời, tăng rủi ro pháp lý trong công tác kiểm toán, thanh tra.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chính sách, quy định đồng bộ về đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, bao gồm: các chính sách sử dụng đất đai, phát triển kết cấu hạ tầng, chính sách đầu tư… để thống nhất thực hiện tại các địa phương. Hoàn thiện cơ chế đấu thầu, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và các chỉ tiêu, định mức kinh tế – kỹ thuật theo hướng Nhà nước quản lý định mức kinh tế – kỹ thuật, thị trường quyết định giá cả để phù hợp với thông lệ quốc tế, tiến tới thực hiện giá cả xây dựng theo thị trường.
Thứ hai, rà soát đồng bộ các quy định trong các văn bản pháp luật để thống nhất về thẩm quyền quyết định chủ trương, thẩm định, phê duyệt dự án, tránh trùng lặp hoặc xung đột, cụ thể:
(1) Xóa bỏ bỏ sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư công năm 2024 và Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) về thẩm quyền và trình tự quyết định chủ trương đầu tư. Luật Đầu tư công năm 2024 quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo hướng rút gọn nhóm dự án, tăng quyền cho Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, vẫn yêu cầu báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư có nội dung đánh giá sự phù hợp với quy hoạch xây dựng, sử dụng đất, giao thoa với Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Luật Đất đai năm 2024.
(2) Xóa bỏ sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư công năm 2024 với Luật Quy hoạch năm 2017. Tại Điều 66 Luật Đầu tư công năm 2024 vẫn yêu cầu dự án phải phù hợp quy hoạch cấp quốc gia, vùng, tỉnh và quy hoạch ngành, trong khi Luật Quy hoạch năm 2017 quy định đã tích hợp quy hoạch ngành vào quy hoạch tỉnh. Do đó, cần rà soát điều chỉnh Điều 66 Luật Đầu tư công năm 2024 phù hợp với Luật Quy hoạch năm 2017.
(3) Luật Đất đai năm 2024 yêu cầu phải có quyết định chủ trương mới tiến hành các thủ tục đất đai. Điều này khiến nhiều dự án phải làm “2 vòng thủ tục”. Vì vậy, cần ban hành nghị định liên thông thủ tục giữa các luật, quy định rõ: một bộ hồ sơ thống nhất cho bước quyết định chủ trương đầu tư; một đầu mối thẩm định (có sự phối hợp của các ngành) thay vì thẩm định tách rời. Về lâu dài, cần sửa đổi luật theo hướng: Luật Đầu tư công chỉ quy định nguyên tắc, giao luật chuyên ngành quy định chi tiết kỹ thuật, Luật Xây dựng và Luật Đất đai điều chỉnh thời điểm thẩm định để không yêu cầu “trước – sau” mâu thuẫn.
Cần khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, trong đó, cho phép áp dụng bảng giá đất trong bồi thường và tái định cư; sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 104/2024/NĐ-CP ngày 31/7/2024 của Chính phủ quy định về Quỹ phát triển đất, từ đó các tỉnh có cơ sở triển khai thực hiện, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển; xem xét cho phép thực hiện một số cơ chế đặc thù rút gọn thủ tục đầu tư công trong giai đoạn chuyển tiếp, cho phép chỉ định thầu tư vấn đối với các dự án chuyển tiếp từ cấp huyện.
Thứ ba, hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Rà soát, sửa đổi, bổ sung những tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng không phù hợp với tiến bộ khoa học – kỹ thuật và thông lệ quốc tế. Ban hành hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, làm căn cứ quản lý chi phí đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 134, Điều 135 Luật Xây dựng năm 2020 và Điều 4 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Các định mức chi tiết do Bộ Xây dựng hoặc các bộ quản lý công trình chuyên ngành ban hành chỉ nên mang tính hướng dẫn, tham khảo; khuyến khích chủ đầu tư, nhà thầu tự xây dựng định mức phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của dự án, bảo đảm cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Sớm ban hành nghị định hướng dẫn về cơ chế tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, trong đó quy định rõ: tiêu chí, phạm vi, trình tự và điều kiện được tách dự án; nguyên tắc xác định nguồn vốn và thời hạn giải ngân; cách thức thẩm định, phê duyệt và quyết toán độc lập; cơ chế giám sát hậu kiểm nhằm tránh lãng phí đất và thất thoát ngân sách.
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ cho UBND cấp tỉnh đối với các dự án nhóm B và một số dự án nhóm A có tính chất kỹ thuật đơn giản, ít ảnh hưởng môi trường, phù hợp với quy hoạch và kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt. Việc phân cấp cần kèm theo tiêu chí rõ ràng về quy mô vốn, lĩnh vực, mức độ tác động xã hội môi trường, năng lực quản lý của địa phương; áp dụng cơ chế hậu kiểm và báo cáo định kỳ để bảo đảm tuân thủ pháp luật, tránh lạm dụng hoặc quyết định vượt thẩm quyền. Điều này vừa giảm tải cho Chính phủ, vừa tăng quyền chủ động cho TP. Hồ Chí Minh, nhất là sau khi hợp nhất tỉnh Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố trở thành một siêu đô thị như hiện nay.
Thứ năm, thu hẹp diện dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh đối với các dự án đã được công bố để lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, như: các dự án xây dựng nhà ở, khu đô thị, nhà ở xã hội, dự án thực hiện thủ tục xác định số lượng nhà đầu tư quan tâm theo quy định của pháp luật đấu thầu và pháp luật chuyên ngành như dự án chợ, xây dựng công trình cấp nước, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt… Hiện nay, Luật Đầu tư công năm 2024 và các văn bản liên quan đã trao nhiều thẩm quyền cho chính quyền cấp tỉnh, tạo điều kiện để địa phương chủ động ra quyết định phù hợp với điều kiện đặc thù. Tuy nhiên, cơ chế này dẫn đến việc tập trung phần lớn nguồn lực và quyền quyết định ở cấp tỉnh, hình thành quan hệ “xin – cho”, làm tăng sự phụ thuộc và hạn chế tính chủ động của chính quyền cấp cơ sở. Vì vậy, cần ban hành nguyên tắc chung hoặc bộ tiêu chí phân cấp quản lý đầu tư công thống nhất, áp dụng cho cả phân bổ vốn và tổ chức thực hiện dự án, kể cả vốn hỗ trợ có mục tiêu, bảo đảm giao quyền cụ thể đến từng cấp dựa trên quy mô, tính chất, mức độ rủi ro và năng lực quản lý. Cách tiếp cận này sẽ hạn chế áp dụng tùy tiện giữa các địa phương, tăng minh bạch, giảm phụ thuộc hành chính và nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Thứ sáu, UBND TP. Hồ Chí Minh cần ban hành văn bản phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã được quyền điều chỉnh quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm C trước đây sử dụng nguồn vốn ngân sách quận, huyện hoặc vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách thành phố. Triệt để thực hiện phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “UBND cấp xã quyết, UBND cấp xã làm, UBND cấp xã chịu trách nhiệm”. TP. Hồ Chí Minh có thể học tập kinh nghiệm của một số địa phương về đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền trong đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án nhóm C như thành phố Hà Nội. Việc phân cấp này sẽ giúp rút ngắn thời gian xem xét, phê duyệt, tạo điều kiện cho địa phương chủ động xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án. Đồng thời, để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả, việc ủy quyền cần đi kèm với quy định rõ phạm vi trách nhiệm, cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và chế tài xử lý khi xảy ra vi phạm, qua đó, vừa phát huy tính chủ động của cấp cơ sở, vừa giữ vững vai trò quản lý, điều tiết chung của Thành phố.
Đẩy mạnh chuyển đổi phương thức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ tiền kiểm sang hậu kiểm với 3 nhóm chính: phân cấp thẩm quyền giao điều chỉnh kế hoạch đầu tư công; phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư và phân cấp thẩm quyền kéo dài thời gian giải ngân, gia hạn thời gian bố trí vốn.
4. Kết luận
Hoàn thiện pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu nhằm khắc phục bất cập hiện nay, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn. Một khung pháp luật đồng bộ, minh bạch và khả thi sẽ giúp quản lý chặt chẽ quy trình đầu tư, bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, hạn chế thất thoát, tham nhũng; đồng thời, nâng cao chất lượng, tiến độ các công trình trọng điểm. Đây là bước đi chiến lược để thành phố giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế, hướng tới một đô thị hiện đại, thông minh, phát triển bền vững; đồng thời, tạo hình mẫu quản trị đầu tư công cho cả nước.
Chú thích:
1. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2024). Báo cáo về kết quả phân bổ và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2024 và các giải pháp cụ thể đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025.
2, 3. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Báo cáo về kết quả phân bổ và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2023 và các giải pháp cụ thể đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2024.
4. Kiểm toán Nhà nước khu vực IV (2024). Báo cáo kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh năm 2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Minh Khôi (2021). Nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 4/2021.
2. Quốc hội (2019, 2024). Luật Đầu tư công năm 2019, 2024.
3. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
4. Quốc hội (2025). Luật Đấu thầu năm 2025.
5. Quốc hội (2025). Luật Ngân sách nhà nước năm 2025.
6. Quốc hội (2014, 2020). Luật Xây dựng năm 2014, 2020.
7. Đầu tư công còn dàn trải, nhiều dự án không hiệu quả. https://nhandan.vn/dau-tu-cong-con-dan-trai-nhieu-du-an-khong-hieu-qua-post339409.html



