Lưu Thị Quyên
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước – Bộ Công Thương
(Quanlynhanuoc.vn) – Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được Bộ Chính trị phát động từ năm 2009 nhằm khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường và xây dựng văn hóa tiêu dùng hàng Việt trong nhân dân. Chủ trương này được thể hiện trong Thông báo Kết luận số 264-TB/TW ngày 31/7/2009 của Bộ Chính trị với mục tiêu thúc đẩy sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng hàng hóa và tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Để tiếp tục triển khai hiệu quả cuộc vận động trong tình hình mới, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 19/5/2021, nhấn mạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên và yêu cầu các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước ưu tiên mua sắm hàng hóa, dịch vụ trong nước phù hợp với cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong các loại hình báo chí, báo mạng điện tử đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam thông qua việc phát huy mạnh mẽ các ưu thế về tốc độ, tính cập nhật, khả năng tương tác và phạm vi lan tỏa rộng lớn.
Từ khóa: Quản lý thi trường; báo mạng điện tử; tiêu dùng hàng Việt; hàng Việt Nam.
1. Tổng quan nghiên cứu
Để làm rõ thực trạng thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên báo mạng điện tử, tác giả khảo sát 3 tờ báo bao gồm VnExpress, báo Dân trí, Báo Công Thương từ tháng 6/2024 tới tháng 6/2025.
Về số lượng thông tin:
Nhóm 1: Thông tin về chủ trương, chính sách liên quan tới tiêu dùng hàng Việt.
Nhóm 2: Thông tin về thực trạng triển khai.
Nhóm 3: Thông tin về các giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai.
Bảng 1. Số lượng tin, bài thông tin về tiêu dùng hàng Việt ở các báo khảo sát chia theo các nhóm nội dung
| Nhóm nội dung | Báo Công Thương | Báo Dân trí | Báo VnExpress | Tổng | |||
| Thời sự Báo Công Thương | Tiêu dùng – Khuyến mại Báo Công Thương | Thời sự Báo Dân trí | Kinh doanh Báo Dân trí | Thời sự Báo VnExpress | Kinh doanh Báo VnExpress | Tổng | |
| Nhóm 1 | 82 | 46 | 71 | 41 | 63 | 33 | 336 |
| Nhóm 2 | 78 | 89 | 66 | 76 | 61 | 70 | 440 |
| Nhóm 3 | 51 | 61 | 39 | 39 | 32 | 34 | 256 |
| Tổng | 211 | 196 | 176 | 156 | 156 | 137 | 1032 |
Xét về tỷ lệ phân bổ tin, bài theo chuyên mục và theo từng báo, có thể thấy sự khác biệt khá rõ ràng trong cách tổ chức và ưu tiên thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam. Trước hết, nếu so sánh giữa hai chuyên mục trong cùng một tờ báo thì ở cả ba báo khảo sát, các chuyên mục chuyên biệt đều có số lượng tin, bài nhiều hơn so với chuyên mục thời sự. Cụ thể, tại Báo Công Thương, chuyên mục tiêu dùng – khuyến mại có 196 tin, bài, chiếm tỷ lệ cao hơn so với 211 tin, bài của chuyên mục thời sự nhưng khi đặt trong tương quan nội dung, chuyên mục chuyên biệt tập trung chủ yếu vào thực trạng và giải pháp, cho thấy xu hướng khai thác sâu thị trường và hành vi tiêu dùng.
Tương tự, tại Báo Dân trí, chuyên mục kinh doanh với 156 tin, bài chiếm tỷ lệ đáng kể so với 176 tin, bài của chuyên mục thời sự, phản ánh sự ưu tiên rõ rệt cho thông tin thị trường, doanh nghiệp và hoạt động tiêu dùng cụ thể. Đối với Báo VnExpress, chuyên mục kinh doanh đạt 137 tin, bài, thấp hơn chuyên mục Thời sự là 156 tin, bài nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh thực trạng và đề xuất giải pháp, cho thấy sự phân bổ tương đối cân bằng giữa định hướng chính sách và thông tin thị trường.
Nếu xét theo từng cơ quan báo chí, Báo Công Thương là tờ báo có tổng số tin, bài về tiêu dùng hàng Việt Nam nhiều nhất với 407 tin, bài, chiếm gần 40% tổng số mẫu khảo sát, phản ánh đúng tính chất của một cơ quan báo chí ngành gắn trực tiếp với lĩnh vực công thương, thị trường và tiêu dùng. Báo Dân trí đứng thứ hai với 332 tin, bài, cho thấy mức độ quan tâm ổn định và thường xuyên đối với chủ đề tiêu dùng hàng Việt Nam trong mối liên hệ với các vấn đề kinh tế – xã hội. Báo VnExpress có số lượng thấp hơn với 293 tin, bài, song vẫn thể hiện sự quan tâm liên tục và có chiều sâu, đặc biệt thông qua chuyên mục Kinh doanh.
Nhìn tổng thể, các số liệu cho thấy thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam được phân bổ nhiều hơn ở các chuyên mục chuyên biệt so với thời sự và Báo Công Thương là cơ quan có mức độ tập trung thông tin cao nhất, tiếp đến là Báo Dân trí và Báo VnExpress, phản ánh rõ vai trò, chức năng và định hướng nội dung khác nhau của từng tờ báo trong hệ thống báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay.
Về tần suất thông tin:
Bảng 2. Tần suất thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên 3 tờ báo mạng điện tử Việt Nam khảo sát
| Tháng | Số lượng tin, bài | Tỉ lệ % |
| Tháng 6/2024 | 79 | 7,7 |
| Tháng 7/2024 | 77 | 7,5 |
| Tháng 8/2024 | 81 | 7,8 |
| Tháng 9/2024 | 65 | 6,3 |
| Tháng 10/2024 | 83 | 8,0 |
| Tháng 11/2024 | 80 | 7,8 |
| Tháng 12/2024 | 78 | 7,6 |
| Tháng 1/2025 | 82 | 7,9 |
| Tháng 2/2025 | 76 | 7,4 |
| Tháng 3/2025 | 84 | 8,1 |
| Tháng 4/2025 | 79 | 7,7 |
| Tháng 5/2025 | 85 | 8,2 |
| Tháng 6/2025 | 83 | 8,0 |
| Tổng | 1032 | 100 |
Bảng 2 cho thấy, tần suất thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên ba tờ báo mạng điện tử khảo sát được duy trì tương đối ổn định trong suốt giai đoạn từ tháng 6/2024 – 6/2025, với tổng cộng 1.032 tin, bài. Số lượng tin, bài phân bố khá đều theo các tháng, không có sự chênh lệch quá lớn, phản ánh đây là một mảng nội dung được các báo quan tâm thường xuyên, mang tính liên tục chứ không chỉ tập trung theo thời điểm ngắn hạn. Tỷ lệ phần trăm của mỗi tháng dao động trong khoảng từ 6,3% đến 8,2%, cho thấy, thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam đã trở thành một dòng thông tin ổn định trong cơ cấu nội dung của báo mạng điện tử, gắn với đời sống kinh tế và hành vi tiêu dùng hằng ngày của công chúng.
Xét theo từng giai đoạn cụ thể, các tháng cuối năm 2024 như tháng 10, tháng 11 và tháng 12 có xu hướng tăng nhẹ về số lượng tin, bài với các mức lần lượt là 83 tin, bài (8,0%), 80 tin, bài (7,8%) và 78 tin, bài (7,6%). Đây là giai đoạn cao điểm của hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng cuối năm, thường gắn với các chương trình kích cầu, khuyến mại, xúc tiến thương mại và chuẩn bị cho dịp Tết, do đó nhu cầu thông tin về thị trường và tiêu dùng hàng Việt Nam cũng gia tăng. Điều này cho thấy, báo mạng điện tử đã bám sát nhịp vận động của thị trường và nhu cầu thông tin thực tế của công chúng.
Bước sang năm 2025, tần suất thông tin tiếp tục được duy trì ở mức cao và có xu hướng tăng dần. Các tháng đầu năm như tháng 1 và tháng 3/2025 ghi nhận số lượng tin, bài tương đối lớn, lần lượt là 82 tin, bài (7,9%) và 84 tin, bài (8,1%). Đặc biệt, tháng 5/2025 đạt mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn khảo sát với 85 tin, bài, chiếm 8,2% tổng số, phản ánh sự gia tăng quan tâm của báo chí đối với các vấn đề tiêu dùng hàng Việt Nam trong bối cảnh tổng kết, đánh giá hiệu quả các chương trình phát triển thị trường trong nước và chuẩn bị cho các hoạt động kích cầu giữa năm. Các tháng còn lại như tháng 4 và tháng 6/2025 cũng duy trì mức trên 8,0%, cho thấy mạch thông tin không bị đứt đoạn mà có xu hướng tăng cường về cuối kỳ khảo sát.
Ở chiều ngược lại, tháng 9/2024 là thời điểm có số lượng tin, bài thấp nhất với 65 tin, bài, chiếm 6,3%. Tuy nhiên, mức giảm này không quá lớn và vẫn nằm trong xu hướng chung của sự phân bố tương đối đồng đều, có thể lý giải bởi đây là giai đoạn thị trường tương đối ổn định, ít biến động lớn về chính sách và hoạt động kích cầu tiêu dùng. Nhìn tổng thể, sự phân bố tần suất thông tin trong bảng 2.1 cho thấy các báo mạng điện tử đã duy trì sự quan tâm bền bỉ đối với chủ đề tiêu dùng hàng Việt Nam, phản ánh đúng tính chất lâu dài, thường xuyên của nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền và định hướng tiêu dùng, đồng thời khẳng định vai trò của báo chí trong việc đồng hành cùng phát triển thị trường nội địa và thúc đẩy hành vi ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam trong đời sống xã hội.
2. Đánh giá thực trạng thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên báo mạng điện tử
Thứ nhất, nội dung thông tin hấp dẫn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới mọi tầng lớp nhân dân.
Các tờ báo điện tử như Công Thương, Dân trí, VnExpress hay VietnamPlus đã trở thành kênh trung gian quan trọng kết nối giữa cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng. Thông qua hệ thống bài viết liên tục, cập nhật nhanh, ngôn ngữ gần gũi và minh chứng thực tế, báo chí đã giúp người dân hiểu rõ ý nghĩa của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, từ đó chuyển hóa thông tin chính sách thành hành động tiêu dùng cụ thể. Thực tế, nội dung trong mỗi bài tin, phóng sự hay bình luận không chỉ mang giá trị thông tin mà còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc, niềm tin vào chất lượng sản phẩm nội địa. Chính sự kết hợp giữa tính chính thống và tính nhân văn ấy đã khiến thông tin về hàng Việt trên các báo điện tử ngày nay trở thành một hoạt động mang sức thuyết phục sâu rộng, góp phần củng cố nền tảng tinh thần “người Việt dùng hàng Việt” một cách bền vững.
Thứ hai, hình thức thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên báo mạng điện tử được thể hiện đa dạng, phong phú.
Thực tế khảo sát cho thấy, các tờ báo đã đa dạng hóa hình thức thông tin, kết hợp linh hoạt giữa bài viết, hình ảnh và nền tảng số. Các cơ quan báo chí không còn giới hạn trong mô hình tin bài truyền thống mà đã biết tận dụng thế mạnh của môi trường trực tuyến, đưa thông tin về hàng Việt đến độc giả qua nhiều kênh, như: video, infographic, phóng sự ảnh, podcast hay livestream. Nhờ vậy, thông tin về hàng Việt không chỉ được đọc mà còn được nghe, được nhìn và được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau. Đặc biệt, trong các chiến dịch lớn, như: “Vietnam Grand Sale”, “Tháng khuyến mại quốc gia” hay “Tinh hoa Việt chung sức”, báo điện tử đã phối hợp với các doanh nghiệp, sàn thương mại điện tử để tạo nên chuỗi thông tin đồng bộ, lan tỏa nhanh và sâu trong cộng đồng mạng. Việc tận dụng công nghệ và nền tảng số đã khiến cho thông tin hàng Việt trở nên sinh động, hấp dẫn, phù hợp với xu hướng tiếp nhận thông tin hiện đại của công chúng, nhất là giới trẻ và tầng lớp trung lưu đô thị.
Thứ ba, sự kết hợp hài hòa giữa thông tin chính sách và phản ánh thực tiễn, giúp cho các bài viết không chỉ mang tính tuyên truyền mà còn có chiều sâu và giá trị xã hội. Báo Công Thương thường xuyên đăng tải các tuyến bài phân tích kết quả triển khai chương trình hàng Việt tại từng địa phương, đồng thời ghi nhận những câu chuyện thật về nông dân, doanh nghiệp và người tiêu dùng hưởng ứng phong trào. Báo Dân trí lại thành công trong việc nhân văn hóa chủ đề, đưa hàng Việt vào đời sống thường ngày qua những phóng sự gần gũi, ấm áp, khơi dậy cảm xúc tự hào dân tộc. Trong khi đó, VnExpress tập trung khai thác khía cạnh thị trường, số liệu và xu hướng tiêu dùng, qua đó tạo sức nặng thuyết phục bằng phân tích kinh tế. Sự phân công tự nhiên giữa các báo như vậy đã tạo nên một bức tranh thông tin toàn diện, đa chiều, vừa có tầm chiến lược vừa có sức sống đời thường, góp phần làm cho hình ảnh hàng Việt ngày càng gắn bó hơn với người dân Việt Nam.
Thứ tư, một thành công quan trọng khác là thông tin về hàng Việt đã góp phần thay đổi nhận thức xã hội và thúc đẩy hành vi tiêu dùng tích cực. Nếu như trước đây, tâm lý sính hàng ngoại vẫn phổ biến trong một bộ phận người dân thì nay, nhờ các chiến dịch báo chí kiên trì và sáng tạo, hàng Việt đã dần khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Những bài viết về sản phẩm Việt chinh phục siêu thị nước ngoài, về doanh nghiệp Việt ứng dụng công nghệ hiện đại, hay về người trẻ khởi nghiệp từ thương hiệu Việt đã tạo ra cảm hứng và niềm tin. Báo chí không chỉ thuyết phục bằng lý lẽ mà còn bằng những tấm gương thành công cụ thể, khiến người tiêu dùng nhận ra rằng, khi lựa chọn hàng Việt là họ đang góp phần xây dựng nền kinh tế quốc gia.
Có thể nói, báo mạng điện tử Việt Nam trong những năm gần đây đã không chỉ hoàn thành vai trò thông tin mà còn trở thành một lực lượng tích cực trong việc hình thành văn hóa tiêu dùng mới văn hóa đề cao trách nhiệm, niềm tự hào và sự đồng hành cùng hàng Việt trên con đường hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, dù các báo lớn, như: Công Thương, Dân trí hay VnExpress đã dành dung lượng đáng kể cho chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, song phần lớn các tin, bài vẫn mang tính đưa tin thuần túy, lặp lại khẩu hiệu, thiếu chiều sâu lý luận và góc nhìn đa chiều về kinh tế thị trường. Nhiều bài viết mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh các lễ phát động, hội nghị hay sự kiện mà chưa chú trọng đến đánh giá hiệu quả thực chất của các chính sách hỗ trợ hàng Việt trên thị trường. Điều này khiến cho độc giả dễ cảm nhận được tính hình thức, hành chính, trong khi nhu cầu của công chúng hiện nay lại thiên về phân tích kinh tế, xu hướng tiêu dùng, hoặc tác động dài hạn của phong trào đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Việc thiếu đi các tuyến bài phản biện hay điều tra sâu cũng làm cho hiệu quả định hướng dư luận bị hạn chế, chưa đủ sức khơi gợi những cuộc thảo luận xã hội mang tính xây dựng về chất lượng và vị thế của hàng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Tính trùng lặp về nội dung và cách thể hiện giữa các cơ quan báo chí, khiến cho thông tin hàng Việt đôi khi trở nên khô cứng và thiếu sức hấp dẫn. Do cùng khai thác các nguồn tin chính thống từ Bộ Công Thương, các địa phương và các chương trình xúc tiến thương mại, nhiều tờ báo đã sử dụng cùng một thông cáo hoặc bài gốc, chỉ biên tập lại đôi chút rồi đăng tải. Sự trùng lặp này dẫn tới hiện tượng “bội thực thông tin” khi độc giả nhìn thấy nhiều bài có tiêu đề và nội dung tương tự nhau trên các báo khác nhau. Hơn nữa, phong cách thể hiện cũng còn mang tính tuyên truyền một chiều, thiếu sự sáng tạo trong hình ảnh, tiêu đề hoặc cách kể chuyện. Dù đã có một số nỗ lực đổi mới như làm video phóng sự, đồ họa thông tin hay bài viết đa phương tiện, nhưng phần lớn các sản phẩm báo chí vẫn nặng tính hành chính và ít khai thác chiều sâu văn hóa, cảm xúc. Đây là yếu tố làm giảm sự tương tác của độc giả, đặc biệt là thế hệ trẻ nhóm công chúng có khả năng lan tỏa thông tin mạnh mẽ nhất trong xã hội số.
Hạn chế trong việc chưa tận dụng hết tiềm năng của thông tin số và nền tảng mạng xã hội trong lan tỏa hàng Việt. Nhiều cơ quan báo chí vẫn chủ yếu đăng tải bài viết trên website mà chưa đầu tư đồng bộ cho việc chia sẻ, tương tác và quảng bá nội dung qua các kênh mạng xã hội như Facebook, TikTok, YouTube hay các ứng dụng di động. Thực tế, các xu hướng tiếp cận người tiêu dùng hiện đại đòi hỏi báo chí phải sử dụng đa nền tảng, kết hợp dữ liệu lớn và hành vi người dùng để cá nhân hóa nội dung. Việc thiếu chiến lược kỹ thuật số khiến cho thông tin về hàng Việt khó lan tỏa tới nhóm độc giả trẻ nhóm có sức ảnh hưởng lớn đến thói quen tiêu dùng. Ngoài ra, các bài viết ít được tối ưu hóa về từ khóa và trình bày, dẫn đến hiệu quả hiển thị tìm kiếm thấp, làm giảm khả năng tiếp cận người đọc. Nhìn chung, dù báo chí đã bước đầu số hóa quy trình sản xuất nội dung, song thông tin hàng Việt vẫn chưa được số hóa một cách chiến lược, chưa tận dụng triệt để môi trường mạng để tạo hiệu ứng lan tỏa tương tác cao.
Một hạn chế quan trọng khác là thiếu sự kết nối chặt chẽ giữa thông tin báo chí và doanh nghiệp, người tiêu dùng, khiến cho tác động xã hội của các chiến dịch chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Phần lớn nội dung thông tin vẫn được triển khai theo hướng từ trên xuống, do cơ quan quản lý hoặc báo chí chủ động, trong khi tiếng nói của doanh nghiệp và phản hồi của người tiêu dùng còn mờ nhạt. Các bài viết phỏng vấn doanh nhân, nhà sản xuất hoặc người dân tiêu dùng hàng Việt mới xuất hiện rải rác, chưa trở thành dòng thông tin thường xuyên. Vì thế, báo chí chưa thực sự tạo được diễn đàn đối thoại cởi mở về những thách thức thực tế của hàng Việt, như: vấn đề giá thành, bao bì, thương hiệu hay kênh phân phối. Chính sự thiếu tương tác này khiến cho thông tin hàng Việt đôi khi chỉ là “một chiều” từ phía cơ quan tuyên truyền, chưa hình thành dòng chảy thông tin hai chiều giữa báo chí, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Nếu khắc phục được hạn chế này, thông tin báo chí sẽ không chỉ là công cụ thông tin, mà còn trở thành cầu nối thực sự thúc đẩy niềm tin, lòng trung thành và văn hóa tiêu dùng hàng Việt trong xã hội hiện đại.
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam trên báo mạng điện tử
Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho các chủ thể thông tin.
Một trong những giải pháp căn bản và có ý nghĩa chiến lược nhất để nâng cao hiệu quả thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam là tăng cường nâng cao nhận thức xã hội một cách toàn diện và bền vững. Việc nâng cao nhận thức không chỉ dành cho người tiêu dùng mà còn phải bao gồm cán bộ quản lý, nhà báo, doanh nghiệp và cộng đồng sản xuất. Trong nhiều năm qua, phần lớn các chương trình truyền thông vẫn tập trung vào khẩu hiệu kêu gọi hành động mà chưa chú trọng đủ đến việc hình thành hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa kinh tế, văn hóa và xã hội của việc sử dụng hàng Việt. Vì thế, việc xây dựng nhận thức cần bắt đầu từ nền tảng giáo dục truyền thông, tạo ra sự thấu hiểu thay vì chỉ kêu gọi. Mỗi người dân cần được nhìn thấy mối liên hệ giữa việc tiêu dùng hàng Việt với phát triển quốc gia, với việc bảo vệ việc làm, nuôi dưỡng doanh nghiệp nội và gìn giữ bản sắc văn hóa. Khi họ nhận ra rằng mua một sản phẩm Việt không chỉ là hành động tiêu dùng mà còn là lựa chọn có trách nhiệm, ý thức ấy sẽ tự nhiên lan tỏa.
Báo chí và truyền thông phải đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành nhận thức xã hội này, bằng cách biến các khái niệm trừu tượng thành câu chuyện đời sống cụ thể. Một bài phóng sự về người thợ gốm giữ nghề truyền thống hay về doanh nghiệp Việt kiên trì đổi mới sáng tạo chính là bài học sinh động về giá trị hàng Việt. Khi công chúng hiểu sâu, tin thật và cảm được, họ sẽ không cần bị kêu gọi mà tự nguyện hành động. Nâng cao nhận thức chính là cách gieo mầm cho văn hóa tiêu dùng bền vững, nơi lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm cộng đồng hòa làm một.
Thứ hai, giải pháp đổi mới nội dung thông tin.
Giải pháp đổi mới nội dung thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh báo chí đang chuyển mình mạnh mẽ theo xu hướng số hóa và hội nhập quốc tế. Trong nhiều năm, nội dung truyền thông hàng Việt vẫn mang màu sắc truyền thông hành chính, tập trung vào thông tin chính sách và sự kiện mà thiếu đi chiều sâu phân tích, kể chuyện và cảm xúc. Việc đổi mới nội dung trước hết cần bắt đầu từ cách nhìn lại người đọc, bởi công chúng hiện nay không còn là người tiếp nhận thụ động mà là người tham gia, người phản hồi và người lan tỏa thông tin. Một bài viết hiệu quả về hàng Việt không thể chỉ nói rằng “người Việt nên dùng hàng Việt” mà phải trả lời được câu hỏi vì sao họ nên làm như thế và điều đó mang lại giá trị gì cho bản thân họ.
Nội dung truyền thông mới phải biết dung hòa giữa lý trí và cảm xúc, giữa thông tin và trải nghiệm. Báo chí cần khai thác các yếu tố đời sống như văn hóa tiêu dùng, câu chuyện khởi nghiệp, nỗ lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp để khiến người đọc cảm thấy gần gũi, đáng tin. Cách kể chuyện chân thực, giản dị nhưng có chiều sâu sẽ tạo ra sức thuyết phục mạnh hơn bất kỳ khẩu hiệu nào. Ngoài ra, nội dung truyền thông phải có tính gợi mở, không chỉ ca ngợi mà còn chỉ ra những vấn đề tồn tại để khơi gợi sự thay đổi tích cực. Một chiến dịch truyền thông hiệu quả là chiến dịch khiến người đọc suy nghĩ, bàn luận và tự hình thành nhận thức. Đổi mới nội dung không phải là làm khác để gây chú ý mà là làm thật để chạm vào cảm xúc và trí tuệ của người đọc. Khi đó, thông điệp hàng Việt sẽ được lan tỏa tự nhiên, bền vững và giàu sức sống xã hội.
Thứ ba, đổi mới hình thức thông tin.
Giải pháp đổi mới hình thức thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam cần được xem như một hướng đi chiến lược nhằm tạo sức sống mới cho nội dung và mở rộng phạm vi tác động của thông điệp đến công chúng hiện đại. Trong bối cảnh người đọc đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các nền tảng số và ưu tiên hình thức thể hiện ngắn gọn, sinh động, trực quan, báo chí không thể chỉ dừng lại ở bài viết chữ truyền thống. Việc kết hợp các hình thức đa phương tiện, như: video, podcast, đồ họa tương tác, phim ngắn hoặc bản tin trực tiếp không chỉ giúp người xem tiếp cận thông tin nhanh hơn mà còn làm tăng khả năng ghi nhớ và chia sẻ.
Những chiến dịch truyền thông hàng Việt nếu được thể hiện qua hình ảnh đẹp, âm nhạc cảm xúc và ngôn ngữ hình tượng sẽ dễ dàng chạm tới cảm xúc người tiêu dùng. Hình thức truyền thông mới cũng phải gắn liền với nhịp sống số, nơi người dân không chỉ đọc báo mà còn tham gia bình luận, chia sẻ và đồng sáng tạo nội dung. Báo chí hiện đại vì thế cần xem công chúng như người đồng hành, không chỉ là đối tượng tiếp nhận mà là nguồn năng lượng để duy trì sức lan tỏa của thông điệp hàng Việt trong không gian mạng. Khi hình thức truyền thông trở nên gần gũi, năng động và hấp dẫn hơn, thông tin về hàng Việt sẽ không còn là thông điệp khô cứng mà trở thành một phần trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Thứ tư, tăng cường đầu tư các nguồn lực.
Giải pháp tăng cường đầu tư các nguồn lực cho các tin, bài thông tin về tiêu dùng hàng Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong việc bảo đảm cho việc đăng tải các bài viết phát triển ổn định, chuyên nghiệp và có chiều sâu. Trong thực tế, nhiều chiến dịch truyền thông về hàng Việt tuy có ý nghĩa lớn nhưng vẫn thiếu sự đầu tư tương xứng, dẫn đến quy mô nhỏ, thời gian ngắn và sức lan tỏa hạn chế. Việc đầu tư ở đây không chỉ bao gồm tài chính mà còn bao gồm nhân lực, công nghệ, dữ liệu và cơ sở hạ tầng truyền thông. Để phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thật sự trở thành một dòng chảy bền vững cần có chiến lược đầu tư lâu dài, ổn định và mang tính hệ thống. Nhà nước nên xem truyền thông hàng Việt là một phần trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, qua đó bố trí ngân sách riêng cho các chương trình truyền thông trọng điểm.
Việc hình thành Quỹ hỗ trợ truyền thông hàng Việt có thể giúp các cơ quan báo chí và doanh nghiệp phối hợp triển khai chiến dịch một cách chuyên nghiệp, tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu, thiếu liên kết. Bên cạnh đó, đầu tư cho công tác nghiên cứu công chúng, hành vi tiêu dùng và hiệu quả truyền thông cũng là yếu tố quan trọng, giúp định hướng nội dung và cách thức triển khai phù hợp với thực tiễn. Khi có nguồn lực mạnh, báo chí sẽ không chỉ phản ánh phong trào mà còn chủ động tạo ra phong trào, dẫn dắt nhận thức xã hội về giá trị hàng Việt. Việc đầu tư đúng tầm sẽ biến truyền thông hàng Việt từ hoạt động truyền thông sang một ngành công nghiệp sáng tạo có sức cạnh tranh và lan tỏa mạnh mẽ.
Tài liệu tham khảo:
1. Đỗ Chí Nghĩa (2012). Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội. H. NXB Đại học quốc gia Hà Nội
2. Vụ Thị trường châu Á – Thái Bình Dương (2016). Về biện pháp phi thuế quan của Úc nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2016.
3. Bộ Chính trị (2009). Kết luận số 264-TB/TW ngày 31/7/2009 về tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2009). Quyết định số 161/QĐ-MTTW-BCĐTW về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
5. Thủ tướng Chính phủ (2012). Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17/9/2012 về việc tăng cường thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
6. Ban Bí thư (2021). Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 19/5/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới.



