ThS. Kiều Văn Nam
Trường Đại học FPT
ThS. Phạm Ngọc Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Tham nhũng là thách thức nghiêm trọng đối với phát triển đất nước, vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế, vừa làm suy giảm hiệu quả quản trị, gây phương hại đến ổn định xã hội và bào mòn niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy công quyền. Những hệ lụy này cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng phải được nhìn nhận như một nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; công tác phòng, chống tham nhũng cần được triển khai đồng bộ, liên tục và có trọng tâm, gắn với hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình, qua đó, góp phần thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam văn minh, hiện đại1.
Từ khóa: Nhà nước pháp quyền; phòng, chống tham nhũng; bối cảnh mới; triển khai đồng bộ; hoàn thiện thể chế.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là yêu cầu tất yếu, cấp bách trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cấu trúc đó, phòng, chống tham nhũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi tham nhũng không chỉ gây thất thoát nguồn lực phát triển mà còn làm xói mòn nguyên tắc thượng tôn pháp luật, phá vỡ chuẩn mực liêm chính trong quản trị và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy công quyền. Những bước tiến trong xây dựng pháp luật, cải cách hành chính và kiểm soát quyền lực nếu thiếu cơ chế phòng, chống tham nhũng hiệu quả sẽ khó tạo được nền tảng thực thi bền vững.
Thực tiễn cho thấy, tham nhũng là một thách thức mang tính cấu trúc, không thể loại bỏ bằng các giải pháp đơn lẻ mà cần đặt trong tổng thể kiến tạo một nền quản trị minh bạch, trách nhiệm và liêm chính. Do đó, nhận diện rõ vai trò của phòng, chống tham nhũng trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn là tiền đề để hoạch định chính sách thực tiễn phù hợp, khả thi và có sức ràng buộc. Đây cũng là cơ sở để đề xuất hệ thống giải pháp có tính chiến lược, góp phần tạo nền tảng pháp lý, thể chế vững chắc cho phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
2. Yêu cầu phòng, chống tham nhũng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
Phòng, chống tham nhũng là yêu cầu khách quan, thường xuyên trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi tham nhũng gắn chặt với quyền lực công và cơ chế phân bổ nguồn lực công. Nhận thức đúng về tham nhũng cần bắt đầu từ việc coi đây là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực: khi quyền lực được giao để phục vụ lợi ích chung nhưng bị chuyển hóa thành công cụ phục vụ lợi ích riêng, chuẩn mực công vụ bị đảo chiều, kỷ luật pháp lý bị suy yếu và tính công tâm của quyết định công vụ bị bẻ lái.
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International) xác định tham nhũng là “hành vi lạm dụng quyền lực được giao để trục lợi cá nhân”2. Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng, tham nhũng không chỉ gây thiệt hại vật chất mà còn làm suy giảm chất lượng vận hành quyền lực nhà nước, làm lệch chuẩn các nguyên tắc quản trị dựa trên pháp luật. Vì vậy, phòng, chống tham nhũng không thể được nhìn nhận như hoạt động mang tính thời điểm mà phải được đặt thành yêu cầu cấu thành của quản trị quốc gia, gắn với thiết kế thể chế và tổ chức thực thi quyền lực.
Yêu cầu cốt lõi của phòng, chống tham nhũng là thiết lập các ràng buộc đủ mạnh để quyền lực không thể bị lợi dụng và không thể “ẩn mình” sau những thủ tục mơ hồ. Khi quy trình ra quyết định thiếu rõ ràng, tiêu chí không minh bạch, thẩm quyền không được chuẩn hóa, quyền lực dễ bị diễn giải theo lợi ích, từ đó hình thành những “khoảng tối” trong thực thi công vụ. Do đó, phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải quy phạm hóa quyền lực theo hướng rõ thẩm quyền, rõ quy trình, rõ trách nhiệm; đồng thời, tăng năng lực kiểm tra, giám sát và đối chiếu trong toàn bộ chu trình quản lý công, từ xây dựng chính sách đến triển khai và đánh giá.
Nhà nước pháp quyền tồn tại và phát triển dựa trên hai trụ cột là thượng tôn pháp luật và kiểm soát quyền lực. Tham nhũng kéo dài sẽ trực tiếp xói mòn hai trụ cột này, bởi pháp luật có thể bị vận dụng chọn lọc, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật suy giảm và quyết định công bị chi phối bởi quan hệ hoặc lợi ích nhóm. Khi đó, dù hệ thống quy định có thể dày đặc, hiệu lực của pháp luật vẫn không được bảo đảm nếu thiếu liêm chính của chủ thể thực thi. Nghiêm trọng hơn, tham nhũng tạo ra “thị trường ngầm” của quyền lực, làm biến dạng cơ chế cung ứng dịch vụ công, làm suy yếu nền tảng công bằng và bào mòn niềm tin xã hội đối với bộ máy công quyền. Đối với Việt Nam, yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiệm vụ kiểm soát quyền lực một cách thực chất, gắn với nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và bảo đảm phân bổ nguồn lực đúng mục tiêu phát triển. Vì vậy, phòng, chống tham nhũng phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ hiệu lực quản lý nhà nước, giữ vững kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả đầu tư công và củng cố môi trường kinh doanh minh bạch. Khi tham nhũng không được kiểm soát, nguồn lực bị thất thoát và phân bổ méo mó, hiệu quả chính sách suy giảm, chi phí tuân thủ gia tăng và cải cách hành chính dễ bị nghẽn tại các khâu nhạy cảm, từ đó làm suy yếu năng lực điều hành.
Yêu cầu phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam còn được cụ thể hóa bằng chuẩn mực pháp lý. Nhận thức pháp lý về tham nhũng ở Việt Nam cũng được xác lập bằng chuẩn mực cụ thể. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nêu rõ: tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi, trong đó vụ lợi bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất không chính đáng3. Quy định này có ý nghĩa định hướng quan trọng, bởi nó xác định đúng trọng tâm rủi ro nằm ở hành vi lợi dụng quyền lực được giao, đồng thời mở rộng nhận diện đối với lợi ích phi vật chất, qua đó phản ánh sát hơn sự biến tướng của tham nhũng trong thực tiễn công vụ.
Từ những nội dung trên có thể khẳng định: phòng, chống tham nhũng không chỉ nhằm giảm thiểu thất thoát, mà còn là yêu cầu bảo đảm pháp luật thực sự giữ vị trí tối thượng trong quản trị, quyền lực được kiểm soát và trách nhiệm giải trình trở thành chuẩn mực vận hành thường xuyên. Nhận thức đầy đủ, nhất quán về tác hại, bản chất và cơ chế vận động của tham nhũng là tiền đề để triển khai các giải pháp đồng bộ, bảo đảm sự gắn kết giữa hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi và củng cố nền hành chính liêm chính trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ cả về thể chế và thực thi. Cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ và giám sát từ bên ngoài được tăng cường. Đặc biệt, từ sau Đại hội XII của Đảng, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh với tinh thần kiên quyết, đồng bộ và không có ngoại lệ. Từ năm 2013 – 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Trong 6 tháng đầu năm 2021, liên quan đến tham nhũng đã có 266 vụ/646 bị can bị khởi tố, điều tra; 250 vụ với 643 bị can bị truy tố; 214 vụ với 525 bị cáo bị xét xử sơ thẩm. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã kiểm tra, xử lý kỷ luật và kiến nghị, yêu cầu xử lý kỷ luật 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (trong đó có 3 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 2 Thứ trưởng, 1 nguyên Chủ tịch tỉnh, 1 nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang)4.
Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022), trong đó thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập5. Cũng trong năm 2023, các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý; các địa phương đã miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng6. Năm 2025, có 34 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu bị xử lý kỷ luật do thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng, trong đó có 13 người bị khiển trách, 7 người bị cảnh cáo và 14 người bị cách chức; các cơ quan điều tra trong lực lượng công an đã thụ lý điều tra 1.251 vụ án/2.836 bị can phạm tội về tham nhũng7.
Nhìn sâu vào cấu trúc quản trị cho thấy, một đặc điểm quan trọng: phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đang được đẩy mạnh theo hướng “vừa xử lý nghiêm, vừa bịt kẽ hở thể chế”, coi trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ gốc. Sự dịch chuyển này thể hiện rõ ở việc kiểm soát quyền lực không chỉ đặt ở khâu thực thi mà còn được kéo về ngay từ khâu hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật, nơi có rủi ro cài cắm lợi ích nhóm và hợp thức hóa các “khoảng mờ” quy định. Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật đã nhấn mạnh cơ chế kiểm soát giữa các chủ thể tham gia xây dựng pháp luật, kỷ luật của Đảng, giám sát phản biện xã hội và xử lý vi phạm, qua đó, đặt nền tảng để phòng ngừa tham nhũng ngay trong “đầu vào” của hệ thống thể chế. Cùng với đó, việc tăng cường phát hiện vi phạm qua thanh tra, kiểm tra và kiểm toán cho thấy, nỗ lực chuyển từ xử lý vụ việc sang quản trị rủi ro và truy nguyên trách nhiệm. Báo cáo 653/BC-CP của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2024 phản ánh quy mô phát hiện vi phạm kinh tế rất lớn, kiến nghị thu hồi và chuyển cơ quan điều tra nhiều vụ việc, đồng thời đặt trọng tâm vào thanh tra các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như đầu tư công, quản lý đất đai, đấu thầu, tài chính công và quản lý tài sản công.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức mang tính cơ cấu, làm giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực công. Hệ thống pháp luật mặc dù đã có nhiều điều chỉnh, nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ và thiếu những quy định chặt chẽ để ràng buộc quyền lực với trách nhiệm pháp lý. Ở nhiều cấp, đặc biệt tại cơ sở, việc phân cấp quyền hạn chưa đi đôi với thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát tương ứng, tạo ra khoảng trống trong vận hành bộ máy. Khi trách nhiệm không được định lượng rõ ràng, việc xử lý vi phạm dễ rơi vào tình trạng chọn lọc hoặc hình thức, làm giảm hiệu quả răn đe. Bên cạnh đó, minh bạch hóa thông tin, một trong những điều kiện tiên quyết để phòng, chống tham nhũng hiệu quả vẫn còn nhiều bất cập. Dữ liệu công chưa được cập nhật đầy đủ, thiếu kết nối liên thông giữa các cơ quan, làm hạn chế khả năng truy xuất, kiểm chứng và giám sát từ xã hội. Các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng như đầu tư công, quy hoạch, đấu thầu, quản lý tài sản nhà nước vẫn thiếu cơ chế công khai hiệu quả, khiến việc phát hiện và xử lý vi phạm phụ thuộc nhiều vào hệ thống nội bộ. Tình trạng này dẫn đến nguy cơ tái diễn hành vi trục lợi, đồng thời làm suy yếu nền tảng trách nhiệm giải trình trong bộ máy hành chính.
Những thách thức trên còn được soi chiếu từ các chỉ báo xã hội và thị trường. Về cảm nhận tham nhũng trong khu vực công, Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2024 của Tổ chức Minh bạch quốc tế ghi nhận Việt Nam đạt 40 điểm và xếp hạng 88/180, phản ánh cải thiện liêm chính công là quá trình dài, phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng thực thi và tính bền vững của cơ chế kiểm soát quyền lực8. Về môi trường kinh doanh, PCI 2024 cho thấy, chi phí không chính thức có dấu hiệu quay trở lại, khi gần 37% doanh nghiệp cho biết có chi trả chi phí không chính thức, tỷ lệ này trong một số thủ tục nhạy cảm như kinh doanh có điều kiện và đất đai ở mức cao, qua đó phản ánh độ vênh giữa cải cách thủ tục trên giấy tờ với kỷ luật thực thi ở các điểm tiếp xúc9. Ở góc độ trải nghiệm người dân, Báo cáo PAPI 2024 cũng chỉ ra tình trạng phải “lót tay” khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn xuất hiện ở tất cả tỉnh, thành được khảo sát, cho thấy tham nhũng vặt chưa được xử lý dứt điểm và vẫn gắn với thủ tục phức tạp cùng dư địa tùy nghi trong giải quyết hồ sơ10.
Một nội dung cần nhấn mạnh thêm trong thực trạng là hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng: xử lý nghiêm về kỷ luật và hình sự tạo sức răn đe chính trị, còn thu hồi tài sản mới trực tiếp triệt tiêu động cơ trục lợi và khôi phục công bằng phân bổ nguồn lực. Thông tin từ Cổng Thông tin điện tử Chính phủ cuối năm 2025 nêu tỷ lệ thu hồi tài sản trong án tham nhũng đạt 85,9%, cho thấy nỗ lực tăng cường kê biên, phong tỏa và tổ chức thi hành án11. Dù vậy, nhiều báo cáo cũng đặt ra khó khăn dai dẳng của thu hồi tài sản, như: tài sản tẩu tán, tài sản đứng tên người khác, tranh chấp quyền sở hữu và “độ trễ pháp lý” trong định giá, xử lý tài sản, khiến một bộ phận tài sản tham nhũng chưa được thu hồi hiệu quả.
Thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay cho thấy: kết quả xử lý vi phạm và hoàn thiện thể chế rõ nét nhưng thách thức trọng tâm vẫn nằm ở chất lượng thực thi, minh bạch dữ liệu công, kiểm soát quyền lực tại các lĩnh vực phân bổ nguồn lực và xử lý dứt điểm tham nhũng vặt ở cấp cơ sở. Đây chính là những điểm nghẽn cần được nhận diện như vấn đề cấu trúc của quản trị nhà nước, để từ đó chuyển phòng, chống tham nhũng từ các đợt cao điểm sang năng lực thường trực của Nhà nước pháp quyền.
4. Giải pháp phòng, chống tham nhũng góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hiện nay, yêu cầu đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng không chỉ xuất phát từ đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Trong khi nhiều chuyển biến tích cực đã đạt được, công tác này vẫn đối diện với những thách thức về thể chế, thực thi và giám sát. Để khắc phục hạn chế và củng cố nền tảng liêm chính trong hoạt động công vụ, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống giải pháp theo hướng đồng bộ, khả thi và có tính ràng buộc cao, cụ thể:
Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đây là giải pháp có tính nền tảng nhằm khắc phục các lỗ hổng thể chế – nơi tham nhũng thường nảy sinh do sự thiếu rõ ràng về thẩm quyền, tiêu chí và quy trình. Việc hoàn thiện không chỉ dừng ở bổ sung quy định mới mà quan trọng hơn là rà soát, chuẩn hóa và hợp nhất các quy phạm pháp luật hiện hành để loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất, đồng thời xử lý triệt để những kẽ hở tạo điều kiện cho cơ chế xin – cho tồn tại.
Pháp luật phòng, chống tham nhũng phải bảo đảm các yêu cầu rõ ràng về nội dung, ổn định trong áp dụng và khả thi trong tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch và trách nhiệm giải trình cần được thể chế hóa thành nguyên tắc bắt buộc trong mọi hoạt động công vụ, từ ban hành chính sách đến thực thi. Mỗi quyết định hành chính, tài chính, nhân sự đều phải có căn cứ pháp lý rõ ràng, hồ sơ đầy đủ và dấu vết trách nhiệm cụ thể để phục vụ kiểm tra, giám sát, đối chiếu và truy cứu khi cần thiết, qua đó, bảo đảm quyền lực vận hành trong khuôn khổ luật pháp và bị kiểm soát một cách thực chất.
Hai là, tăng cường cơ chế thanh tra, kiểm tra và kiểm soát quyền lực. Để quyền lực không bị lạm dụng, cần hình thành cơ chế giám sát đa tầng, kết hợp giữa kiểm tra nội bộ, thanh tra hành chính và kiểm toán độc lập, với khả năng phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm. Các hoạt động kiểm soát cần được thiết kế dựa trên tiêu chí lượng hóa, dữ liệu khách quan và quy trình rõ ràng, qua đó, giảm thiểu tác động của yếu tố chủ quan. Hệ thống thông tin giữa các cơ quan giám sát và điều tra cần được kết nối đồng bộ để tạo ra chuỗi kiểm soát khép kín, bảo đảm mọi hành vi sai phạm đều được phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh. Đồng thời, cơ chế hậu kiểm cũng cần được tăng cường, đặc biệt đối với các quyết định có ảnh hưởng lớn về ngân sách, tài sản công, nhân sự quản lý nhằm hạn chế tình trạng “trục lợi sau khi rời chức vụ”.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, chuyên nghiệp. Đây là nhân tố quyết định hiệu quả của mọi nỗ lực phòng, chống tham nhũng. Liêm chính phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc trong đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ, không chỉ dừng ở khuyến nghị đạo đức mà được thể chế hóa thành cơ chế ràng buộc pháp lý và tổ chức.
Cần chuẩn hóa đạo đức công vụ, quy định rõ các giới hạn hành vi, thiết lập hệ thống phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm tính minh bạch trong tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải gắn trực tiếp với yêu cầu kiểm soát quyền lực, chú trọng năng lực ra quyết định đúng pháp luật, đúng quy trình, đúng trách nhiệm. Đồng thời, xử lý vi phạm cần nghiêm minh, công khai, nhất quán để hình thành văn hóa tuân thủ trong thực thi công vụ, củng cố niềm tin xã hội vào tính nghiêm khắc và công bằng của Nhà nước pháp quyền.
Bốn là, phát huy vai trò của xã hội và truyền thông trong kiểm soát quyền lực. Cơ chế giám sát từ bên ngoài là một trụ cột không thể thiếu để bảo đảm quyền lực công luôn trong trạng thái bị theo dõi và kiểm tra. Trọng tâm là mở rộng quyền tiếp cận thông tin, nhất là tại các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, như: đầu tư công, ngân sách, đất đai, tuyển dụng và cấp phép.
Thông tin phải được công khai kịp thời, đầy đủ, đúng trọng tâm và đúng đối tượng, tạo điều kiện để xã hội thực hiện quyền giám sát, phản biện và yêu cầu giải trình. Báo chí, mạng xã hội và các tổ chức xã hội giữ vai trò như các kênh cảnh báo, phát hiện sai phạm và lan tỏa chuẩn mực liêm chính. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo, khuyến khích các sáng kiến xã hội trong phòng, chống tham nhũng và hình thành hệ thống hỗ trợ pháp lý giúp người dân thực hiện hiệu quả quyền giám sát.
5. Kết luận
Phòng, chống tham nhũng là yêu cầu cốt lõi để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, hoàn thiện pháp luật đóng vai trò trung tâm vì tham nhũng thường xuất hiện ở những khoảng mờ về thẩm quyền, tiêu chí, quy trình. Trọng tâm không phải là ban hành thêm quy định mà là rà soát, hợp nhất hệ thống hiện hành để loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo, bịt kín kẽ hở thể chế. Cùng với đó, cần siết chặt minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm mọi quyết định công có căn cứ pháp lý, dấu vết trách nhiệm rõ ràng, từ đó kiểm soát hiệu quả quyền lực và tạo nền tảng vững chắc cho quản trị liêm chính.
Chú thích:
1. Bài viết sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài: Phòng, chống tham nhũng để hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, mã số SPHN24-04TT do ThS. Phạm Ngọc Trang làm chủ nhiệm.
2. Transparency International. What is corruption? https://www.transparency.org/en/what-is-corruption.
3. Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
4. Chống tham nhũng: “Chúng ta càng làm quyết liệt, họ càng chống phá”. https://vov.vn/chinh-tri/chong-tham-nhung-chung-ta-cang-lam-quyet-liet-ho-cang-chong-pha-908110.vov.
5, 6. Kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý trong năm 2023. https://vov.vn/chinh-tri/ky-luat-19-can-bo-dien-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-quan-ly-trong-nam-2023.
7. Chính phủ: 14 người đứng đầu và cấp phó bị cách chức do để xảy ra tham nhũng. https://thanhtra.com.vn/doi-noi-52FA82FBF/chinh-phu-14-nguoi-dung-dau-va-cap-pho-bi-cach-chuc-do-de-xay-ra-tham-nhung-fd59bae22.html
8. Corruption perceptions index. https://www.transparency.org/en/countries/vietnam
9. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam. https://api.vcci.com.vn/storage/filesvcci/681b0b4a0070f.pdf
10. Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2025-04/papi_2024_report_vie_final.pdf
11. Tỉ lệ xét xử hình sự đạt gần 99%, thu hồi tài sản tham nhũng đạt 85,9%. https://baochinhphu.vn/ti-le-xet-xu-hinh-su-dat-gan-99-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-dat-859-102251209113311611.htm



