Nguyễn Xuân Tùng
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở địa phương. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro về thất thoát, lãng phí nếu công tác quản lý nhà nước thực hiện chưa hiệu quả. Trong bối cảnh tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh có ý nghĩa nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; đầu tư xây dựng cơ bản; vốn ngân sách nhà nước; tiêu chí đánh giá.
1. Đặt vấn đề
Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là một trong những lĩnh vực then chốt của đầu tư công. Ở cấp tỉnh, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách nhà nước; đồng thời, có phạm vi tác động rộng và thời gian thực hiện kéo dài. Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở các địa phương nhìn chung có nhiều chuyển biến, tuy nhiên, vẫn tồn tại tình trạng đầu tư xây dựng cơ bản dàn trải, phân tán theo ngành, lĩnh vực; công tác chuẩn bị dự án kéo dài, chất lượng thấp; tiến độ giải ngân nói chung và thực hiện từng dự án nói riêng vẫn chậm so với kế hoạch; tình trạng đội vốn, lãng phí, kém hiệu quả và chậm hoàn thành dự án theo tiến độ diễn ra thường xuyên.
Xuất phát từ yêu cầu đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước theo cách tiếp cận hệ thống, toàn diện và gắn với chu trình đầu tư công, việc tham chiếu các mô hình đánh giá quản lý đầu tư công là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phù hợp.
2. Khái quát chung công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh
Theo cách tiếp cận của Luật Đầu tư công năm 2024, đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng các tài sản cố định trong nền kinh tế1. Đầu tư xây dựng cơ bản dẫn đến tích lũy vốn, xây dựng thêm công trình giao thông, y tế, giáo dục, thủy lợi, trụ sở và mua sắm thiết bị có ích, làm tăng sản lượng tiềm năng của đất nước, thúc đẩy sự tăng truởng kinh tế.
Nhà nước trực tiếp quản lý việc sử dụng và phân bổ nguồn vốn; đồng thời, quản lý toàn bộ các khâu của quá trình đầu tư xây dựng, từ xác định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định và phê duyệt dự án; lập và quyết định kế hoạch thực hiện dự án; đến quyết toán dự án nhằm bảo đảm sự phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cũng như hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản rất đa dạng, trong đó vốn nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn và có đặc điểm khó quản lý, dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước là một loại hình đầu tư đặc biệt vì vừa mang đặc điểm của đầu tư phát triển, đầu tư công, đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước, vừa là đầu tư có hợp phần xây dựng cơ bản. Theo cách hiểu chung nhất, đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là hoạt động đầu tư phát triển bằng vốn ngân sách nhà nước, thuộc đầu tư công, trong đó sản phẩm đầu tư là các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội gắn liền với đất tại một vị trí không gian nhất định.
Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước chủ yếu đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp hoặc thu hồi vốn chậm, song hiệu quả kinh tế – xã hội mang lại rất lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của từng địa phương. Do đặc điểm này, việc đánh giá hiệu quả đầu tư thường phức tạp và chỉ thể hiện rõ sau một thời gian dài công trình được đưa vào khai thác, sử dụng.
Công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này nhằm giảm thiểu thất thoát, lãng phí, từ đó có thêm nguồn lực để tập trung phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, phát huy lợi thế tiềm năng của từng địa phương, xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Theo cách tiếp cận chung nhất thì quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước được hiểu là việc các cơ quan nhà nước sử dụng tổng thể các công cụ, phương thức quản lý tác động vào quá trình đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm đạt được hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra2.
Chủ thể quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh,bao gồm: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tham gia vào tất cả các khâu từ lập, phê duyệt kế hoạch đầu tư, quyết định đầu tư, phân bổ vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư, thanh kiểm tra, giám sát đầu tư… Đối tượng của quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh là toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước, bao gồm các khâu: lập kế hoạch đầu tư xây dựng; thẩm định dự án và phê duyệt ngân sách; lựa chọn nhà thầu; tổ chức thi công; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư.
Mục tiêu của quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh là nâng cao hiệu lực, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, qua đó, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội của địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
3. Một số hạn chế
Những năm qua, Nhà nước đã huy động nguồn lực ngân sách nhà nước lớn cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, qua đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, thể hiện qua tình trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng, thất thoát và lãng phí ngân sách nhà nước còn diễn ra ở không ít công trình. Điển hình như tại TP. Hồ Chí Minh (từ tháng 7/2025), Thanh tra Thành phố đã thành lập 12 đoàn để tiến hành thanh tra 60 công trình, dự án; đến ngày 20/9/2025, Thanh tra Thành phố đã ban hành 12 kết luận, trong đó có 44/60 công trình còn khó khăn cần tháo gỡ, như: chậm tiến độ, hiệu quả thấp, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí, phát hiện sai phạm liên quan đến việc phê duyệt chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, lựa chọn nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, bố trí vốn, thanh quyết toán, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và xác định giá đất3.
Thực tiễn cho thấy, nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản bị điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư so với dự toán ban đầu, kéo dài thời gian thực hiện và có hiệu quả khai thác thấp so với công suất thiết kế. Những tồn tại này làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước, kéo theo hiệu quả đầu tư xã hội không cao, gây áp lực lên cân đối ngân sách nhà nước và làm gia tăng nghĩa vụ nợ công. Cùng với đó, các hành vi tiêu cực, như: tham nhũng, hối lộ, rút ruột công trình trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản không chỉ gây thất thoát, lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước mà còn làm xói mòn niềm tin của xã hội đối với hoạt động quản lý của chính quyền địa phương.
Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước có thể phát sinh ở hầu hết các khâu của quá trình đầu tư, từ quyết định chủ trương đầu tư, khảo sát, thiết kế, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tổ chức triển khai dự án, đến lựa chọn nhà thầu và thi công xây dựng công trình. Về bản chất, đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là lĩnh vực khó quản lý và tiềm ẩn nhiều rủi ro thất thoát do tồn tại sự tách biệt giữa chủ thể quyết định đầu tư, chủ thể tổ chức thực hiện và đối tượng thụ hưởng kết quả đầu tư; đồng thời, quá trình triển khai dự án thường liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều ngành khác nhau, trong khi chưa có một chủ thể chịu trách nhiệm toàn diện đối với toàn bộ vòng đời dự án.
Trong bối cảnh đó, có những dự án được đánh giá là “đạt yêu cầu” xét theo tiêu chí tuân thủ thủ tục, tiến độ giải ngân hoặc quyết toán vốn ngân sách nhà nước, nhưng trên thực tế lại bộc lộ rõ hạn chế về hiệu quả khai thác, mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và giá trị công mang lại. Điều này cho thấy, việc quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước không thể chỉ dựa vào việc ban hành và tuân thủ các quy định pháp luật cũng như đánh giá theo từng khâu riêng lẻ của chu trình đầu tư, mà cần được xem xét trong một khuôn khổ tổng thể. Theo đó, đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước phải dựa trên một hệ tiêu chí thống nhất, phản ánh đầy đủ bản chất quản lý nhà nước trong toàn bộ quá trình đầu tư, bao gồm hiệu lực thực thi thể chế, mức độ phù hợp của quyết định đầu tư với nhu cầu phát triển của địa phương và khả năng duy trì hiệu quả đầu tư trong dài hạn. Đây chính là cơ sở thực tiễn đặt ra yêu cầu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh.
4. Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh
Trong các mô hình đánh giá quản lý đầu tư công hiện nay, mô hình đánh giá quản lý đầu tư công (Public Investment Management Assessment – PIMA) của Quỹ Tiền tệ quốc tế được coi là khuôn khổ đánh giá có tính hệ thống, cho phép xem xét toàn diện chất lượng quản lý đầu tư công theo chu trình đầu tư. PIMA được thiết kế dựa trên 3 giai đoạn cơ bản của quản lý đầu tư công, gồm: lập kế hoạch, phân bổ vốn và triển khai thực hiện. Đánh giá dựa trên 15 nhóm tiêu chí cơ bản gắn với quá trình lập kế hoạch, phân bổ và triển khai đầu tư công:
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch đầu tư công gồm: (1) Mục tiêu và các quy tắc về tài khóa; (2) Lập kế hoạch quốc gia và các lĩnh vực của nền kinh tế; (3) Sự hợp tác giữa các tổ chức có liên quan; (4) Thẩm định các dự án; (5) Tài trợ cơ sở hạ tầng thay thế (hình thức tài trợ thay thế).
Giai đoạn 2: Phân bổ đầu tư công, gồm: (1) Ngân sách trung hạn; (2) Tính thống nhất và chuyên sâu của ngân sách; (3) Ngân sách cho đầu tư; (4) Duy trì và tài trợ; (5) Lựa chọn dự án.
Giai đoạn 3: Thực thi dự án đầu tư gồm: (1) Tìm kiếm nhà cung cấp; (2) Tính khả thi của tài trợ; (3) Quản lý và giám sát quá trình thực thi; (4) Quản trị thực thi dự án; (5) Kiểm soát (quản lý) tài sản công.
Bên cạnh đó, PIMA còn bao gồm một đánh giá định tính đối với 3 nhân tố xuyên suốt có tác động đáng kể đến hiệu quả tổng thể của quá trình quản lý đầu tư công, gồm: luật pháp và khuôn khổ pháp lý; năng lực của đội ngũ nhân viên và hệ thống công nghệ thông tin4.
Trên cơ sở tham chiếu mô hình PIMA và xuất phát từ đặc thù trong công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh, bài viết đề xuất bốn tiêu chí đánh giá, gồm:
4.1. Tính hiệu lực
Tính hiệu lực trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại cấp tỉnh được hiểu là mức độ tuân thủ các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương ban hành, đồng thời là mức độ thực hiện đầy đủ, đúng đắn các mục tiêu đầu tư đã được xác định. Các mục tiêu này bao gồm: mục tiêu chính sách (quy hoạch, phát triển ngành, lĩnh vực) và các mục tiêu cụ thể về tiến độ, quy mô, chất lượng công trình. Các chỉ tiêu đánh giá tính hiệu lực bao gồm:
– Tuân thủ pháp luật về trình tự, thủ tục đầu tư: tỷ lệ dự án được phê duyệt đúng quy trình theo Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, tỷ lệ hồ sơ đấu thầu hợp lệ không bị kiến nghị hoặc đình chỉ.
– Tuân thủ pháp luật về đấu thầu, lựa chọn nhà thầu: tỷ lệ gói thầu thực hiện đúng quy định của Luật Đấu thầu (sử dụng mạng đấu thầu, công khai, minh bạch…). Số vụ việc bị kiến nghị do vi phạm quy định lựa chọn nhà thầu.
– Tuân thủ pháp luật về quản lý vốn đầu tư: tỷ lệ vốn được giao đúng theo kế hoạch trung hạn/năm; tỷ lệ giải ngân đúng hạn. Tỷ lệ dự án quyết toán đúng thời gian theo quy định tại Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công. Số vụ việc bị Kiểm toán Nhà nước/Thanh tra phát hiện sai phạm trong phân bổ, sử dụng vốn.
– Tuân thủ pháp luật về giám sát, nghiệm thu, bàn giao dự án: tỷ lệ công trình nghiệm thu đúng quy chuẩn kỹ thuật và pháp luật chuyên ngành, tỷ lệ công trình được bàn giao và đưa vào sử dụng đúng quy định.
– Trách nhiệm giải trình của các chủ thể có liên quan trong thực thi dự án.
4.2. Tính hiệu quả
Hiệu quả trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là tiêu chí phản ánh mức độ đạt được hoặc dự kiến đạt được các mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản; đồng thời, thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí đầu tư đã bỏ ra. Hiệu quả được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả đầu tư và nguồn lực sử dụng, qua đó, đánh giá mức độ hợp lý của đầu vào và mức độ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.
Các nhóm chỉ tiêu đánh giá gồm:
– Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính: chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án; chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư, còn gọi là hệ số thu hồi vốn đầu tư; chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn tự có; chỉ tiêu số lần quay vòng của vốn lưu động; chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư dự án (thời gian thu hối vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao); chỉ tiêu mức chi phí thấp nhất trong trường hợp các điều kiện khác nhau (dời dự án, doanh thu thuần…) tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư của dự án; chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ; chỉ tiêu điểm hòa vốn.
– Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động đầu tư: giá trị sản phẩm thuần túy tăng thêm của địa phương. Giá trị này là phần giá trị tăng được sử dụng trong nước; giá trị tăng thuần túy được chuyển ra nước ngoài; chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư; chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ; chỉ tiêu ngoại hối ròng (tiết kiệm ngoại tệ); các chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế; tác động khác của dự án, như: ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng, tác động đến môi trường, nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, tác động về xã hội, chính trị và kinh tế.
– Quy mô GRDP tạo ra trên một đồng vốn đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (được tính bằng GRDP do đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách tạo ra chi cho tổng đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách đã thực hiện). Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio) phản ánh mức sử dụng vốn để tạo ra tăng trưởng (ICOR thấp thể hiện hiệu quả cao).
– Quy mô thu ngân sách trên địa bàn tỉnh trên một đồng đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách của địa phương (được tính bằng cách lấy tổng thu ngân sách do đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách đóng góp chia cho tổng vốn đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách đã thực hiện).
– Tỷ lệ dự án hoàn thành đúng tiến độ và đúng dự toán: phản ánh trực tiếp hiệu quả quản lý.
– Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản (theo năm, kế hoạch trung hạn).
– Tỷ lệ thất thoát, lãng phí, điều chỉnh tổng mức đầu tư.
– Mức độ minh bạch trong lựa chọn dự án, đấu thầu, quyết toán (có thể tham chiếu chỉ số CPIA – Country Policy and Institutional Assessment của WB).
– Hiệu quả sử dụng các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước; hệ số khai thác; tỷ lệ tài sản công nhàn rỗi hoặc xuống cấp; tỷ lệ thu từ khai thác tài sản công so với chi phí duy tu, bảo dưỡng; chi phí vòng đời tài sản; mức độ đáp ứng nhu cầu công cộng, công bằng xã hội và mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ công.
Do đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước thường được thực hiện trong thời gian dài và giá trị sử dụng của công trình có thể kéo dài hàng chục năm, việc xác định hiệu quả đầu tư một cách rành mạch trong ngắn hạn là hết sức khó khăn. Vì vậy, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước cần được đánh giá trên cơ sở tổng hợp các lợi ích trực tiếp và gián tiếp mà dự án mang lại cho các đối tượng thụ hưởng trong suốt vòng đời công trình.
4.3. Tính phù hợp
Tiêu chí tính phù hợp đánh giá mức độ phù hợp của mục tiêu đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước với các vấn đề thực tiễn, nhu cầu và ưu tiên phát triển của địa phương, cũng như sự phù hợp với môi trường chính sách và điều kiện thực hiện dự án. Đồng thời, tiêu chí này còn phản ánh sự phù hợp giữa cơ cấu bộ máy quản lý, hệ thống giám sát, đánh giá với năng lực thực tế trong triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản.Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:
– Mục tiêu đầu tư phù hợp với nhu cầu phát triển thực tế của địa phương.
– Cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản theo ngành/lĩnh vực thể hiện ưu tiên chiến lược, phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của địa phương.
– Dự án đầu tư phù hợp với định hướng, chính sách của Nhà nước ở trung ương và địa phương.
– Bộ máy quản lý phù hợp với năng lực triển khai dự án của từng địa phương.
– Hệ thống quy định pháp lý đạt được sự đồng thuận và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
– Hệ thống chính sách, pháp luật của địa phương thống nhất và phù hợp với quy định pháp lý do trung ương ban hành.
4.4. Tính bền vững
Tiêu chí tính bền vững xem xét khả năng duy trì và mở rộng các lợi ích của quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước sau khi hoạt động đầu tư kết thúc. Đây là tiêu chí phản ánh tác động tích cực, ổn định và lâu dài của quản lý nhà nước đối với dự án; đồng thời, bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan. Các chỉ số đo lường tính bền vững bao gồm:
– Tính ổn định dài hạn của hiệu quả đầu tư, xét trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
– Khả năng tự duy trì hoạt động của công trình sau đầu tư, không phụ thuộc thường xuyên vào việc tái cấp vốn ngân sách.
– Mức độ hài hòa của dự án với chiến lược phát triển địa phương, quy hoạch tổng thể và nhu cầu cộng đồng.
– Hệ thống pháp luật bảo đảm tính ổn định, đồng thời cho phép kiểm soát và điều chỉnh kịp thời các chính sách trước những biến động của môi trường phát triển.
– Năng lực giám sát và hậu kiểm sau đầu tư, bao gồm việc thiết lập quy trình đánh giá định kỳ để kịp thời điều chỉnh hoặc xử lý các bất cập phát sinh, hạn chế tổn thất về tài sản công và suy giảm niềm tin xã hội.
5. Kết luận
Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh là lĩnh vực có chu trình thực hiện kéo dài, quy mô vốn lớn và mức độ rủi ro cao, do đó, việc đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này không thể dừng lại ở kiểm soát trình tự, thủ tục hành chính đơn thuần. Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh thời gian qua không chỉ xuất phát từ sự bất cập của quy định hay quy trình mà chủ yếu do thiếu một bộ tiêu chí đánh giá đủ toàn diện để đo lường thực chất năng lực của các chủ thể quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản trong toàn bộ chu trình đầu tư. Việc vận dụng đồng bộ bốn tiêu chí sẽ góp phần kiểm soát rủi ro, hạn chế thất thoát, lãng phí, tham nhũng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh trong thời gian tới.
Chú thích:
1. Quốc hội (2024). Luật Đầu tư công năm 2024.
2. Bùi Minh Chuyên (2022). Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Từ lý luận đến thực tiễn. Tạp chí Tài chính, số kỳ 2 (tháng 5/2022).
3. Thanh tra TP. Hồ Chí Minh (2025). Kết luận thanh tra chuyên đề đối với các công trình, dự án gặp khó khăn, vướng mắc trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
4. Đặng Thị Phương Nga (2022). Vấn đề đặt ra khi áp dụng mô hình đánh giá quản lý đầu tư công của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam. Tạp chí Tài chính, số 8/2022.
Tài liệu tham khảo:
1.Trần Vân Anh (2017). Tiêu chí đánh giá hiệu quả vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh. Tạp chí Công thương, số 11/2017.
2. Bộ Tài chính (2019). Hoàn thiện thể chế đầu tư công của Việt Nam trong thời gian tới”. Đề tài nghiên cứu mã số 220-52.
3. Nguyễn Thị Thùy Liên (2021). Thực trạng về đầu tư công từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước tại Việt Nam: Những vấn đề đặt ra và kiến nghị. Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, số 22/2021.
4. Grigoli, F., and Z. Mills (2014). Institutions and Public Investment: An Empirical Analysis. Economics of Governance, Vol. 15, Issue 2: pp. 131 – 53.



