Một số giải pháp tiếp tục tạo đột phá trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy hiện nay

PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
TS. Lê Kiến Hưng
Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy là một “cuộc cách mạng” trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện tổ chức bộ máy hiện nay, những “điểm nghẽn” về chức năng, nhiệm vụ, từ đó, đề xuất một số giải pháp đột phá tiếp tục hoàn thiện thể chế, mô hình bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm”; cải cách chế độ công vụ gắn với vị trí việc làm và ứng dụng chuyển đổi số để hiện đại hóa quản trị quốc gia.

Từ khóa: Tinh gọn bộ máy; hệ thống chính trị; cải cách hành chính; hiệu lực, hiệu quả; đổi mới thể chế; kỷ nguyên mới.

1. Đặt vấn đề

Đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử trọng đại – bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau 40 năm đổi mới. Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, bên cạnh việc định hướng đường lối kinh tế – xã hội đúng đắn, công cụ tổ chức thực hiện – bộ máy hệ thống chính trị đóng vai trò quyết định. Việc tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những điểm nghẽn trong thực trạng tổ chức bộ máy là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.

2. Một số kết quả thực hiện

Thời gian qua, phương án sắp xếp, hợp nhất các bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đã đạt những kết quả một cách thực chất. Việc sáp nhập không chỉ là sự ghép nối cơ học về tên gọi mà là sự lồng ghép các chức năng có sự giao thoa mật thiết. Sự tái cấu trúc bao hàm việc chuyển giao các chức năng không phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của bộ. Ví dụ, quản lý giáo dục nghề nghiệp được chuyển sang Bộ Giáo dục và Đào tạo; các mảng bảo trợ xã hội và chăm sóc trẻ em được chuyển về Bộ Y tế; nhiệm vụ giảm nghèo chuyển sang Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Điều này giúp mỗi bộ tập trung vào đúng năng lực cốt lõi, tránh tình trạng “ôm đồm” nhưng kém hiệu quả.

Bãi bỏ toàn bộ 30 tổng cục trong hệ thống hành chính nhà nước. Tổng cục vốn được xem là một “cấp trung gian” làm kéo dài quy trình ra quyết định và tăng chi phí vận hành. Việc cắt giảm hơn 1.000 cục, vụ và trên 4.400 chi cục trên toàn quốc là minh chứng cho sự quyết liệt trong việc “phẫu thuật” những bộ phận cồng kềnh1. Sự sắp xếp này không chỉ diễn ra ở khối hành chính mà còn lan tỏa sang khối Đảng và các tổ chức đoàn thể.

Ngoài ra, cải cách đơn vị hành chính địa phương là cuộc “sắp xếp lại giang sơn” về mặt không gian phát triển. Quyết định lịch sử tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội (khóa XV) đã chính thức thông qua lộ trình giảm số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 đơn vị (bao gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương)2. Khi hợp nhất các tỉnh, thành phố, Việt Nam hướng tới việc tạo ra các cực tăng trưởng đủ lớn, có khả năng tích tụ nguồn lực và phát triển hạ tầng quy mô lớn hơn. Điều này giúp chuyển dịch từ tư duy quản lý “địa giới hành chính” sang tư duy “không gian kinh tế”, nơi mà các lợi thế so sánh được phát huy tối đa trên một địa bàn rộng lớn hơn.

Đột phá nhất trong cải cách địa phương là việc chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã/phường/đặc khu) từ ngày 01/7/2025. Đây là sự thay đổi căn bản về cấu trúc quyền lực và quản lý hành chính tại Việt Nam. Việc xóa bỏ mô hình trung gian cấp huyện giúp giảm bớt một tầng nấc hành chính đáng kể, rút ngắn khoảng cách từ chính quyền tỉnh đến cơ sở. Số lượng đơn vị hành chính cấp xã giảm mạnh, chỉ còn 3.321 xã, phường (giảm 66,9% so với trước đây)3.

Với mục tiêu xây dựng một chính quyền “gần dân hơn, sát dân hơn”, các quyết định quản lý được đưa ra nhanh chóng và thực thi hiệu quả thông qua sự hỗ trợ của công nghệ số. Theo đó, kết quả tại một số địa phương cho thấy, mô hình chính quyền hai cấp giúp bộ máy vận hành nền nếp, các thiết chế phục vụ Nhân dân cơ bản được bố trí đầy đủ và hoạt động theo hướng phục vụ tốt hơn.

Ngoài ra, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đồng nghĩa với việc có một lượng lớn biên chế được cắt giảm. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, chỉ riêng trong giai đoạn 2023-2025, sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và xã, số lượng cán bộ, công chức dôi dư lên tới 21.800 người4. Để bảo đảm sự ổn định và công bằng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15/3/2025 với những chế độ đãi ngộ vượt trội5. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, Chính phủ còn chú trọng đến việc “hệ số chênh lệch bảo lưu lương” và các khoản phụ cấp thâm niên, ưu đãi nghề khi tính toán trợ cấp, bảo đảm người lao động không bị thiệt thòi về thu nhập khi chuyển đổi trạng thái.

Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tích cực triển khai các chương trình đào tạo lại kỹ năng (reskilling) để cán bộ dôi dư có thể chuyển sang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoặc khu vực kinh tế tư nhân. Sự tham gia của các trung tâm dịch vụ việc làm là chìa khóa để biến “áp lực dôi dư” thành “nguồn cung lao động chất lượng cao” cho thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế số và dịch vụ.

Việc ứng dụng các công nghệ mới, như: AI, Big Data và IoT đã và sẽ giúp tự động hóa các quy trình làm việc, góp phần làm thay đổi hoàn toàn phương thức giao tiếp giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp. Việc cắt giảm các tầng nấc trung gian (như cấp huyện hay cấp tổng cục) chỉ thực sự hiệu quả khi luồng thông tin được luân chuyển thông suốt trên môi trường số. Các quy trình hành chính thủ công, giấy tờ đang dần được thay thế bằng dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Việc ứng dụng AI trong xử lý hồ sơ giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, giảm thiểu sự can thiệp chủ quan của cán bộ, từ đó hạn chế tiêu cực và tham nhũng vặt.

Tại các địa phương thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp, việc chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin tại các Trung tâm phục vụ hành chính công đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Ví dụ, trong hơn 2 tháng triển khai mô hình hai cấp, tỉnh Gia Lai đã tiếp nhận và giải quyết hơn 293.000 hồ sơ, trong đó gần 262.600 hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn6. Điều này chứng minh, khi công nghệ được đầu tư đúng mức, bộ máy tinh gọn hoàn toàn có thể đảm đương khối lượng công việc lớn hơn với hiệu quả cao hơn.

Mặc dù có những chuyển biến nêu trên nhưng so với yêu cầu của “kỷ nguyên vươn mình”, tổ chức bộ máy vẫn sẽ còn những hạn chế mang tính hệ thống, thậm chí là những “khuyết tật” cản trở sự phát triển chưa thể khắc phục ngay, đó là: tình trạng “bình mới rượu cũ” và sự cồng kềnh từ bên trong khi “cộng dồn” các đơn vị trong quá trình hợp nhất, sáp nhập các cơ quan, đơn vị chưa tạo ra sự thay đổi về chất trong quy trình vận hành tổ chức bộ máy. Bộ máy bên trong các bộ, ngành vẫn duy trì cấu trúc “hình tháp” nhiều tầng nấc trung gian. Tình trạng “Bộ trong Bộ” (các tổng cục, cục lớn có bộ máy cồng kềnh riêng biệt), “hàm Vụ trưởng, hàm Vụ phó” vẫn tồn tại, làm chậm quy trình luân chuyển thông tin và ra quyết định7.

Sự chồng chéo, giao thoa về chức năng, nhiệm vụ vẫn là “điểm nghẽn”, do còn tình trạng một việc do nhiều cơ quan cùng quản lý nhưng trách nhiệm chính lại không rõ ràng (ví dụ: quản lý an toàn thực phẩm, quản lý tài nguyên nước, kinh tế số…). Sự phân công giữa trung ương và địa phương chưa rành mạch theo hướng “việc nào, cấp nào sát thực tế hơn thì giao cho cấp đó”, dẫn đến trung ương vẫn ôm đồm sự vụ, còn địa phương thiếu cơ chế chủ động8.

Việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp tỉnh và xã đòi hỏi một nguồn kinh phí khổng lồ cho việc đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng số và chi trả chế độ cho cán bộ dôi dư. Một số địa phương gặp khó khăn cục bộ về nguồn chi do các chỉ tiêu phát triển kinh tế chưa kịp thích ứng với quy mô quản lý mới. Bộ máy cồng kềnh tỷ lệ thuận với chi phí vận hành khổng lồ, “ăn mòn” nguồn lực đầu tư phát triển. Có tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức có tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm, làm cầm chừng”, dẫn đến sự trì trệ của cả hệ thống. Bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả là một trong những nguyên nhân gây lãng phí nghiêm trọng nguồn lực của đất nước9.

Những tồn tại trong chất lượng xây dựng pháp luật, sự chồng chéo giữa các quy định và tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư” đã làm chậm tiến trình đổi mới. Một số luật mới ban hành đã phải sửa đổi do không sát thực tiễn hoặc gây khó khăn cho quá trình thực thi. Việc tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đòi hỏi một tư duy lập pháp mới, tập trung vào việc khơi thông nguồn lực thay vì chỉ chú trọng quản lý chặt chẽ.

Tinh gọn bộ máy cũng đã đụng chạm trực tiếp đến lợi ích, quyền lực và vị trí việc làm của hàng vạn con người. Do đó, tâm lý e ngại thay đổi, sợ mất quyền lợi hoặc tư duy “an phận” vẫn còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ. Ngoài ra, chất lượng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay còn hạn chế về kỹ năng chuyên môn, như: đất đai, quy hoạch, công nghệ thông tin, gây áp lực khi phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ từ cấp huyện chuyển xuống.

3. Một số giải pháp tiếp tục thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị hiệu lực, hiệu quả

3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế và tái cấu trúc mô hình tổ chức

Thực hiện mô hình Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực thực chất. Theo đó, rà soát, sửa đổi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan theo hướng sáp nhập các bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, giao thoa. Thực hiện triệt để nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Chấm dứt tình trạng phân tán nguồn lực, cát cứ cục bộ bằng cách quy về một đầu mối quản lý xuyên suốt từ trung ương đến địa phương đối với các lĩnh vực quan trọng (như: quản lý tài chính, đất đai, xây dựng, giao thông…). Đổi mới quy trình lập pháp theo Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025của Bộ Chính trị, tập trung xây dựng các đạo luật mang tính khung, tạo không gian cho sự sáng tạo và chủ động của địa phương.

Luật hóa và siết chặt kỷ luật thành lập tổ chức mới. Xây dựng cơ chế “kiểm soát đặc biệt” đối với việc đề xuất thành lập tổ chức. Quy định rõ nguyên tắc, chỉ được thành lập tổ chức mới khi chứng minh được hiệu quả kinh tế – xã hội rõ rệt, có ý kiến thẩm định độc lập và phải có phương án cắt giảm tổ chức cũ hoặc biên chế tương ứng (nguyên tắc “có vào – có ra”).

3.2. Nhóm giải pháp về phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để, “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương và các luật chuyên ngành để phân định lại thẩm quyền. Trung ương tập trung vào hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế, quy hoạch và kiểm tra, giám sát; tuyệt đối không can thiệp vào các quyết định hành chính cụ thể thuộc thẩm quyền địa phương. Mạnh dạn giao quyền cho địa phương quyết định về tổ chức bộ máy, biên chế và ngân sách trong khung khổ pháp luật quy định10. Giao quyền đi đôi với giao nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp trong mô hình chính quyền hai cấp để tránh tình trạng “đùn đẩy” hoặc “khoán trắng” cho cơ sở.

Chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, thay đổi tư duy quản lý từ cơ chế “xin – cho” (phải xin phép trước mới được làm) sang cơ chế ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để địa phương, doanh nghiệp tự thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát sau (hậu kiểm). Điều này cắt giảm hàng loạt thủ tục hành chính và bộ máy thẩm định trung gian.

3.3. Nhóm giải pháp về công tác cán bộ và chế độ công vụ

Sàng lọc cán bộ và tinh giản biên chế thực chất. Không cào bằng chỉ tiêu giảm biên chế (ví dụ mỗi nơi đều giảm 10%) mà phải dựa trên vị trí việc làm và khối lượng công việc thực tế. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, né tránh trách nhiệm, năng lực yếu kém. Thực hiện nghiêm Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 của Bộ Chính trị về kết quả giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm nếu bộ máy của mình cồng kềnh, kém hiệu quả11. Xây dựng danh mục vị trí việc làm khoa học, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đánh giá và trả lương theo kết quả công việc thay vì theo bằng cấp hay thâm niên.

Mục tiêu của tinh gọn bộ máy là để có nguồn lực thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Chỉ khi bộ máy gọn nhẹ, số lượng người hưởng lương từ ngân sách giảm xuống thì mới có điều kiện trả lương cao, thu hút nhân tài thực sự vào khu vực công, tạo động lực làm việc và giảm thiểu nguy cơ tham nhũng vặt.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và thay đổi văn hóa công sở. Tập trung bồi dưỡng năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng số và kiến thức chuyên môn sâu cho cán bộ cấp xã để họ có thể đảm đương nhiệm vụ trong mô hình mới. Xây dựng văn hóa phục vụ theo Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về chấn chỉnh lề lối làm việc, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo cao nhất cho hiệu quả của bộ máy. Có cơ chế đặc thù để thu hút những chuyên gia giỏi về làm việc trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ và hoạch định chính sách.

3.4. Nhóm giải pháp về ứng dụng công nghệ và dữ liệu số

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung, kết nối liên thông để giảm bớt các bộ phận làm công tác tổng hợp, báo cáo, văn thư thủ công. Đầu tư hạ tầng số và hiện đại hóa quản trị quốc gia. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, bảo đảm tính liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương để giảm bớt các thủ tục xác nhận, đối chiếu thủ công. Tăng cường ứng dụng AI trong quản lý nhà nước, từ việc phân tích dữ liệu kinh tế vĩ mô đến việc giải quyết các khiếu nại, kiến nghị của người dân.

Hoàn thiện hạ tầng tại cơ sở, bảo đảm tất cả các xã, phường đều có hạ tầng mạng ổn định và trang thiết bị hiện đại tại các trung tâm phục vụ hành chính công để thực hiện tốt mô hình chính quyền hai cấp. Sử dụng công nghệ số để giám sát thực thi công vụ, đánh giá hiệu quả cán bộ và tổ chức một cách định lượng, khách quan. Phát triển mô hình “Chính phủ số, quản trị phẳng”, giảm bớt sự can thiệp của yếu tố chủ quan con người trong các quy trình hành chính công12.

4. Kết luận

Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ là nhiệm vụ tự thân nhằm giảm áp lực ngân sách mà là “mệnh lệnh từ thực tiễn” để giải phóng lực lượng sản xuất và khơi thông các nguồn lực phát triển. Thành công của cuộc cách mạng này phụ thuộc vào quyết tâm chính trị của người đứng đầu, sự đồng bộ của thể chế pháp lý và việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Một bộ máy “tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả” là nền tảng vững chắc để kiến tạo một Chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ Nhân dân và đưa đất nước phát triển bứt phá trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1, 2, 3. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Quyết sách lịch sử, kiến tạo động lực phát triển. https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/cuoc-cach-mang-tinh-gon-bo-may-quyet-sach-lich-su-kien-tao-dong-luc-phat-trien-1491941242
4. Công chức, viên chức dôi dư có thể làm gì? https://vov.vn/xa-hoi/cong-chuc-vien-chuc-doi-du-co-the-lam-gi-post1146858.vov
5. Chính phủ (2025). Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15/3/2025 về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
6. Gia Lai: Tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả mô hình chính quyền hai cấp. https://baochinhphu.vn/gia-lai-thao-go-kho-khan-nang-cao-hieu-qua-mo-hinh-chinh-quyen-2-cap-102250924154337077.htm
7. Chính phủ (2021). Báo cáo số 268/BC-CP ngày 18/8/2021 về công tác cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.
8. Tinh – Gọn – Mạnh – Hiệu năng – Hiệu lực – Hiệu quả. https://nhandan.vn/tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua-post843236.html.
9. Chống lãng phí. https://nhandan.vn/chong-lang-phi-post836379.html.
10. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp Thường trực Tiểu ban Kinh tế – Xã hội. https://nhandan.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-chu-tri-phien-hop-thuong-truc-tieu-ban-kinh-te-xa-hoi-post832863.html.
11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 về kết quả giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ.
12. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.