Trung tá Nguyễn Văn Tân
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước, thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và tính nhân văn của chế độ. Qua thực tiễn triển khai, chính sách này đã góp phần nâng cao đời sống người có công, củng cố niềm tin xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Bài viết nhìn lại những kết quả đạt được và rút ra bài học kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Chủ trương của Đảng; chính sách của Nhà nước; người có công với cách mạng; niềm tin xã hội.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, sự hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ người có công với cách mạng là nền tảng làm nên độc lập, tự do và sự phát triển bền vững của đất nước. Nhận thức sâu sắc giá trị ấy, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc chăm lo, thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công là trách nhiệm chính trị, đồng thời là biểu hiện sinh động của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Qua từng giai đoạn lịch sử, hệ thống chính sách ưu đãi người có công không ngừng được bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện ngày càng đồng bộ, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng chính sách, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc đánh giá toàn diện những thành tựu đạt được, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ…”1. Tư tưởng nhân văn đó đã trở thành nền tảng tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng ở Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng và Nhà nước đã xác định công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.
Cơ sở pháp lý đầu tiên của chính sách ưu đãi người có công được xác lập bằng Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947, quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất đối với thân nhân tử sĩ. Tiếp đó, Sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948 bổ sung quy định về tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng “tử sĩ”, thực hiện chế độ “lương hưu thương tật” và “tiền tuất” đối với gia đình liệt sĩ. Việc lấy ngày 27/7 hằng năm là “Ngày Thương binh toàn quốc” cùng lời kêu gọi toàn dân phát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đã tạo nền tảng xã hội rộng rãi cho việc triển khai chính sách ưu đãi người có công.
Sau năm 1954, cùng với nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, cán bộ tiền khởi nghĩa, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động và người có công giúp đỡ cách mạng, góp phần ổn định đời sống xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Sau khi đất nước thống nhất, công tác thương binh, liệt sĩ tiếp tục được xác định là một vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc. Chỉ thị số 223/CT-TW ngày 08/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ trong điều kiện hậu chiến. Trên cơ sở đó, Nhà nước từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật ưu đãi người có công, khắc phục những bất cập, giải quyết hậu quả chiến tranh và bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.
Trong thời kỳ đổi mới gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính sách ưu đãi người có công tiếp tục được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Văn kiện Đại hội VI, VII và VIII của Đảng đều khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách xã hội; trong đó, chăm lo người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn xã hội. Các cấp, các ngành được yêu cầu thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ ưu đãi, đồng thời có biện pháp hỗ trợ thiết thực về việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và giáo dục – đào tạo.
Quan điểm đó được hiến định tại Chương V, Điều 67 của Hiến pháp năm 1992, khẳng định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước… Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”. Trên cơ sở Hiến pháp, Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được ban hành ngày 10/9/1994, cùng với Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình pháp điển hóa chính sách ưu đãi người có công.
Pháp lệnh năm 1994 đã điều chỉnh nhiều bất cập trong chính sách trước đó, bảo đảm nguyên tắc công bằng giữa các đối tượng, từng bước tách chính sách ưu đãi xã hội khỏi chính sách bảo hiểm xã hội, đồng thời luật hóa các nội dung ưu đãi trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng tiếp tục được sửa đổi, bổ sung các năm 1998, 2000, thay thế bằng Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11, sửa đổi bởi Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13, và hiện hành là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14. Pháp lệnh năm 2020 là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất, quy định đầy đủ, toàn diện về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.
Trên cơ sở Pháp lệnh năm 2020, Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, tiêu biểu là Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021, quy định mức trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân. Tiếp đó, Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21/7/2023 và Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 đã kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người có công, đồng thời phản ánh rõ thành tựu trong việc gắn thực hiện chính sách ưu đãi xã hội với kết quả phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
3. Tình hình triển khai và kết quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Một là, về cơ sở pháp lý và đối tượng thụ hưởng.
Việc triển khai chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay được tiến hành trên cơ sở Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong toàn bộ hệ thống chính trị. Các bộ, ngành và địa phương đã chủ động cụ thể hóa chính sách bằng chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và thân nhân.
Theo số liệu chính thức của Bộ Nội vụ công bố năm 2025, cả nước hiện có trên 9,2 triệu người có công và thân nhân người có công với cách mạng, trong đó khoảng 1,1 triệu người đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng2. Đây là nhóm đối tượng chính sách có quy mô lớn, phân bố rộng khắp các vùng, miền, đòi hỏi việc tổ chức thực hiện chính sách phải bảo đảm tính bền vững và lâu dài.
Hai là, về nguồn lực thực hiện và công tác giải quyết hồ sơ chính sách.
Cùng với việc mở rộng đối tượng, nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi người có công tiếp tục được Nhà nước ưu tiên bố trí ở mức cao. Hằng năm, ngân sách nhà nước dành trên 30.000 tỷ đồng để chi trả các chế độ trợ cấp, phụ cấp, điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở, giáo dục – đào tạo và các chính sách ưu tiên khác đối với người có công và thân nhân3. Công tác giải quyết hồ sơ xác nhận người có công được đẩy mạnh theo hướng công khai, minh bạch và đúng quy định: “hồ sơ tồn đọng kéo dài nhiều năm đã được giải quyết căn bản, trong đó hơn 2.400 liệt sĩ và trên 2.700 thương binh góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có công và hạn chế phát sinh khiếu kiện phức tạp4.
Ba là, về thực hiện các chế độ chăm sóc, hỗ trợ đời sống và phát triển sinh kế.
Việc thực hiện các chế độ chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng và phục hồi chức năng tiếp tục được duy trì thường xuyên. Mỗi năm, trên 600.000 lượt người có công được điều dưỡng luân phiên tại các cơ sở điều dưỡng hoặc tại gia đình; trên 1,8 triệu người có công được Nhà nước mua bảo hiểm y tế5, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và cải thiện chất lượng sống cho đối tượng chính sách. Chính sách hỗ trợ nhà ở tiếp tục là một trong những nội dung trọng tâm. Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến giữa năm 2025 hơn 41.800 căn nhà đã được xây mới hoặc sửa chữa, từ nguồn ngân sách nhà nước là 1.970 tỷ đồng và các nguồn vận động, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân đóng góp6. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và việc làm, trên 54.000 lượt người có công và thân nhân được hỗ trợ học tập, đào tạo nghề7, trong đó hàng chục nghìn người được đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới ba tháng, góp phần tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập.
Bốn là, về công tác tìm kiếm, quy tập liệt sĩ
Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tiếp tục được triển khai quyết liệt. Tính đến năm 2025, toàn quốc đã tìm kiếm, quy tập trên 18.583 hài cốt liệt sĩ8, trong đó hàng nghìn hài cốt được xác định danh tính bằng phương pháp giám định ADN, từng bước đáp ứng nguyện vọng của thân nhân liệt sĩ và yêu cầu chính trị, nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước.
Nhìn chung, kết quả triển khai chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đến năm 2025 cho thấy, sự chuyển biến rõ nét cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả thực hiện. Các chính sách không chỉ bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống người có công và thân nhân mà còn góp phần quan trọng củng cố ổn định chính trị – xã hội, tăng cường niềm tin của Nhân dân và tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc tiếp tục hoàn thiện chính sách trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
4. Một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng hiện nay
Thứ nhất, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạngphải luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Sự lãnh đạo đó bảo đảm cho chính sách ưu đãi người có công luôn giữ vững bản chất chính trị – xã hội đúng đắn, không bị chi phối bởi tư duy nhiệm kỳ hay cách tiếp cận thuần túy phúc lợi. Thực tiễn cho thấy, ở những thời điểm và địa phương mà cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo chặt chẽ, coi công tác người có công là nhiệm vụ chính trị thường xuyên thì việc triển khai chính sách đạt hiệu quả cao, tạo được sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân. Đây là bài học có tính nguyên tắc, cần tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững hiện nay.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, pháp luật về ưu đãi người có công phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và theo hướng đồng bộ, thống nhất. Chính sách ưu đãi người có công chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa đầy đủ bằng các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch, có tính ổn định nhưng đồng thời đủ linh hoạt để thích ứng với sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội. Phải coi trọng tổng kết thực tiễn, kịp thời phát hiện những điểm bất cập, chồng chéo để điều chỉnh chính sách, tránh tình trạng khoảng trống pháp lý hoặc quy định không còn phù hợp, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện và ảnh hưởng đến quyền lợi của người có công.
Thứ ba, cần gắn việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với kết quả phát triển kinh tế – xã hội, coi đây là điều kiện vật chất quan trọng bảo đảm tính bền vững của chính sách. Sự cải thiện đời sống người có công không thể tách rời nền tảng kinh tế quốc gia và năng lực huy động, phân bổ nguồn lực của Nhà nước. Đồng thời, chính sách ưu đãi người có công, khi được thực hiện tốt, lại trở thành yếu tố góp phần củng cố ổn định chính trị – xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa chính sách xã hội và phát triển kinh tế trong quá trình xây dựng đất nước.
Thứ tư, bảo đảm nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch trong xác nhận đối tượng và tổ chức thực hiện chính sách là yêu cầu có tính sống còn. Nếu công tác rà soát, xác nhận không chặt chẽ, thiếu minh bạch thì không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn có nguy cơ gây bức xúc xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân. Vì vậy, phải tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân trong toàn bộ quá trình thực hiện chính sách.
Thứ năm, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức thực hiện chính sách theo hướng lấy người có công làm trung tâm, chuyển từ cách tiếp cận quản lý sang phục vụ. Những địa phương chủ động cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ – thông tin, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác người có công đã tạo được chuyển biến rõ nét về hiệu quả thực hiện chính sách và mức độ hài lòng của đối tượng thụ hưởng. Từ đó, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ Nhân dân.
Thứ sáu, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công cần tiếp tục được khẳng định. Bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước, việc huy động sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và từng người dân đã góp phần làm phong phú nội dung, hình thức “đền ơn đáp nghĩa”, đồng thời lan tỏa sâu rộng giá trị nhân văn của chính sách trong xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng cơ chế phối hợp bền vững giữa Nhà nước và xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng.
5. Kết luận
Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện sâu sắc bản chất nhân văn của chế độ và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Chính sách này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ổn định đời sống người có công, củng cố niềm tin của Nhân dân và tăng cường ổn định chính trị – xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách ngày càng trở nên cấp thiết. Tổng kết và vận dụng đúng đắn các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Qua đó, góp phần xây dựng nền an sinh xã hội bền vững, thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, sự thật, tr. 401.
2. 3. Chính sách với người có công: Những kết quả nổi bật, nghĩa tình lan tỏa. https://baochinhphu.vn/chinh-sach-voi-nguoi-co-cong-nhung-ket-qua-noi-bat-nghia-tinh-lan-toa-102250726111720117.htm
4, 5, 6, 7, 8. Chính sách ưu đãi người có công – thành tựu và định hướng phát triển trong giai đoạn mới. https://tcnnld.vn/news/detail/69232/Chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-thanh-tuu-va-dinh-huong-phat-trien-trong-giai-doan-moi.html
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2017). Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng.
2. Quốc hội(1992). Hiến pháp năm 1992, 2013.
3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 quy định mức trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.
4. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2020). Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14: Ưu đãi người có công với Cách mạng.
5. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công, góp phần ổn định chính trị – xã hội phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/22/thuc-hien-tot-chinh-sach-uu-dai-doi-voi-nguoi-co-cong-gop-phan-on-dinh-chinh-tri-xa-hoi-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguyen-moi.



