Solutions to strengthen state management of primary and lower secondary education in Ho Chi Minh City in the new context
ThS. Đặng Thanh An
Trường Đại học Sài Gòn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên nhiều phương diện, như: bảo đảm thực hiện quyền học tập của công dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền hai cấp; phát triển nguồn nhân lực tại chỗ; tăng cường gắn kết giữa chính quyền và Nhân dân… Bài viết trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; giáo dục tiểu học; trung học cơ sở; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: In the context of implementing a two-level local government model, strengthening state management of primary education and lower secondary education is particularly important in many aspects, such as ensuring the right to education of citizens; improving the efficiency and effectiveness of management of the two-level government; developing on-site human resources; enhancing the connection between the government and the people… Based on an analysis of the current of state management of primary education and lower secondary education in Ho Chi Minh City, the article evaluates the achieved results, limitations, and proposes some solutions to strengthen state management of primary education and lower secondary education in the current context.
Keywords: State management; primary education; lower secondary education; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông, đặc biệt là cấp tiểu học và trung học cơ sở giữ vai trò nền tảng trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dân trí. Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, còn trung học cơ sở là giai đoạn hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất toàn diện cho học sinh.
TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn nhất cả nước, có quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu học tập ngày càng tăng, hệ thống giáo dục đang chịu nhiều áp lực về cơ sở vật chất, đội ngũ và chất lượng đào tạo dẫn đến áp lực rất lớn đối với hệ thống giáo dục. Do đó, yêu cầu đặt ra cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước (QLNN) về giáo dục nhằm bảo đảm công bằng, chất lượng và phát triển bền vững ngành Giáo dục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
2. Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học và trung học cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh
2.1. Kết quả đạt được
Trong những năm qua, công tác QLNN đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, phản ánh rõ vai trò điều tiết, định hướng và tổ chức thực hiện của cơ quan quản lý trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đô thị hóa nhanh. Những kết quả này được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý giáo dục. Công tác QLNN đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý. Thành phố đã triển khai đồng bộ Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, với 100% cơ sở giáo dục tiểu học và trung học cơ sở thực hiện theo đúng lộ trình; đồng thời, tổ chức tập huấn cho trên 95% giáo viên về nội dung và phương pháp dạy học mới1.
Công tác kiểm tra, đánh giá cũng được đổi mới theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt trên 99%, trong khi tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt trên 98% hằng năm2. Những kết quả này phản ánh hiệu quả của việc chuyển đổi từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực trong quản lý giáo dục.
Hai là, phát triển mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất. Thành phố đã chú trọng quy hoạch và phát triển mạng lưới trường lớp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng. Tính đến năm học 2023 – 2024, có khoảng 530 trường tiểu học và gần 300 trường trung học cơ sở, với quy mô hơn 800.000 học sinh tiểu học và trên 600.000 học sinh trung học cơ sở3. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được nâng cao, đạt khoảng: 60 – 65% đối với tiểu học; 55 – 60% đối với trung học cơ sở. Sĩ số học sinh/lớp được cải thiện, trung bình khoảng 40 – 45 học sinh/lớp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học4. Thành phố cũng ưu tiên đầu tư phát triển trường học tại các khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện giáo dục giữa các khu vực.
Ba là, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục. Công tác xã hội hóa giáo dục tại TP. Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tỷ lệ cơ sở giáo dục ngoài công lập chiếm khoảng 30 – 35% tổng số trường học, với khoảng 15 – 20% học sinh theo học tại khu vực này5. Hằng năm, Thành phố huy động được nguồn lực xã hội hóa lên tới hàng nghìn tỷ đồng, phục vụ xây dựng cơ sở vật chất và phát triển các mô hình giáo dục chất lượng cao. Sự phát triển của hệ thống trường tư thục, trường quốc tế và trường song ngữ đã góp phần đa dạng hóa loại hình giáo dục, đồng thời giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
Bốn là, đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại và chuyển đổi số. Trong đó, Thành phố đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục. Hiện nay, có 100% trường học sử dụng sổ điểm điện tử, học bạ điện tử; trên 90% cơ sở giáo dục triển khai hệ thống quản lý học sinh trực tuyến6.
2.2. Những hạn chế, bất cập
Mặc dù hệ thống chính sách giáo dục từng bước được hoàn thiện, song công tác dự báo và quy hoạch phát triển giáo dục chưa theo kịp tốc độ gia tăng dân số và đô thị hóa. Việc phân bố mạng lưới trường lớp của các khu vực trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh còn thiếu tính đồng bộ, dẫn đến tình trạng quá tải ở khu vực trung tâm; thiếu trường lớp ở khu vực ngoại thành. Điều này cho thấy, năng lực hoạch định chiến lược và quy hoạch giáo dục chưa thực sự sát với thực tiễn phát triển đô thị.
Việc triển khai các chủ trương đổi mới giáo dục, đặc biệt là chương trình về giáo dục phổ thông ở một số cơ sở còn mang tính hình thức hoặc thiếu đồng bộ; còn biểu hiện ở một số giáo viên chưa thích ứng đầy đủ với phương pháp dạy học mới; điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều trường còn lúng túng trong quản trị, hạn chế việc thực hiện phân cấp, trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, nhất là cơ chế tự chủ chưa đi đôi với kiểm soát và trách nhiệm giải trình. Điều này cho thấy việc phân cấp chưa thực sự hiệu quả, mô hình quản trị công hiện đại chưa được vận hành đầy đủ.
Công tác xã hội hóa giáo dục tuy đạt kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại, thể hiện chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân cư, nguy cơ thương mại hóa giáo dục, thể hiện trong việc ban hành cơ chế quản lý, thanh tra, kiểm tra khu vực ngoài công lập…; dẫn đến hoạt động kiểm tra, giám sát ở một số cơ sở giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát hiện kịp thời sai phạm, đánh giá đúng thực chất chất lượng giáo dục.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã được quan tâm nhưng mức độ ứng dụng chưa đồng đều giữa các khu vực, hạ tầng và năng lực số còn hạn chế. Điều này phản ánh quá trình hiện đại hóa nền hành chính giáo dục chưa đồng bộ, chuyển đổi số còn mang tính “triển khai kỹ thuật” hơn là “chuyển đổi quản trị”.
3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học và trung học cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý giáo dục.
Trước những bất cập trong hệ thống chính sách và cơ chế phân cấp, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất và linh hoạt. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp gắn với quy hoạch đô thị và dự báo gia tăng dân số cơ học, bảo đảm phân bố hợp lý hệ thống cơ sở giáo dục giữa các khu vực. Đồng thời, cần đổi mới cơ chế phân cấp quản lý giáo dục theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm giữa các cấp quản lý, đặc biệt giữa Sở Giáo dục và Đào tạo của Thành phố với chính quyền cấp xã và cơ sở giáo dục. Việc tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục phải đi đôi với thiết lập cơ chế kiểm soát hiệu quả, tránh tình trạng buông lỏng quản lý. Bên cạnh đó, xây dựng và hoàn thiện các chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện của đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt trong lĩnh vực tuyển sinh và huy động nguồn lực xã hội hóa giáo dục.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách giáo dục.
Để khắc phục những hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện, cần tăng cường năng lực triển khai chính sách ở cấp cơ sở thông qua việc đẩy mạnh công tác hướng dẫn, tập huấn và hỗ trợ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên của Thành phố. Đồng thời, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục tại địa phương.
Một giải pháp quan trọng là tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa giáo dục với các lĩnh vực, như: tài chính, xây dựng, nội vụ nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong quá trình triển khai chính sách. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và chia sẻ dữ liệu.
Đối với việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Thành phố, cần bảo đảm tính thực chất, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, tránh hình thức hóa; đồng thời, tăng cường kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.
Thứ ba, bảo đảm và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho giáo dục.
Xuất phát từ những hạn chế về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất dành cho phát triển giáo dục của Thành phố, cần tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các khu vực có áp lực dân số cao và tình trạng quá tải trường lớp. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục thông qua việc khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển cơ sở giáo dục, đặc biệt là thông qua các mô hình hợp tác công – tư (PPP). Việc huy động nguồn lực ngoài ngân sách phải đi đôi với cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục. Ngoài ra, cần giải quyết vấn đề quỹ đất cho giáo dục thông qua việc tích hợp trong quy hoạch đô thị, ưu tiên bố trí đất cho xây dựng trường học, đặc biệt tại các khu vực nội thành và khu đô thị mới của TP. Hồ Chí Minh.
Thứ tư, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục, cần tập trung chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý theo hướng tiếp cận quản trị công hiện đại, có năng lực điều hành, tổ chức và thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số. Đối với đội ngũ giáo viên của Thành phố, cần đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và đánh giá theo hướng dựa trên năng lực thực tiễn, đồng thời tăng cường bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ, tạo động lực làm việc và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành Giáo dục, đặc biệt tại các khu vực còn khó khăn nhằm bảo đảm sự phát triển cân đối của hệ thống giáo dục nói chung và của Thành phố nói riêng.
Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Trước những hạn chế trong hoạt động kiểm tra, giám sát, cần đổi mới phương thức thanh tra theo hướng chuyển từ kiểm tra hình thức sang đánh giá thực chất, chú trọng kiểm tra theo chuyên đề và đột xuất. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chí và công cụ đánh giá chất lượng giáo dục một cách toàn diện, dựa trên kết quả đầu ra và hiệu quả quản lý phù hợp với đặc thù của từng khu vực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát và phân tích dữ liệu cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính minh bạch và khách quan. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng đối với từng cấp quản lý và cơ sở giáo dục, gắn kết quả hoạt động với trách nhiệm cá nhân, qua đó tạo áp lực nâng cao hiệu quả QLNN.
Thứ sáu, chủ động thích ứng với bối cảnh khách quan và thúc đẩy chuyển đổi số.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và yêu cầu chuyển đổi số ngày càng cao, cần xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu giáo dục nhằm chủ động trong công tác quy hoạch và phân bổ nguồn lực. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục thông qua việc phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng học liệu số và triển khai các mô hình dạy học kết hợp, góp phần nâng cao chất lượng và tính linh hoạt của hoạt động giáo dục.
Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực ứng phó với các tình huống bất thường như dịch bệnh thông qua việc xây dựng các kịch bản tổ chức dạy học linh hoạt và nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ giáo viên và học sinh.
4. Kết luận
Bài viết đã tập trung vào các nội dung, như: hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý giáo dục, nhất là đối với công tác quản lý giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách giáo dục; bảo đảm và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho giáo dục; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình; chủ động thích ứng với bối cảnh khách quan và thúc đẩy chuyển đổi số đã được tiếp cận toàn diện các giải pháp nhằm gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và bảo đảm nguồn lực; đồng thời, chú trọng yếu tố con người và cơ chế giám sát, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở của Thành phố trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Chú thích:
1, 4, 6. Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh (2023). Báo cáo tổng kết năm học 2022 – 2023.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2023). Báo cáo tổng kết năm học 2022 – 2023.
3. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh. (2023). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2023.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022). Báo cáo tổng kết năm học 2021 – 2022.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Nguyễn, V. H., & Trần, M. Q. (2021). Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học Giáo dục, 17(3), tr. 45 – 52.
3. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2022). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2022.
4. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Quyết định số 2673/Q Đ-UBND ngày 29/6/2023 về ban hành kế hoạch đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bảo đảm cung ứng, nhu cầu tái cơ cấu các ngành, lĩnh vực kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. TP. Hồ Chí Minh phấn đấu thành trung tâm giáo dục và đào tạo chất lượng cao trong kỷ nguyên phát triển mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1169202/view_content
6. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp tư thục tại TP. Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/03/24/doi-moi-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-nghe-nghiep-tu-thuc-tai-tp-ho-chi-minh/.



