Hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

The Vietnam fatherland front’s oversight activities in criminal proceedings

ThS. Nguyễn Thanh Nga
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp, có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch của hoạt động tố tụng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Với vị trí là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật giao thực hiện chức năng giám sát hoạt động quả lý nhà nước nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói riêng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ khóa: Giám sát xã hội; tố tụng hình sự; kiểm soát quyền lực nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Abstract:  In the process of building a socialist rule-of-law state in Vietnam, the oversight of state power—particularly in the judicial sector—plays a crucial role in ensuring the objectivity and transparency of criminal proceedings and in protecting human rights and citizens’ rights. As the political foundation of the people’s government, the Vietnam Fatherland Front is entrusted by the Constitution and laws to perform the function of supervising state administrative activities in general and criminal proceedings in particular. This article analyzes the theoretical, legal, and practical foundations of the Vietnam Fatherland Front’s oversight activities in criminal proceedings; from there, it proposes several solutions to enhance the effectiveness of the Vietnam Fatherland Front’s oversight of criminal proceedings, thereby contributing to strengthening the mechanism for controlling judicial power and ensuring the people’s right to self-governance in the Socialist Republic of Vietnam’s rule-of-law state.

Keywords: Social oversight, criminal proceedings, control of state power, Vietnam Fatherland Front.

1. Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện thông qua các thiết chế đại diện, đồng thời chịu sự kiểm soát thông qua các cơ chế pháp lý và xã hội.

Tố tụng hình sự là lĩnh vực thể hiện rõ nét quyền lực cưỡng chế của Nhà nước. Hoạt động này không chỉ nhằm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như của xã hội. Việc thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế giám sát tố tụng hình sự là yêu cầu khách quan, tránh nguy cơ tiềm ẩn lạm quyền, vi phạm quyền con người, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, có chức năng thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Hiến pháp và pháp luật hiện hành đã ghi nhận quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thi hành pháp luật, trong đó có pháp luật tố tụng hình sự.

Trên thực tế, hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai bằng nhiều hình thức, góp phần bảo đảm hoạt động tố tụng khách quan, minh bạch. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực tố tụng hình sự chưa rõ nét, còn nhiều hạn chế, một trong những nguyên nhân là thể chế pháp lý chưa đầy đủ, chủ thể, khách thể giám sát chưa thực sự quan tâm. Do đó, hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần được nghiên cứu, hoàn thiện pháp lý bảo đảm hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự hiệu quả, thực chất.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến cơ chế giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, song các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào giám sát chung đối với hoạt động quản lý nhà nước. Giám sát trong lĩnh vực tố tụng hình sự vẫn chưa được phân tích một cách đầy đủ và hệ thống. Vì vậy, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn của hoạt động giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát trong lĩnh vực này.

2. Cơ sở lý luận của hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận tổ quốc Việt Nam

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền, theo đó quyền lực nhà nước không chỉ được tổ chức theo nguyên tắc phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp mà còn phải được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng pháp luật và phục vụ lợi ích của Nhân dân.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước và cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Cơ chế giám sát xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó thể hiện trực tiếp quyền làm chủ của Nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước.

Các văn kiện của Đảng đều khẳng định yêu cầu xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi vì lợi ích của Nhân dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, đặt ra yêu cầu thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Do đó, trong kiểm soát quyền lực nhà nước, Đảng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như một thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.

Trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là tố tụng hình sự, yêu cầu kiểm soát quyền lực càng trở nên cần thiết bởi đây là lĩnh vực gắn liền với việc áp dụng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước. Các quyết định tố tụng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người như quyền tự do thân thể, quyền được xét xử công bằng và quyền được bảo vệ trước pháp luật. Vì vậy, việc thiết lập các cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan, minh bạch và công bằng của hoạt động tư pháp.

3. Cơ sở chính trị, pháp lý của hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

3.1. Quy định của Đảng về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XVI nhấn mạnh phải hoàn thiện đồng bộ, cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng và thực thi có hiệu quả cơ chế giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Trong tố tụng hình sự cần phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật và giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân.

Đảng ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, đặt ra yêu cầu phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước. Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày 12/12/2013 ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội” đánh dấu bước phát triển quan trọng về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Lần đầu tiên, văn bản của Đảng quy định cụ thể hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tạo cơ sở chính trị quan trọng để thực hiện chức năng giám sát xã hội đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói riêng. Năm 2022, Ban Bí thư tiếp tục ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW khẳng định, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng pháp luật, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.

3.2. Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của Mạt trận Tổ quốc Việt Nam

Hiến pháp cũng xác định nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo hướng bảo đảm sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quy định này tạo cơ sở hiến định cho việc thiết lập các cơ chế giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013, xác định rõ vị trí và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị, khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân và có chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một chức năng được Hiến pháp ghi nhận, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát trong các lĩnh vực có liên quan đến việc thực thi quyền lực nhà nước, trong đó có hoạt động tư pháp và tố tụng hình sự.

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự cụ thể hóa cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động tố tụng hình sự tại Điều 33. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dành một chương quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện giám sát xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Luật xác định rõ các hình thức, nội dung, trách nhiệm của chủ thể, khách thể trong hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, trong hoạt động tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền tham gia tuyển chọn thẩm phán, kiểm sát viên và giới thiệu hội thẩm nhân dân.

4. Thực tiễn hoạt động giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tố tụng hình sự đã được triển khai bằng nhiều hình thức khác nhau và đạt được những kết quả nhất định.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh đã tham gia vào quá trình giới thiệu và hiệp thương lựa chọn Hội thẩm nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu theo quy định của pháp luật. Hội thẩm nhân dân là những người đại diện cho Nhân dân tham gia xét xử cùng với Thẩm phán trong Hội đồng xét xử của Tòa án. Việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giới thiệu Hội thẩm nhân dân góp phần bảo đảm tính đại diện của Nhân dân trong hoạt động xét xử, đồng thời, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần bảo đảm việc xét xử được thực hiện khách quan, công bằng.

Hằng năm, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia các đoàn giám sát việc thực hiện pháp luật trong công tác quản lý giam giữ và cải tạo phạm nhân. Nội dung giám sát tập trung vào việc bảo đảm các quyền cơ bản của người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân; điều kiện sinh hoạt, chăm sóc y tế; chế độ ăn ở; cũng như việc thực hiện các quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

Cùng với đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn thực hiện giám sát thông qua việc tham dự các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân, nơi các cơ quan tư pháp như Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân báo cáo kết quả công tác trước cơ quan dân cử. Thông qua việc tham dự các kỳ họp này, đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có điều kiện theo dõi, đánh giá hoạt động của các cơ quan tư pháp, đồng thời phản ánh ý kiến của Nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Một hình thức giám sát quan trọng khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc tiếp nhận, tổng hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân liên quan đến hoạt động tư pháp, đặc biệt là các phản ánh về việc giải quyết các vụ án hình sự hoặc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng. Thông qua hoạt động này, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có thể kịp thời phản ánh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý.

Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song hoạt động giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực tiễn vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như: quy định pháp luật về giám sát tư pháp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn chưa thật sự cụ thể, mới chỉ xác lập quyền giám sát về mặt nguyên tắc mà chưa quy định thật cụ thể về phạm vi, nội dung, phương thức và trình tự thực hiện giám sát, dẫn tới quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên thực tế chưa được thực hiện đầy đủ quá trình tố tụng hình sự, còn phụ thuộc nhiều vào cơ chế phối hợp. Chưa có quy định về việc tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động tố tụng để bảo đảm quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nhận thức và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác giám sát còn hạn chế, trong khi hoạt động giám sát trong lĩnh vực tố tụng hình sự đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về pháp luật và hoạt động tư pháp để có thể phát hiện các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình tố tụng. Chưa có quy định rõ cơ chế tiếp nhận và xử lý các kiến nghị giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tố tụng hình sự. Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp chưa thật sự chặt chẽ. Một số nơi vẫn còn nhận thức chưa đầy đủ về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp, từ đó dẫn đến thiếu chủ động trong phối hợp.

5. Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

5.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về giám sát tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là sự bảo đảm cơ sở pháp lý một cách đầy đủ và rõ ràng. Các quy định của pháp luật về giám sát tố tụng hình sự cần được nghiên cứu quy định chi tiết về một số nội dung, như: (1) Quy trình giám sát trong tố tụng hình sự cần rõ quyền và trách nhiệm của các chủ thể giám sát cũng như nghĩa vụ giải trình, cung cấp thông tin, xử lý yêu cầu/kiến nghị của các đối tượng giám sát. (2) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; cũng như việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. (3) Phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua việc theo dõi hoạt động xét xử tại các phiên tòa, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, hoặc thông qua việc tiếp nhận và tổng hợp ý kiến phản ánh của Nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. (4) Thời hạn xem xét, giải quyết, trả lời yêu cầu/kiến nghị của chủ thể giám sát. (5) Chế tài cụ thể khi không thực hiện nghĩa vụ phản hồi của các đối tượng giám sát; bổ sung cơ chế báo cáo hoạt động giám sát tư pháp hàng năm và việc báo cáo trước Hội đồng nhân dân hoặc Quốc hội đối với trường hợp không chấp hành kiến nghị giám sát.

5.2. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan tiến hành tố tụng

Để hoạt động giám sát đạt hiệu quả thực chất, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiện nay, việc phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan tố tụng trên thực tế chưa thật sự chặt chẽ, thường xuyên. Do đó, việc nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan này rất cần thiết, trong đó làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan đối với hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

5.3. Bảo đảm các điều kiện thực hiện hoạt động giám sát

Hoạt động giám sát trong lĩnh vực tố tụng hình sự đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện phải có kiến thức chuyên môn pháp lý nhất định. Do đó, để bảo đảm hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tố tụng hình sự thực sự hiệu quả, thiết thực cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về tố tụng hình sự, về kỹ năng giám sát cho đội ngũ cán bộ làm công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời, phát huy vai trò của các chuyên gia pháp lý, luật sư và nhà khoa học trong việc hỗ trợ hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là giải pháp quan trọng nhằm bổ sung năng lực chuyên môn cho Mặt trận trong bối cảnh hoạt động tố tụng hình sự ngày càng phức tạp. Ngoài ra, cần tăng cường nắm bắt dư luận xã hội trong Nhân dân, tiếp nhận và tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của Nhân dân liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm kịp thời phản ánh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý.

6. Kết luận

Hoạt động giám sát trong tố tụng hình sự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một cơ chế quan trọng nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được bảo đảm bởi hệ thống quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, các quy định mới thể hiện ở tính nguyên tắc, cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện theo hướng tăng cường các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát.

Trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao trong cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, việc tăng cường và hoàn thiện cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động tư pháp là yêu cầu cấp thiết bảo đảm quyền lực tư pháp được thực thi vì công lý và vì Nhân dân, bảo đảm khách quan, minh bạch, kiểm soát tránh nguy cơ lạm quyền, oan sai, góp phần xây dựng nền tư pháp liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại.

Tài liệu tham khảo:
1. Đào Trí Úc (2018). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. H. NXB Tư pháp.
2. Nguyễn Đăng Dung (2017). Kiểm soát quyền lực nhà nước. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Bộ Chính trị (2013). Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.
5. Bộ Chính trị (2022). Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26/10/2022 về phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong xây dựng pháp luật, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XVI.
8. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
9. Quốc hội (2015). Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
10. Quốc hội (2015). Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.