Improving the quality of social security implementation in the digital era in Dong Nai Province
Trung tá Nguyễn Anh Đức
Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – An sinh xã hội là hệ thống chính sách nhằm bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ các nhóm yếu thế, có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0, an sinh xã hội cần thích ứng với mô hình kinh tế – xã hội mới, đặc biệt tại địa phương phát triển nhanh như tỉnh Đồng Nai. Với nhiều khu công nghiệp và lực lượng lao động nhập cư đông đảo, nhu cầu bảo đảm phúc lợi, chăm lo đời sống ngày càng cấp thiết. Chuyển đổi số mang lại cơ hội nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch thông tin và tối ưu hóa hỗ trợ người dân; song cũng đặt ra thách thức về hạ tầng kỹ thuật, năng lực nhân lực và mức độ tiếp cận công nghệ của người thụ hưởng. Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng an sinh xã hội trong kỷ nguyên số tại tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo đảm an sinh, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Từ khóa: An sinh xã hội; chuyển đổi số; cách mạng công nghiệp 4.0; tỉnh Đồng Nai; chất lượng an sinh xã hội; phát triển kinh tế – xã hội.
Abstract: Social security is a policy system aimed at ensuring income, healthcare, and support for vulnerable groups, playing a crucial role in socio-economic development strategies. In the context of digital transformation and the Fourth Industrial Revolution, social security needs to adapt to the new socio-economic model, especially in rapidly developing localities like Dong Nai province. With numerous industrial zones and a large migrant workforce, the need to ensure welfare and improve living standards is increasingly urgent. Digital transformation offers opportunities to improve management efficiency, information transparency, and optimize support for citizens; however, it also poses challenges related to technical infrastructure, human resource capacity, and the level of technology access for beneficiaries. Therefore, researching and proposing solutions to improve social security quality in the digital age in Dong Nai province has profound theoretical and practical significance, helping ensure social security and promote sustainable socio-economic development.
Keywords: Social security, digital transformation, Industry 4.0 revolution, Dong Nai province, quality of social security, socio-economic development.
1. Đặt vấn đề
An sinh xã hội là hệ thống chính sách nhằm bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ các nhóm yếu thế, có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Đây là một bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vấn đề an sinh xã hội không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo trợ truyền thống mà còn phải thích ứng với mô hình kinh tế – xã hội mới, đặc biệt tại các khu công nghiệp phát triển nhanh như tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài, hình thành nhiều khu công nghiệp lớn với hàng triệu lao động, đa số là lao động nhập cư từ mọi miền của đất nước. Thực tiễn đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với an sinh xã hội nhằm bảo đảm an toàn đời sống và quyền lợi của người dân. Chuyển đổi số mở ra cơ hội nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch thông tin, tối ưu hóa hỗ trợ người dân, góp phần xây dựng nền an sinh xã hội bền vững, hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình này cũng đối mặt với nhiều thách thức như nền tảng kỹ thuật chưa đồng bộ, trình độ nhân lực chưa đồng đều, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế ở nhóm đối tượng thụ hưởng.
Qua đó đặt ra yêu cầu phát triển hệ thống an sinh xã hội theo Quyết định số 794/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, hướng tới chuyển đổi số thành công trong lĩnh vực y tế, an sinh và các dịch vụ công. Trên cơ sở đó, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội được triển khai ngày càng thực chất, hiệu quả tại các bộ, ngành và địa phương. Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng an sinh xã hội trong kỷ nguyên số tại tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
2. Một số kết quả đạt được về thực hiện công tác an sinh xã hội ở tỉnh Đồng Nai thời gian vừa qua
Trong thời gian qua, thực hiện an sinh xã hội ở tỉnh Đồng Nai được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tương đối toàn diện, gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Tỉnh đã quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có công, đẩy mạnh hỗ trợ người lao động phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; đồng thời triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, mở rộng cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin và bảo hiểm xã hội cho người dân.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ tỉnh xác định: “phát triển văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục tương xứng với phát triển kinh tế; nâng cao sức khỏe nhân dân; chú trọng đào tạo công nhân lành nghề, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện”1. Có thể khẳng định rằng, Đồng Nai đã hình thành khuôn khổ tương đối đầy đủ, bao quát các trụ cột cơ bản của an sinh xã hội, từ việc làm, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm đến trợ giúp xã hội đối với các nhóm yếu thế.
Từ chủ trương và chính sách nêu trên, công tác an sinh xã hội của tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong báo cáo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã khẳng định: “an sinh xã hội được bảo đảm; công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chăm lo đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội”2 được đẩy mạnh, tạo chuyển biến tích cực trong việc ổn định và nâng cao đời sống cho công nhân lao động, đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm khó khăn. Tỉnh đã “thực hiện tốt công tác giảm nghèo trên cơ sở lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia, đến thời điểm báo cáo cơ bản không còn hộ nghèo A trên địa bàn”3. Các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được triển khai hiệu quả, với số người tham gia đạt trên 2,4 triệu người, trong đó tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%. Bên cạnh đó, lĩnh vực y tế tiếp tục được củng cố, mạng lưới y tế cơ sở được tăng cường, nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Nhìn chung, kết quả đạt được cho thấy mạng lưới an sinh xã hội ở Đồng Nai từng bước được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững của tỉnh.
Cùng với việc mở rộng chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện, Đồng Nai từng bước ứng dụng công nghệ số trong quản lý an sinh xã hội. “Đặc biệt, trong thời kỳ dịch Covid-19, tỉnh đã triển khai đồng bộ các nền tảng công nghệ dùng chung như mã QR thống nhất, nền tảng quản lý xét nghiệm, nền tảng tiêm chủng, hệ thống phần mềm quản lý an sinh xã hội và bản đồ Covid-19”4, qua đó hỗ trợ theo dõi diễn biến dịch bệnh, quản lý đi lại và phục vụ phòng, chống dịch hiệu quả hơn. “Việc ứng dụng PC-Covid đã tạo điều kiện cho khai báo y tế, quản lý mã QR cá nhân và địa điểm, cập nhật thông tin tiêm chủng, xét nghiệm và bản đồ nguy cơ, góp phần hỗ trợ người dân và người lao động tiếp cận thông tin, di chuyển an toàn hơn trong bối cảnh dịch bệnh”5. Những kết quả đó cho thấy Đồng Nai đã bước đầu tận dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, tăng tính minh bạch và hỗ trợ duy trì an sinh xã hội trong điều kiện khó khăn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực hiện an sinh xã hội ở tỉnh Đồng Nai vẫn còn một số hạn chế: mức độ bao phủ an sinh xã hội chưa thật sự toàn diện, nhất là đối với lao động không chính thức, lao động nhập cư và một số nhóm yếu thế; khoảng cách tiếp cận chính sách giữa các khu vực, địa bàn còn tồn tại. Việc thực hiện một số chính sách bảo hiểm chưa đạt yêu cầu; tình trạng nợ bảo hiểm ở một số doanh nghiệp còn kéo dài. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu và khả năng liên thông thông tin giữa các ngành, các cấp còn chưa đồng bộ; “công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách ở một số nơi chưa sâu rộng; năng lực ứng dụng công nghệ của một bộ phận cán bộ cơ sở và người dân còn hạn chế”6 ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thực hiện.
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu xuất phát từ việc một số cơ chế, chính sách và điều kiện bảo đảm thực hiện chưa thật đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho an sinh xã hội và chuyển đổi số còn hạn chế; sự phối hợp, kiểm tra, giám sát trong tổ chức thực hiện ở một số nơi chưa kịp thời. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh làm cho yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội ngày càng cao và phức tạp hơn, trong khi tư duy quản lý, trình độ số và khả năng thích ứng của một bộ phận cán bộ, người dân chưa theo kịp yêu cầu mới. Điều đó đòi hỏi tỉnh phải tiếp tục đổi mới đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và phương thức quản lý để nâng cao chất lượng công tác an sinh xã hội trong thời gian tới.
3. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức và đẩy mạnh tổ chức thực hiện an sinh xã hội cho nhân dân trong kỷ nguyên số.
An sinh xã hội giữ vị trí, vai trò là một trụ cột của phát triển bền vững, gắn với ổn định chính trị – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng và triển khai hệ thống an sinh xã hội theo Quyết định số 794/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về “chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” có ý nghĩa quan trọng trong việc hiện đại hóa quản lý, nâng cao hiệu quả phục vụ và cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn. Cần tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động, xác định an sinh xã hội không chỉ là chính sách hỗ trợ mà còn là khâu đột phá trong mô hình phát triển bền vững giai đoạn 2025–2030 và những năm tiếp theo; đồng thời gắn chặt an sinh xã hội với tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và hội nhập quốc tế.
Để thực hiện tốt yêu cầu đó, cần đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cho nhân dân theo hướng linh hoạt, thiết thực, phù hợp với từng nhóm đối tượng; phát huy hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là nền tảng số; đồng thời cụ thể hóa kịp thời chủ trương, chính sách thành các chương trình, kế hoạch hành động khả thi, qua đó nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và tăng cường trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong thực hiện an sinh xã hội thời kỳ mới. Bên cạnh đó, cần phân định rõ các nhóm đối tượng trong việc nâng cao nhận thức về an sinh xã hội trong kỷ nguyên số. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, yêu cầu đặt ra là phải chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị số, lấy dữ liệu làm trung tâm, đồng thời không ngừng nâng cao kỹ năng số và năng lực ứng dụng công nghệ trong thực thi chính sách. Đối với người dân, đặc biệt là lao động nhập cư và các nhóm yếu thế, cần chú trọng nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng các nền tảng số trong thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, qua đó bảo đảm quyền lợi được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đối với doanh nghiệp, cần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, đẩy mạnh thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thông qua môi trường điện tử, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, minh bạch.
Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách và xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về an sinh xã hội trong kỷ nguyên số.
Đây là giải pháp có vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả năng tiếp cận chính sách của người dân, doanh nghiệp. Trọng tâm là tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số; ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn để bảo đảm tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Cùng với đó, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội theo hướng đơn giản, công khai, thuận tiện, qua đó giảm thời gian, chi phí thực hiện cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phù hợp để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội, nhất là thúc đẩy người lao động khu vực không chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc hoàn thiện thể chế an sinh xã hội cần được tiếp cận theo hướng xây dựng khung pháp lý cho quản trị dữ liệu số, bảo đảm tính thống nhất, liên thông và an toàn thông tin. Theo đó, hệ thống cơ sở dữ liệu an sinh xã hội cần được thiết kế theo mô hình tích hợp, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm xã hội, y tế và lao động – việc làm, trên cơ sở sử dụng mã định danh cá nhân làm nền tảng liên kết. Việc chia sẻ và khai thác dữ liệu phải tuân thủ nguyên tắc “một lần khai báo – nhiều lần sử dụng”, đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc cập nhật, quản lý và sử dụng dữ liệu. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế trùng lặp, bỏ sót đối tượng và bảo đảm việc thực hiện chính sách an sinh xã hội một cách chính xác, kịp thời và minh bạch. Đặc biệt, cần tăng cường liên thông, chia sẻ và xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung giữa các ngành, như: Lao động – Thương binh và Xã hội, Y tế, Bảo hiểm xã hội, Công an… nhằm bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và thụ hưởng chính sách an sinh xã hội.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong an sinh xã hội gắn với phát triển nguồn nhân lực.
Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt, bởi chuyển đổi số chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện trên nền tảng công nghệ hiện đại và đội ngũ cán bộ có năng lực thích ứng. Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu nghiệp vụ mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức quản lý, cung cấp dịch vụ và tương tác với người dân theo hướng số hóa, tự động hóa và dựa trên dữ liệu. Trọng tâm là hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội theo hướng số hóa đồng bộ các quy trình từ tiếp nhận, thẩm định, giải quyết đến chi trả. Đồng thời, cần chuẩn hóa và số hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ theo nguyên tắc xử lý hồ sơ điện tử, tích hợp chữ ký số, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu trữ số, qua đó giảm thiểu sự can thiệp thủ công, rút ngắn thời gian giải quyết và nâng cao tính minh bạch. Cùng với đó, cần xây dựng các nền tảng số tích hợp để cung cấp thông tin chính sách, tra cứu quá trình thụ hưởng, theo dõi hồ sơ và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị; đồng thời từng bước ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong phân tích, dự báo nhu cầu, nhận diện nhóm đối tượng và nâng cao hiệu quả quản lý.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn không chỉ hỗ trợ phân tích, dự báo nhu cầu an sinh xã hội mà còn giúp nhận diện sớm các rủi ro, phát hiện hành vi trục lợi chính sách và nâng cao hiệu quả kiểm soát trong quá trình thực hiện. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, tỉnh cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ về kỹ năng số, quản trị dữ liệu, an ninh mạng và năng lực ứng dụng công nghệ vào thực tiễn công tác; đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ để xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên sâu, tạo môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác an sinh xã hội trong thời kỳ mới. Bên cạnh đó, cần phân định rõ yêu cầu đối với từng nhóm nhân lực, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý cần nâng cao năng lực hoạch định chính sách và quản trị số, còn đội ngũ kỹ thuật cần được đào tạo chuyên sâu về hệ thống thông tin, an ninh mạng và phân tích dữ liệu, qua đó bảo đảm vận hành hiệu quả hệ thống an sinh xã hội số.
Bốn là, tăng cường giám sát, đánh giá, bảo đảm an toàn dữ liệu và lấy người dân làm trung tâm của hệ thống an sinh xã hội số.
Đây là giải pháp quyết định nhằm bảo đảm cho quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội đi vào thực chất, phát huy hiệu quả bền vững và phục vụ đúng đối tượng. Trong điều kiện quản lý an sinh xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu số, nền tảng số và các hình thức cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, thiếu công cụ đánh giá khoa học và thiếu các biện pháp bảo vệ dữ liệu hữu hiệu thì rất dễ phát sinh sai sót trong xác định đối tượng, chậm trễ trong giải quyết chế độ, thậm chí làm giảm niềm tin của người dân đối với chính sách. Vì vậy, Đồng Nai cần xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên, công khai, minh bạch đối với toàn bộ quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội, từ khâu cập nhật dữ liệu, xác minh thông tin, thẩm định hồ sơ, phê duyệt, chi trả đến hậu kiểm và tiếp nhận phản hồi của người dân. Cùng với đó, tỉnh cần hình thành hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể đối với từng nhóm chính sách như bảo hiểm, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, hỗ trợ việc làm, chăm sóc y tế và phúc lợi cho công nhân lao động, qua đó kịp thời phát hiện những điểm nghẽn, những khâu chậm trễ hoặc nguy cơ bỏ sót đối tượng thụ hưởng.
Cần bảo đảm an toàn thông tin và an ninh dữ liệu trong toàn bộ hệ thống an sinh xã hội số. Dữ liệu an sinh xã hội liên quan trực tiếp đến thông tin cá nhân, hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe, bảo hiểm và quá trình thụ hưởng chính sách của người dân, do đó cần được quản lý chặt chẽ, bảo mật nghiêm ngặt và sử dụng đúng mục đích. Đồng Nai cần áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật như phân quyền truy cập rõ ràng, lưu vết điện tử, tăng cường kiểm tra định kỳ, phòng ngừa rò rỉ hoặc khai thác trái phép dữ liệu; đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong quản lý và sử dụng dữ liệu.
Đặc biệt, toàn bộ quá trình xây dựng và vận hành hệ thống an sinh xã hội số phải quán triệt quan điểm lấy người dân làm trung tâm, theo đó, các nền tảng số không chỉ phục vụ cho công tác quản lý mà còn phải bảo đảm dễ tiếp cận, dễ sử dụng, dễ phản ánh và dễ giám sát đối với người dân. Tỉnh cần phát triển các kênh phản ánh, kiến nghị, theo dõi hồ sơ và đánh giá mức độ hài lòng trên môi trường số; đồng thời quan tâm hỗ trợ người cao tuổi, công nhân nhập cư, nhóm yếu thế và những người còn hạn chế kỹ năng công nghệ để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình số hóa. Chỉ khi thực hiện tốt đồng thời công tác giám sát, đánh giá, bảo đảm an toàn dữ liệu và lấy người dân làm trung tâm thì chuyển đổi số trong an sinh xã hội mới thực sự góp phần nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và củng cố niềm tin xã hội.
4. Kết luận
Nâng cao chất lượng công tác an sinh xã hội trong kỷ nguyên số là nhiệm vụ cấp thiết đối với tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh hiện nay. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số mà còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng chính sách một cách công bằng, kịp thời, minh bạch, qua đó góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững. Việc triển khai hiệu quả an sinh xã hội số đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự quyết tâm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và sự chung tay của toàn xã hội. Với các giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng dữ liệu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến đẩy mạnh công tác truyền thông và giám sát thực hiện, Đồng Nai hoàn toàn có điều kiện trở thành một trong những địa phương đi đầu trong hiện đại hóa công tác an sinh xã hội ở Việt Nam.
Chú thích:
1. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2020). Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 10/12/2020 của Đại hội đại biểu lần thứ XI.
2, 3, 6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa X) (2020). Báo cáo chính trị số 17-BC/TU ngày 10/12/2020 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025.
4. Triển khai 3 nền tảng công nghệ thông tin bắt buộc dùng chung trong phòng, chống dịch Covid-19. https://mst.gov.vn/dong-nai-trien-khai-3-nen-tang-cntt-bat-buoc-dung-chung-trong-phong-chong-dich-covid-19-197149043.htm
5. Thống nhất ứng dụng PC-Covid phục vụ phòng, chống dịch Covid-19. https://baodongnai.com.vn/bandoc/202110/thong-nhat-ung-dung-pc-covid-phuc-vu-phong-chong-dich-covid-19-3082795.



