The quality of human resources in Can Tho city following the merger
ThS. Nguyễn Thanh Tâm
Trường Chính trị Thành phố Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Sau sáp nhập, Thành phố Cần Thơ hình thành không gian phát triển mới trên cơ sở mở rộng địa giới, quy mô dân số, lực lượng lao động và cơ cấu kinh tế – xã hội, bao gồm: Thành phố Cần Thơ cũ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng. Sự mở rộng này tạo ra nguồn lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá lại chất lượng nguồn nhân lực trong tương quan giữa quy mô, cơ cấu, trình độ đào tạo, khả năng thích ứng việc làm và mức độ phân bố theo không gian đô thị – nông thôn. Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có quy mô dân số khoảng 3.207.077 người, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 1,673 triệu người, trong đó lao động đang làm việc khoảng 1,623 triệu người1. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn chênh lệch lớn giữa các khu vực; lao động nông thôn, lao động trong nông nghiệp và lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể.
Từ khóa: Chất lượng nguồn nhân lực; Thành phố Cần Thơ; sau sáp nhập; lao động qua đào tạo; phát triển bền vững.
Abstract: Following the merger, Can Tho City has established a new development landscape based on expanded territorial boundaries, population size, labor force, and socio-economic structure, encompassing the former Can Tho City, Hau Giang Province, and Soc Trang Province. This expansion creates a vital resource for rapid and sustainable development, while also raising an urgent need to reassess the quality of the labor force in terms of scale, structure, educational attainment, adaptability to employment, and spatial distribution across urban and rural areas. Following the merger, Can Tho City has a population of approximately 3,207,077 people, with a labor force aged 15 and older of about 1.673 million people, of whom approximately 1.623 million are currently employed1. However, there remains a significant disparity in the proportion of trained labor across regions; rural labor, agricultural labor, and informal labor still account for a significant share.
Keywords: Human resource quality; Can Tho City; post-merger; trained labor; sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm của quá trình phát triển, quyết định năng lực khai thác, phân bổ và chuyển hóa các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, khoa học – công nghệ thành động lực tăng trưởng thực chất. Đối với Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi thành phố không chỉ mở rộng về địa giới hành chính, quy mô dân số và lực lượng lao động mà còn phải thực hiện vai trò trung tâm động lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện phát triển mới. Nếu trước đây Cần Thơ cũ nổi bật với vai trò đô thị trung tâm, dịch vụ, giáo dục, y tế, thương mại và đầu mối vùng thì Hậu Giang và Sóc Trăng bổ sung cho không gian mới những lợi thế về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến, kinh tế nông thôn, văn hóa đa dạng và nguồn lao động tại chỗ. Do đó, sau sáp nhập, chất lượng nguồn nhân lực không thể chỉ được nhìn nhận qua tỷ lệ lao động qua đào tạo mà cần được đánh giá trong quan hệ tổng hợp giữa quy mô dân số, cơ cấu lao động, trình độ chuyên môn – kỹ thuật, khả năng thích ứng với thị trường lao động, phân bố không gian và chất lượng việc làm.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Cần Thơ lần thứ I, ngày 28/10/2025, khi xác định yêu cầu phát triển thành phố trong giai đoạn mới là: “lấy phát triển để ổn định, lấy ổn định làm tiền đề cho phát triển, thúc đẩy quá trình đổi mới; phát triển nhanh, bền vững, hiện đại cân bằng tổng thể, toàn diện cả ba lĩnh vực: kinh tế, văn hoá-xã hội và môi trường; lấy con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực phát triển gắn với đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đến năm 2030, Thành phố Cần Thơ phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia”2. Cách tiếp cận này cho thấy, phát triển nguồn nhân lực không chỉ là một nhiệm vụ xã hội đơn thuần mà còn là điều kiện nền tảng để Cần Thơ sau sáp nhập ổn định tổ chức không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng mới của quốc gia.
Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, yêu cầu đặt ra đối với Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập không chỉ là có lực lượng lao động đông mà phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng nghề, năng lực số, tác phong công nghiệp và năng lực thích ứng với các biến động kinh tế – xã hội. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập là cơ sở quan trọng để nhận diện đúng lợi thế, hạn chế, vấn đề đặt ra và đề xuất khuyến nghị chính sách phù hợp cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập
Xét về quy mô dân số và lực lượng lao động, Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có nền tảng nhân lực khá lớn so với nhiều địa phương trong vùng. Năm 2024, dân số của ba khu vực hợp thành đạt hơn 3.207.077 người; trong đó Cần Thơ cũ chiếm khoảng 39,7%, Sóc Trăng chiếm khoảng 37,6% và Hậu Giang chiếm khoảng 22,8%3. Cơ cấu này cho thấy sau sáp nhập, Cần Thơ không còn chỉ là một đô thị trung tâm với quy mô dân số hơn 1,27 triệu người mà trở thành một đơn vị hành chính – kinh tế có không gian dân cư rộng, bao gồm cả khu vực đô thị phát triển, khu vực nông nghiệp – nông thôn, khu vực ven biển và vùng có đặc điểm dân tộc, văn hóa đa dạng. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành nguồn cung lao động lớn, phục vụ cho các ngành kinh tế chủ lực như dịch vụ, thương mại, logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch và kinh tế biển. Tuy nhiên, chính sự mở rộng này cũng làm cho bài toán chất lượng nguồn nhân lực trở nên phức tạp hơn, bởi trình độ phát triển giữa các khu vực không đồng đều.
Về lực lượng lao động, tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của ba khu vực năm 2024 đạt khoảng 1.673.076 người; trong đó Cần Thơ cũ có 629.194 người, Hậu Giang có 414.146 người và Sóc Trăng có 629.736 người. Lao động đang làm việc đạt khoảng 1.623.370 người, chiếm khoảng 97,0% lực lượng lao động. Con số này cho thấy, thị trường lao động sau sáp nhập có mức huy động lao động tương đối cao, phản ánh khả năng tạo việc làm nhất định của nền kinh tế địa phương. Riêng Cần Thơ cũ có 607.051 lao động đang làm việc năm 2024; Hậu Giang có 406.795 lao động; Sóc Trăng có 609.524 lao động4.
Tuy nhiên, cơ cấu không gian của lực lượng lao động cho thấy sự khác biệt rất rõ giữa khu vực trung tâm và các địa bàn mới sáp nhập. Năm 2024, trong lực lượng lao động của Cần Thơ cũ, lao động thành thị chiếm 71,39%, nông thôn chiếm 28,61%. Ngược lại, Hậu Giang có lực lượng lao động nông thôn chiếm 70,38%, thành thị chỉ chiếm 29,62%; Sóc Trăng có lao động nông thôn chiếm 66,53%, thành thị chiếm 33,47%. Khi cộng gộp ba khu vực, lực lượng lao động thành thị đạt khoảng 782.658 người, chiếm 46,8%; lao động nông thôn đạt khoảng 890.418 người, chiếm 53,2%5. Điều này cho thấy, sau sáp nhập, Cần Thơ tuy có lõi đô thị mạnh nhưng tổng thể thị trường lao động vẫn mang đặc trưng nông thôn – bán đô thị rõ nét. Đây là điểm rất quan trọng khi hoạch định chính sách đào tạo nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển việc làm bền vững.
Về cơ cấu giới tính, lực lượng lao động sau sáp nhập có tỷ lệ nam giới cao hơn nữ. Năm 2024, tổng lao động nam của ba khu vực đạt khoảng 980.104 người, chiếm 58,6%; lao động nữ đạt khoảng 692.972 người, chiếm 41,4%6. Cơ cấu này phản ánh xu hướng phổ biến của thị trường lao động địa phương, trong đó lao động nam tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, công nghiệp, vận tải và một số ngành nghề có tính chất lao động trực tiếp. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động nữ thấp hơn cũng đặt ra yêu cầu phải có chính sách thúc đẩy bình đẳng cơ hội việc làm, đào tạo lại, hỗ trợ phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ trong khu vực phi chính thức tiếp cận kỹ năng nghề, kỹ năng số và sinh kế bền vững.
Về trình độ đào tạo, đây là chỉ báo cốt lõi phản ánh chất lượng nguồn nhân lực. Năm 2024, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo (có văn bằng, chứng chỉ) của Cần Thơ cũ đạt 25,20%; trong đó, khu vực thành thị đạt 30,40%, nông thôn chỉ đạt 12,30%. Hậu Giang đạt 14,10%; trong đó thành thị đạt 22,50%, nông thôn đạt 10,50%. Sóc Trăng đạt 12,92%; trong đó thành thị đạt 20,14%, nông thôn đạt 9,29%7. Nếu tính bình quân có trọng số theo quy mô lực lượng lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo (có văn bằng, chứng chỉ) của toàn không gian Cần Thơ sau sáp nhập chỉ khoảng 17,8%. Đây là mức còn thấp so với yêu cầu xây dựng một thành phố trung tâm vùng, nhất là trong bối cảnh các ngành kinh tế mới đòi hỏi lao động có chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ.
Đáng chú ý, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn trong tỷ lệ lao động qua đào tạo là rất lớn. Tính bình quân có trọng số, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực thành thị của ba địa bàn khoảng 26,4%, trong khi khu vực nông thôn chỉ khoảng 10,3%. Khoảng cách này phản ánh sự bất cân xứng trong tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, thông tin thị trường lao động, cơ hội việc làm chính thức và các thiết chế hỗ trợ nâng cao kỹ năng. Trong điều kiện sau sáp nhập, nếu không có chính sách can thiệp mạnh, khu vực nông thôn của Hậu Giang và Sóc Trăng cũ có nguy cơ trở thành “vùng trũng kỹ năng” trong không gian phát triển mới của Cần Thơ. Điều này không chỉ làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động mà còn hạn chế khả năng thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ hiện đại.
Về chất lượng việc làm, Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có quy mô lao động đang làm việc khá lớn nhưng chất lượng việc làm giữa các địa bàn hợp thành còn chưa đồng đều. Cần Thơ cũ có 607.051 lao động đang làm việc, Hậu Giang có 406.795 lao động và Sóc Trăng có 609.524 lao động. Điểm chung nổi bật là lao động ở cả ba địa bàn chủ yếu tập trung trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Cụ thể, khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 87,98% lao động đang làm việc của Cần Thơ cũ, 91,52% của Hậu Giang và 93,12% của Sóc Trăng; trong khi khu vực kinh tế nhà nước chỉ chiếm lần lượt 10,23%, 5,58% và 6,07%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng còn thấp, tương ứng là 1,78%, 2,90% và 0,81%8. Cơ cấu này phản ánh một thực tế đáng chú ý: việc làm của Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập tuy có quy mô lớn, nhưng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khu vực ngoài nhà nước, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất, hộ kinh doanh cá thể, lao động tự làm, lao động gia đình và các hình thức việc làm thiếu tính chính thức. Đây là khu vực có vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế rộng rãi cho người lao động, nhưng đồng thời cũng là khu vực có năng suất không đồng đều, quan hệ lao động thiếu bền vững, khả năng tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các thiết chế bảo vệ người lao động còn hạn chế.
Tính chất chưa bền vững của việc làm thể hiện rõ hơn qua tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức. Năm 2024, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của Cần Thơ cũ là 69,61%, Hậu Giang là 82,70% và Sóc Trăng là 83,76%. Như vậy, ngay cả Cần Thơ cũ – địa bàn có mức độ đô thị hóa, dịch vụ, thương mại, giáo dục, y tế và công nghiệp chế biến phát triển hơn – tỷ lệ việc làm phi chính thức vẫn còn cao. Đáng chú ý hơn, Hậu Giang và Sóc Trăng đều có tỷ lệ việc làm phi chính thức trên 80%, cho thấy hai địa bàn mới sáp nhập vẫn mang đậm đặc trưng của thị trường lao động nông thôn, lao động tự làm, lao động hộ gia đình và việc làm thiếu ổn định. Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn cũng rất rõ: ở Cần Thơ cũ, tỷ lệ lao động phi chính thức khu vực thành thị là 64,24%, trong khi khu vực nông thôn lên tới 82,96%; ở Hậu Giang, tỷ lệ này tương ứng là 71,40% và 87,50%; ở Sóc Trăng là 73,39% và 88,97%9. Các số liệu trên cho thấy, khu vực nông thôn là không gian tập trung lớn nhất của việc làm phi chính thức, đồng thời là điểm nghẽn quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau sáp nhập. Nếu không có chính sách đủ mạnh về đào tạo nghề, chuyển dịch sinh kế, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã, công nghiệp chế biến, dịch vụ nông thôn và mở rộng an sinh xã hội, bộ phận lao động nông thôn ở Hậu Giang và Sóc Trăng rất dễ rơi vào tình trạng việc làm thiếu ổn định, thu nhập thấp, khả năng chống chịu yếu và năng lực thích ứng hạn chế trước yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và biến đổi khí hậu.
Về cơ cấu ngành nghề, số liệu năm 2024 cho thấy, quá trình chuyển dịch lao động giữa ba địa bàn diễn ra không đồng đều. Cần Thơ cũ đã có mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động rõ hơn theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, đồng thời, tăng vai trò của công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại và dịch vụ. Lao động làm việc trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Cần Thơ cũ chiếm 21,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 18,90%; xây dựng chiếm 9,43%; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy chiếm 15,46%; dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 9,48%; giáo dục và đào tạo chiếm 4,81%; vận tải kho bãi chiếm 4,43%10. Cơ cấu này cho thấy, Cần Thơ cũ giữ vai trò lõi đô thị – dịch vụ – công nghiệp của không gian sau sáp nhập, có khả năng cung cấp việc làm đa dạng hơn và tạo nền tảng cho phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, logistics, giáo dục, y tế, thương mại và công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, tỷ trọng lao động trong các ngành có hàm lượng tri thức, công nghệ và kỹ năng cao vẫn còn thấp: thông tin và truyền thông chỉ chiếm 0,42%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ chiếm 0,64%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm chiếm 1,39%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội chiếm 1,77%. Như vậy, ngay trong lõi đô thị Thành phố Cần Thơ cũ, chất lượng cơ cấu việc làm vẫn chưa thật sự tương xứng với yêu cầu xây dựng trung tâm vùng, đô thị thông minh và cực tăng trưởng mới.
Trong khi đó, Hậu Giang và Sóc Trăng phản ánh rõ đặc trưng của các địa bàn còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và các ngành có năng suất chưa cao. Năm 2024, lao động làm việc trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Hậu Giang chiếm tới 58,46%, còn Sóc Trăng chiếm 45,39%, cao hơn rất nhiều so với Cần Thơ cũ. Tỷ trọng lao động công nghiệp chế biến, chế tạo của Hậu Giang là 10,26%, Sóc Trăng là 12,79%, thấp hơn đáng kể so với Cần Thơ cũ; lao động bán buôn, bán lẻ và sửa chữa phương tiện ở Hậu Giang chiếm 9,53%, Sóc Trăng chiếm 13,10%; lao động dịch vụ lưu trú và ăn uống ở Hậu Giang chiếm 5,49%, Sóc Trăng chiếm 5,57%. Riêng Sóc Trăng có tỷ trọng lao động xây dựng 9,82%, tương đương Cần Thơ cũ nhưng các ngành dịch vụ hiện đại và có hàm lượng tri thức cao lại còn rất thấp: thông tin và truyền thông chỉ chiếm 0,11%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm chiếm 0,39%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ chiếm 0,34%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội chiếm 0,88%11. Cơ cấu này cho thấy, Sóc Trăng tuy có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản, kinh tế biển, văn hóa và du lịch nhưng chất lượng việc làm vẫn chịu sức ép lớn từ lao động nông nghiệp, lao động giản đơn, lao động tự làm và khu vực phi chính thức. Tỉnh Hậu Giang cũng ở trong tình trạng tương tự, khi tỷ trọng lao động nông nghiệp còn rất cao, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn chưa phát triển tương xứng.
Về chất lượng dân số, ba khu vực hợp thành Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập đều có một số chỉ báo tích cực, nhất là về tuổi thọ trung bình và xu hướng cải thiện điều kiện sống của dân cư. Năm 2024, tuổi thọ trung bình của Cần Thơ cũ đạt 76,31 tuổi; Hậu Giang đạt 76,20 tuổi; Sóc Trăng đạt 75,12 tuổi12. Đây là những chỉ dấu quan trọng cho thấy, nền tảng sức khỏe, điều kiện chăm sóc y tế, mức sống và chất lượng dân số của các địa bàn đã có bước cải thiện tương đối ổn định. Xét từ góc độ phát triển nguồn nhân lực, tuổi thọ trung bình cao không chỉ phản ánh thành tựu về dân số – xã hội, mà còn tạo điều kiện kéo dài thời gian tham gia lao động, tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp, duy trì tri thức thực tiễn và phát huy vai trò của lực lượng lao động trung niên, lao động có tay nghề, lao động có kinh nghiệm trong các ngành sản xuất, dịch vụ và quản lý xã hội.
Tuy nhiên, chất lượng dân số cần được nhìn nhận không chỉ ở chiều cạnh tuổi thọ, mà còn ở khả năng bảo đảm sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thích ứng của người dân trong suốt vòng đời lao động. Cùng với xu hướng tuổi thọ tăng, Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập cũng phải đối diện rõ hơn với áp lực già hóa dân số, chuyển dịch cơ cấu tuổi lao động, nhu cầu chăm sóc sức khỏe dài hạn, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì khả năng tham gia thị trường lao động của nhóm trung niên, lao động lớn tuổi. Nếu không có chính sách đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc và mở rộng cơ hội việc làm phù hợp cho nhóm lao động này, lợi thế về tuổi thọ có thể chuyển thành áp lực đối với hệ thống y tế, an sinh và thị trường lao động. Vì vậy, nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn tới cần gắn chặt với phát triển nguồn nhân lực theo hướng toàn diện: khỏe về thể chất, ổn định về tinh thần, có kỹ năng nghề nghiệp và thích ứng hiệu quả với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, hiện đại của thành phố sau sáp nhập.
Nhìn tổng thể, chất lượng nguồn nhân lực Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có một số điểm mạnh nổi bật: quy mô dân số và lao động lớn; tỷ lệ lao động có việc làm khá cao; khu vực Cần Thơ cũ có trình độ đào tạo và mức độ đô thị hóa lao động cao hơn; các địa bàn Hậu Giang, Sóc Trăng bổ sung nguồn lao động nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến và lao động nông thôn dồi dào. Tuy nhiên, hạn chế cơ bản là tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, chênh lệch lớn giữa khu vực trung tâm và khu vực mới sáp nhập; lao động nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao; việc làm phi chính thức còn phổ biến; cơ cấu lao động trong nông nghiệp còn lớn; năng suất và thu nhập của một bộ phận lao động còn thấp; năng lực thích ứng với chuyển đổi số, kinh tế xanh và thị trường lao động hiện đại chưa đồng đều.
3. Vấn đề đặt ra
Một là, quy mô nguồn nhân lực lớn với chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng. Sau sáp nhập, Thành phố Cần Thơ có lợi thế rõ rệt về dân số và lực lượng lao động, nhưng nếu tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân chỉ khoảng 17,8% thì lợi thế quy mô có thể chưa chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh. Trong điều kiện phát triển hiện nay, lao động đông không còn là lợi thế tuyệt đối; lợi thế chỉ hình thành khi người lao động có trình độ, kỹ năng, kỷ luật lao động, năng lực số và khả năng thích ứng với yêu cầu sản xuất – dịch vụ hiện đại. Do đó, thách thức lớn nhất của Cần Thơ sau sáp nhập là chuyển từ “lợi thế lao động số lượng” sang “lợi thế lao động chất lượng”.
Hai là, khoảng cách chất lượng nguồn nhân lực giữa khu vực trung tâm và các địa bàn mới sáp nhập. Cần Thơ cũ có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao hơn đáng kể so với Hậu Giang và Sóc Trăng; đồng thời, lực lượng lao động thành thị chiếm tỷ trọng lớn hơn. Trong khi đó, Hậu Giang và Sóc Trăng có tỷ lệ lao động nông thôn cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp hơn, cơ hội tiếp cận việc làm chính thức và đào tạo nghề còn hạn chế. Nếu không có chính sách điều tiết và đầu tư phù hợp, quá trình sáp nhập có thể làm gia tăng phân hóa nội vùng: khu vực trung tâm tiếp tục thu hút lao động chất lượng cao, trong khi khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng ven biển và vùng đồng bào dân tộc thiểu số chậm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Ba là, cơ cấu lao động chưa theo kịp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một bộ phận lớn lao động vẫn tập trung trong nông nghiệp, lao động tự làm, lao động hộ gia đình và lao động phi chính thức. Điều này làm cho năng suất lao động chung khó tăng nhanh, thu nhập thiếu ổn định, khả năng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các thiết chế an sinh còn hạn chế. Đặc biệt, trong bối cảnh nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sạt lở, chuyển đổi mùa vụ và thay đổi mô hình sinh kế, lao động nông nghiệp nếu không được đào tạo lại sẽ khó thích ứng với yêu cầu sản xuất xanh, nông nghiệp thông minh, kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị nông sản hiện đại.
Bốn là, chất lượng đào tạo nghề và kết nối cung – cầu lao động chưa thật sự đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp không chỉ phản ánh số lượng người có bằng cấp, chứng chỉ còn ít, mà sâu xa hơn là sự thiếu gắn kết giữa hệ thống đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã, khu công nghiệp, ngành du lịch, logistics, chuyển đổi số và nông nghiệp công nghệ cao. Sau sáp nhập, địa bàn rộng hơn, nhu cầu nhân lực đa dạng hơn, đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải được quy hoạch lại theo hướng phân tầng, liên thông, đặt hàng theo ngành nghề và gắn với đặc thù từng tiểu vùng.
Năm là, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và biến đổi khí hậu ngày càng cấp thiết. Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay không chỉ được đo bằng trình độ học vấn hay bằng cấp, mà còn bằng khả năng sử dụng công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, tư duy thích ứng, kỹ năng mềm, kỹ năng quản trị rủi ro, kỹ năng làm việc trong môi trường số và khả năng chuyển đổi nghề nghiệp. Đây là những năng lực còn hạn chế ở bộ phận lớn lao động nông thôn, lao động trung niên, lao động phi chính thức và lao động trong khu vực nông nghiệp.
4. Một số khuyến nghị
Thứ nhất, Thành phố Cần Thơ sau khi sáp nhập cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực thống nhất trên toàn địa bàn mới, nhưng có phân vùng chính sách rõ ràng. Không thể áp dụng một chính sách đào tạo chung cho toàn thành phố khi điều kiện của thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và Sóc Trăng chưa sáp nhập có sự khác biệt lớn, như: thành phố Cần Thơ cũ cần được định hướng trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu, y tế, dịch vụ chất lượng cao và đổi mới sáng tạo của toàn thành phố; tỉnh Hậu Giang cần chú trọng đào tạo nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, logistics, kinh tế hợp tác và quản trị nông thôn; tỉnh Sóc Trăng cần ưu tiên nhân lực cho kinh tế biển, thủy sản, năng lượng, du lịch văn hóa, thương mại biên vùng và sinh kế bền vững gắn với đặc thù dân tộc, tôn giáo, văn hóa. Cách tiếp cận này giúp tránh bình quân hóa chính sách, đồng thời phát huy lợi thế riêng của từng không gian trong cấu trúc phát triển chung.
Thứ hai, cần đặt mục tiêu nâng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là ở khu vực nông thôn. Với tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân ước khoảng 17,8%, Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập cần coi trọng định hướng nâng cao trình độ chuyên môn – kỹ thuật là nhiệm vụ đột phá. Trọng tâm không chỉ là tăng số lượng người học nghề, mà còn phải nâng chất lượng đào tạo, bảo đảm người học có kỹ năng làm việc thực tế. Thành phố cần ưu tiên các chương trình đào tạo ngắn hạn, linh hoạt, phù hợp với lao động nông thôn, lao động trung niên, lao động nữ, lao động trong hợp tác xã và hộ sản xuất. Các ngành nghề cần tập trung gồm kỹ thuật nông nghiệp thông minh, vận hành máy móc nông nghiệp, chế biến nông – thủy sản, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng, logistics, vận tải, công nghệ thông tin ứng dụng, kỹ thuật điện – cơ khí, quản trị hợp tác xã và kỹ năng kinh doanh hộ gia đình.
Thứ ba, tăng cường kết nối giữa đào tạo nghề với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường lao động. Đào tạo nghề chỉ có ý nghĩa khi người học tìm được việc làm tốt hơn, có thu nhập cao hơn hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, thành phố cần phát triển cơ chế đặt hàng đào tạo giữa chính quyền, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, tiếp nhận thực tập và tuyển dụng sau đào tạo. Đối với khu vực nông nghiệp, cần gắn đào tạo với hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm và các chuỗi giá trị. Đối với khu vực dịch vụ – đô thị, cần gắn đào tạo với du lịch, thương mại, logistics, y tế, giáo dục, tài chính, chuyển đổi số và quản trị đô thị.
Thứ tư, chuyển mạnh chính sách phát triển nguồn nhân lực từ hỗ trợ đại trà sang hỗ trợ theo nhóm đối tượng và theo nhu cầu kỹ năng. Nhóm lao động nông thôn cần được hỗ trợ đào tạo nghề gắn với chuyển đổi sinh kế; nhóm lao động trẻ cần được trang bị kỹ năng số, ngoại ngữ, kỹ năng nghề và tư duy khởi nghiệp; nhóm lao động nữ cần được hỗ trợ tiếp cận việc làm linh hoạt, việc làm chính thức, đào tạo lại sau thời gian gián đoạn lao động; nhóm lao động dân tộc thiểu số cần được hỗ trợ song song về nghề nghiệp, ngôn ngữ, thông tin thị trường và kết nối việc làm; nhóm lao động phi chính thức cần được hỗ trợ chuyển dần sang khu vực chính thức thông qua đào tạo, tư vấn pháp lý, bảo hiểm xã hội tự nguyện, tín dụng nhỏ và hỗ trợ đăng ký kinh doanh.
Thứ năm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp giản đơn, tăng lao động trong công nghiệp chế biến, dịch vụ hiện đại và các ngành có năng suất cao. Đối với một thành phố sau sáp nhập có tỷ trọng lao động nông thôn còn lớn, chính sách phát triển nguồn nhân lực phải gắn chặt với chính sách phát triển ngành kinh tế. Không thể nâng cao chất lượng lao động nếu cơ cấu việc làm vẫn chủ yếu là tự làm, hộ gia đình, nông nghiệp manh mún và phi chính thức. Do đó, thành phố cần phát triển các cụm công nghiệp, trung tâm chế biến nông – thủy sản, trung tâm logistics, dịch vụ hậu cần nông nghiệp, du lịch sinh thái – văn hóa, kinh tế số nông thôn và kinh tế biển để tạo thêm việc làm có năng suất cao hơn cho lao động tại chỗ.
Thứ sáu, phát triển mạnh năng lực số cho nguồn nhân lực toàn thành phố. Chuyển đổi số không chỉ dành cho cán bộ, công chức hay doanh nghiệp lớn, mà phải trở thành năng lực phổ thông của người lao động. Thành phố cần triển khai các chương trình phổ cập kỹ năng số cơ bản cho lao động nông thôn, tiểu thương, hộ kinh doanh, hợp tác xã, thanh niên và phụ nữ; đồng thời đào tạo chuyên sâu về thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, tiếp thị số, thanh toán số, quản lý dữ liệu sản xuất, vận hành thiết bị thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý và sản xuất. Đối với cán bộ cơ sở, cần bồi dưỡng năng lực quản trị số, khai thác dữ liệu, phục vụ người dân và doanh nghiệp trên môi trường số.
Thứ bảy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải gắn với chăm sóc sức khỏe, cải thiện chất lượng dân số và bảo đảm an sinh xã hội. Tuổi thọ trung bình của ba khu vực đều đạt trên 75 tuổi, đây là lợi thế về chất lượng dân số, nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản trị già hóa, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống bệnh nghề nghiệp, nâng cao thể lực và sức khỏe tinh thần cho người lao động. Thành phố cần chú trọng y tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe lao động trong khu công nghiệp, khu vực nông nghiệp và khu vực phi chính thức; đồng thời mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp để nâng cao tính bền vững của thị trường lao động.
Thứ tám, xây dựng hệ thống dữ liệu nguồn nhân lực sau sáp nhập thống nhất, cập nhật và có khả năng dự báo. Một trong những yêu cầu cấp thiết sau sáp nhập là chuẩn hóa cơ sở dữ liệu về dân số, lao động, đào tạo nghề, việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm, di cư, thu nhập, kỹ năng và nhu cầu tuyển dụng. Thành phố cần xây dựng bản đồ nhân lực theo ngành, nghề, trình độ, độ tuổi, giới tính, địa bàn và nhóm đối tượng; từ đó dự báo nhu cầu nhân lực cho từng giai đoạn, từng ngành kinh tế và từng tiểu vùng. Dữ liệu tốt sẽ giúp chính sách đào tạo, phân bổ ngân sách, hỗ trợ việc làm và thu hút đầu tư trở nên chính xác hơn, tránh tình trạng đào tạo không gắn với nhu cầu hoặc thiếu nhân lực cục bộ trong các ngành trọng điểm.
5. Kết luận
Sau sáp nhập, Thành phố Cần Thơ có quy mô dân số và lực lượng lao động lớn, tạo tiền đề quan trọng để hình thành không gian phát triển mới có sức lan tỏa vùng. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn cần được nhận diện nghiêm túc. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn lớn, lao động nông nghiệp và lao động phi chính thức còn chiếm tỷ trọng đáng kể, cơ cấu việc làm chuyển dịch chưa đủ nhanh, năng suất và thu nhập của một bộ phận lao động còn hạn chế. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải trở thành khâu đột phá trong chiến lược phát triển Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập. Trọng tâm chính sách cần chuyển từ mở rộng quy mô lao động sang nâng cao kỹ năng, trình độ, năng lực số, năng lực thích ứng và chất lượng việc làm. Chỉ khi nguồn nhân lực được phát triển đồng bộ, cân bằng giữa các khu vực và gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Cần Thơ sau sáp nhập mới có thể phát huy đầy đủ vai trò trung tâm vùng, động lực tăng trưởng và hạt nhân phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn mới.
Chú thích:
1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12. Số liệu thống kê về dân số, lao động, việc làm và lao động qua đào tạo tại thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng năm 2024. Nguồn: Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng.
2. Đảng bộ thành phố Cần Thơ (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, ngày 28/10/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2025). Số liệu thống kê về dân số, lao động, việc làm và lao động qua đào tạo của thành phố Cần Thơ năm 2024.
2. Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang (2025). Số liệu thống kê về dân số, lao động, việc làm, năng suất lao động, thu nhập và lao động qua đào tạo của tỉnh Hậu Giang năm 2024.
3. Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2025). Số liệu thống kê về dân số, lao động, việc làm và lao động qua đào tạo của tỉnh Sóc Trăng năm 2024.
4. Thành ủy Cần Thơ (2021). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 29/12/2021 về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp thành phố đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo.



