Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam

Factors affecting party membership development in private universities and colleges in Vietnam

ThS. Nguyễn Đức Tiến
Trường cao đẳng Quốc tế Hà Nội
Email: nguyentiennd85@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phân tích tổng hợp, bài viết nhận diện một số nhân tố chủ yếu tác động đến công tác phát triển đảng viên, bao gồm: nhận thức khách quan (hội nhập quốc tế; chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy mô và tính đa dạng của hệ thống các trường tư thục; môi trường thông tin và không gian mạng) và nhận thức chủ quan (nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng trong nhà trường; năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện của cấp ủy và đội ngũ làm công tác đảng; chất lượng đội ngũ đảng viên; sự phối hợp giữa tổ chức đảng với ban giám hiệu và các tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường)

Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng; phát triển đảng viên; đại học, cao đẳngthục.

Abstract: This article examines the factors affecting Party membership development in private universities and colleges in Vietnam. Using research methods including secondary data review, qualitative analysis, and synthesis, the study identifies several key factors influencing Party membership development. These factors are classified into two categories: objective factors, including international integration; the Communist Party of Vietnam’s guidelines and policies and the State’s laws and regulations; the scale and diversity of the private higher education system; and the information environment and cyberspace; and subjective factors, including the awareness and responsibility of Party committees and Party organizations within higher education institutions; the leadership and implementation capacity of Party committees and Party affairs personnel; the quality of Party members; and coordination between Party organizations, university governing boards, and socio-political organizations within the institutions.

Keywords: Influencing factors; party membership development; private universities and colleges.

1. Đặt vấn đề

Công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Trong bối cảnh giáo dục đại học đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tự chủ, hội nhập quốc tế và đa dạng hóa các loại hình đào tạo, công tác phát triển đảng viên tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức.

Thực tiễn cho thấy, kết quả phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Các nhân tố như nhận thức của cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên; đặc điểm tổ chức và cơ chế quản lý của nhà trường; môi trường học tập, rèn luyện của sinh viên; sự phối hợp giữa tổ chức đảng với các đoàn thể chính trị – xã hội; cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu vực giáo dục ngoài công lập đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả công tác này. Việc nghiên cứu, nhận diện đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng không chỉ giúp làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục mà còn là căn cứ quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng, số lượng đảng viên mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp làm phương pháp chủ đạo nhằm thu thập, khai thác và xử lý các nguồn thông tin liên quan đến công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam. Các tài liệu được sử dụng bao gồm: Văn kiện của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên; các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về giáo dục đại học và giáo dục ngoài công lập; các công trình nghiên cứu khoa học, bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án và các tài liệu tham khảo có liên quan.

Đồng thời, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam. Trên cơ sở các tài liệu đã thu thập, nghiên cứu tiến hành phân tích nội dung các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các công trình nghiên cứu khoa học và các bài viết có liên quan để xác định những yếu tố tác động đến công tác phát triển đảng viên trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết tiến hành tổng hợp các thông tin, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã được kiểm chứng để khái quát thành các nhóm nhân tố cơ bản. Các nhân tố được hệ thống hóa thành hai nhóm chính gồm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Nhân tố khách quan

Công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan xuất phát từ bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và đặc điểm của hệ thống giáo dục quốc dân. Những yếu tố này vừa tạo điều kiện thuận lợi, vừa đặt ra những thách thức đối với việc tạo nguồn, bồi dưỡng và kết nạp đảng viên trong khu vực giáo dục ngoài công lập.

Thứ nhất, bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Hội nhập quốc tế tạo ra môi trường phát triển năng động, đề cao tính tự chủ, cạnh tranh và hiệu quả. Đối với các trường đại học, cao đẳng tư thục, đây là điều kiện tồn tại và phát triển, bởi phần lớn các cơ sở này hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, phải bảo đảm cân đối thu – chi và nâng cao chất lượng đào tạo để khẳng định vị thế. Bối cảnh đó, tác động trực tiếp đến nhận thức, động cơ và hành vi của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên, những đối tượng tạo nguồn phát triển đảng viên.

Hiện nay, cơ chế thị trường thúc đẩy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm; tạo điều kiện để phát hiện những cá nhân có năng lực, có khát vọng cống hiến và tinh thần trách nhiệm. Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự cạnh tranh và áp lực lợi ích vật chất cũng có thể làm nảy sinh tâm lý thực dụng, coi trọng lợi ích cá nhân, xem nhẹ lý tưởng chính trị và trách nhiệm xã hội. Trong môi trường đó, nếu công tác giáo dục chính trị, tư tưởng không được chú trọng, nguồn phát triển đảng viên có thể bị thu hẹp hoặc thiếu chiều sâu về động cơ phấn đấu.

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng làm gia tăng sự giao thoa giữa các hệ giá trị, quan điểm và mô hình phát triển khác nhau. Sinh viên và giảng viên trong các trường tư thục có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức toàn cầu, tham gia hợp tác quốc tế và trao đổi học thuật. Điều này vừa mở rộng tầm nhìn, vừa đặt ra yêu cầu phải nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng “miễn dịch” trước những quan điểm sai trái, lệch lạc. Công tác xây dựng Đảng trong điều kiện hội nhập phải kết hợp chặt chẽ giữa mở rộng giao lưu với giữ vững nguyên tắc, mục tiêu và bản sắc. Bối cảnh hội nhập quốc tế vừa là môi trường thuận lợi, vừa là thách thức khách quan đối với công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục. Nhận diện đúng hai mặt tác động này là cơ sở để đề ra các giải pháp phù hợp, bảo đảm phát triển đảng viên cả về số lượng và chất lượng trong điều kiện mới.

Thứ hai, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục ngoài công lập.

Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục ngoài công lập là yếu tố khách quan có tác động trực tiếp và sâu sắc đến công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục. Đây là cơ sở chính trị pháp lý quy định vị trí, vai trò của tổ chức đảng trong đơn vị ngoài công lập, đồng thời, xác định cơ chế tổ chức, hoạt động và điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng Đảng nói chung, phát triển đảng viên nói riêng.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã khẳng định quan điểm phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; khuyến khích đa dạng hóa các loại hình đào tạo, trong đó có khu vực ngoài công lập. Đảng đã ban hành các chủ trương, đường lối quan trọng, như: phát triển mạnh mẽ hệ thống trường ngoài công lập, nhất là ở các thành phố lớn, khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển; “Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của Việt Nam trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội và các giá trị cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.137); “Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân” (Bộ Chính trị, 2025). Đặc biệt trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Phát triển giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là cấu phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.203). Khi giáo dục tư thục được thừa nhận là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, công tác xây dựng Đảng trong các cơ sở này cũng được đặt ra như một yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Các quy định về tổ chức đảng trong đơn vị ngoài nhà nước, về tự chủ đại học, về công tác cán bộ và tiêu chuẩn đảng viên đã tạo hành lang pháp lý để triển khai công tác phát triển đảng viên trong thực tiễn.

Mức độ đồng bộ, cụ thể và phù hợp của cơ chế, chính sách cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện. Nếu quy định rõ ràng về mô hình tổ chức đảng trong trường tư thục, về mối quan hệ giữa cấp ủy với ban giám hiệu và chủ đầu tư, thì công tác phát triển đảng viên sẽ có điều kiện thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu còn những điểm chưa cụ thể, thiếu hướng dẫn chi tiết hoặc chưa tính hết đặc thù của cơ sở giáo dục tư thục (như: biến động nhân sự, hợp đồng lao động ngắn hạn), tổ chức đảng ở cơ sở có thể gặp khó khăn trong tạo nguồn và quản lý đảng viên.

Các chính sách liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, đến quyền và nghĩa vụ của người lao động trong khu vực ngoài công lập, đến cơ chế phối hợp giữa tổ chức đảng với các tổ chức chính trị – xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định đến động lực và điều kiện phấn đấu vào Đảng của quần chúng. Khi hệ thống chính sách bảo đảm tính công bằng, minh bạch và khuyến khích cống hiến, công tác phát triển đảng viên sẽ có nền tảng thuận lợi để triển khai hiệu quả.

Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục ngoài công lập không chỉ định hướng chiến lược cho sự phát triển của khu vực này mà còn là yếu tố khách quan quan trọng chi phối nội dung, phương thức và hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục hiện nay.

Thứ ba, sự phát triển nhanh về quy mô và tính đa dạng của hệ thống các trường tư thục.

Hệ thống các trường đại học, cao đẳng tư thục phát triển nhanh cả về số lượng cơ sở, quy mô tuyển sinh và ngành nghề đào tạo “nếu so sánh với các trường đại học công lập thì số lượng trường đại học tư thục cũng gia tăng hằng năm và hiện chiếm khoảng 25,5% tổng số trường đại học trong cả nước” (Nguyễn Thái Hoàng, 2021).

Quy mô lớn và cơ cấu tổ chức phân tán khiến công tác quản lý, nắm bắt tình hình quần chúng gặp nhiều khó khăn hơn so với các cơ sở công lập truyền thống. Nhiều trường có nhiều cơ sở đào tạo, nhiều khoa, viện, trung tâm hoạt động tương đối độc lập; đội ngũ giảng viên gồm cả cơ hữu và thỉnh giảng; sinh viên đến từ nhiều địa phương, nền tảng xã hội khác nhau. Sự đa dạng đó làm cho việc phát hiện, theo dõi và bồi dưỡng nguồn phát triển đảng viên đòi hỏi phải có phương thức tổ chức linh hoạt, sát thực tiễn.

Tính đa dạng về mô hình quản trị và mức độ ổn định của đội ngũ nhân sự ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của nguồn phát triển đảng viên. Ở một số trường tư thục, tình trạng giảng viên hợp đồng ngắn hạn, biến động nhân sự thường xuyên hoặc sinh viên chuyển trường, thôi học có thể làm gián đoạn quá trình bồi dưỡng, thử thách quần chúng ưu tú. Điều này đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng quy trình tạo nguồn, theo dõi và quản lý chặt chẽ nhưng phù hợp với đặc thù linh hoạt của khu vực ngoài công lập.

Sự đa dạng về ngành nghề đào tạo từ khoa học xã hội, kinh tế, quản trị đến kỹ thuật, công nghệ, nghệ thuật cũng kéo theo sự đa dạng về đặc điểm tâm lý, định hướng nghề nghiệp và hệ giá trị của sinh viên. Công tác phát triển đảng viên vì vậy không thể áp dụng một cách máy móc, đồng loạt, mà cần có cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm ngành, từng môi trường học thuật cụ thể. Đây là yếu tố khách quan buộc tổ chức đảng phải đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục và bồi dưỡng.

Sự phát triển nhanh về quy mô và tính đa dạng của hệ thống các trường tư thục vừa mở rộng nguồn tiềm năng cho công tác phát triển đảng viên, vừa đặt ra nhiều thách thức về tổ chức, quản lý và phương thức thực hiện. Việc nhận diện đầy đủ đặc điểm này là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp phù hợp, bảo đảm công tác phát triển đảng viên thích ứng với thực tiễn phát triển của giáo dục ngoài công lập hiện nay.

Thứ tư, tác động của môi trường thông tin và không gian mạng.

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, internet và các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận thông tin, giao tiếp và hình thành nhận thức của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ “với gần 100 triệu dân, trong đó dân số trẻ và số người dùng di động thông minh chiếm tỷ lệ cao” (Trịnh Thị Hiền &Trương Hữu Chung, 2022).

Sinh viên và giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục hiện nay sống và học tập trong một không gian thông tin mở, đa chiều, nơi các quan điểm chính trị, giá trị văn hóa và lối sống được truyền tải với tốc độ nhanh và phạm vi rộng. Đây là yếu tố khách quan có tác động sâu sắc đến công tác phát triển đảng viên.

Một mặt, môi trường thông tin mở tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị và phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng. Các nền tảng số cho phép tổ chức đảng đổi mới phương thức truyền thông, tổ chức sinh hoạt trực tuyến, chia sẻ tài liệu học tập và tăng cường tương tác với quần chúng. Nếu được khai thác hiệu quả, không gian mạng có thể trở thành công cụ hỗ trợ tích cực cho công tác tạo nguồn và bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng.

Mặt khác, không gian mạng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Thông tin sai lệch, quan điểm cực đoan, luận điệu xuyên tạc có thể tác động đến nhận thức chính trị của sinh viên và giảng viên trẻ. Tính ẩn danh và lan truyền nhanh của mạng xã hội dễ làm nảy sinh tâm lý a dua, thiếu kiểm chứng hoặc bị cuốn theo các trào lưu nhất thời. Trong bối cảnh đó, nếu quần chúng thiếu bản lĩnh chính trị và khả năng phân tích, chọn lọc thông tin, quá trình bồi dưỡng nhận thức về Đảng có thể gặp khó khăn.

Môi trường số còn ảnh hưởng đến phương thức sinh hoạt, giao tiếp và tổ chức hoạt động của tổ chức đảng. Sinh viên có xu hướng tương tác trực tuyến nhiều hơn trực tiếp; do đó, các hình thức giáo dục truyền thống nếu không đổi mới sẽ giảm sức hấp dẫn. Điều này đặt ra yêu cầu khách quan phải kết hợp giữa giáo dục trực tiếp và ứng dụng công nghệ số trong công tác phát triển đảng viên. Môi trường thông tin và không gian mạng vừa mở ra cơ hội đổi mới phương thức giáo dục chính trị, vừa đặt ra thách thức trong việc giữ vững định hướng tư tưởng và nâng cao “sức đề kháng” cho thế hệ trẻ. Nhận diện đầy đủ hai mặt tác động này là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục hiện nay.

3.2 Nhân tố chủ quan

Một là, nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng trong nhà trường.

Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của công tác phát triển đảng viên là tiền đề quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả triển khai trong thực tiễn. Khi cấp ủy, tổ chức đảng trong các trường đại học, cao đẳng tư thục xác định rõ “công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng” (Nguyễn Đức Minh, 2024) là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa chiến lược đối với xây dựng tổ chức đảng và bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị trong nhà trường, thì công tác này sẽ được quan tâm chỉ đạo một cách chủ động, bài bản và có kế hoạch lâu dài. Ngược lại, nếu nhận thức còn giản đơn, coi đây chỉ là nhiệm vụ mang tính thủ tục hoặc thực hiện theo chỉ tiêu, công tác phát triển đảng viên dễ rơi vào hình thức, thiếu chiều sâu và thiếu tính bền vững.

Bên cạnh nhận thức, tinh thần trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu tổ chức đảng cũng là yếu tố quyết định. Nếu cấp ủy viên thiếu gương mẫu, thiếu sâu sát cơ sở hoặc ngại va chạm trong môi trường ngoài công lập, công tác phát triển đảng viên sẽ thiếu sức lan tỏa. Trái lại, khi cấp ủy thể hiện rõ vai trò nêu gương, tích cực tuyên truyền, vận động và trực tiếp tham gia bồi dưỡng quần chúng ưu tú, sẽ tạo niềm tin và sự hưởng ứng trong tập thể giảng viên, sinh viên. Nhận thức đầy đủ và tinh thần trách nhiệm cao của cấp ủy, tổ chức đảng trong nhà trường là nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm công tác phát triển đảng viên được triển khai đúng định hướng, có chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực trong các trường đại học, cao đẳng tư thục hiện nay.

Hai là, năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện của cấp ủy và đội ngũ làm công tác đảng.

Bên cạnh nhận thức và tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chi bộ và đội ngũ cán bộ làm công tác đảng giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng công tác phát triển đảng viên.

(1) Năng lực lãnh đạo thể hiện ở khả năng cụ thể hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam thành nghị quyết, kế hoạch sát với đặc điểm của từng trường tư thục. Mỗi cơ sở có quy mô, ngành nghề đào tạo, cơ cấu nhân sự và mức độ ổn định khác nhau, do đó, nếu cấp ủy không nắm chắc tình hình, không phân tích đúng đặc thù đơn vị, việc đề ra chỉ tiêu và giải pháp phát triển đảng viên có thể thiếu tính khả thi. Năng lực dự báo, đánh giá nguồn, xác định trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn là yếu tố quan trọng để bảo đảm công tác phát triển đảng viên đi vào thực chất.

(2) Năng lực tổ chức thực hiện thể hiện ở việc triển khai đồng bộ các bước: phát hiện nguồn, bồi dưỡng nhận thức, giao nhiệm vụ thử thách, thẩm tra lý lịch và hoàn thiện hồ sơ kết nạp. Trong môi trường tư thục có sự biến động về nhân sự và thời gian học tập, làm việc linh hoạt, nếu đội ngũ làm công tác đảng thiếu kinh nghiệm, thiếu sự phối hợp với các khoa, phòng, đoàn thể thì dễ xảy ra tình trạng bỏ sót nguồn, kéo dài thủ tục hoặc thiếu chặt chẽ trong thẩm định. Ngược lại, khi cán bộ làm công tác đảng nắm vững quy trình, làm việc khoa học, khách quan và công tâm, sẽ bảo đảm cả tiến độ và chất lượng phát triển đảng viên.

(3) Năng lực phối hợp và vận động quần chúng cũng là yếu tố quan trọng. Cấp ủy cần phối hợp chặt chẽ với ban giám hiệu, đoàn thanh niên, công đoàn và các tổ chức liên quan để phát hiện, giới thiệu và bồi dưỡng quần chúng ưu tú. Khả năng thuyết phục, tạo sự đồng thuận và xây dựng môi trường thuận lợi cho người phấn đấu vào Đảng phụ thuộc nhiều vào kỹ năng và uy tín của đội ngũ cán bộ đảng.

(4) Năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy và đội ngũ làm công tác đảng là nhân tố chủ quan có ý nghĩa then chốt. Việc thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng và bản lĩnh cho đội ngũ này là điều kiện quan trọng để công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục đạt hiệu quả bền vững và thực chất.

Ba là, chất lượng đội ngũ đảng viên hiện tại và vai trò làm gương.

Chất lượng đội ngũ đảng viên hiện có trong nhà trường là nhân tố chủ quan có tác động trực tiếp đến công tác phát triển đảng viên “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân…” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.403).

Đảng viên không chỉ là đối tượng quản lý của tổ chức đảng mà còn là chủ thể tham gia phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu quần chúng ưu tú. Vì vậy, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn và uy tín của họ có ý nghĩa quyết định đến sức thuyết phục và sức lan tỏa của công tác xây dựng Đảng trong môi trường giáo dục tư thục.

Đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường kiên định, gương mẫu trong chấp hành chủ trương của Đảng sẽ tạo dựng niềm tin trong tập thể giảng viên và sinh viên. Trong môi trường đại học, nơi đề cao tư duy phản biện và tính học thuật, uy tín của đảng viên không chỉ đến từ vị trí tổ chức mà còn từ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Khi đảng viên thực sự là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, họ sẽ trở thành hình mẫu để quần chúng noi theo và tự giác phấn đấu.

Bốn là, sự phối hợp giữa tổ chức đảng với ban giám hiệu và các tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường.

Trong các trường đại học, cao đẳng tư thục, sự phối hợp giữa tổ chức đảng với ban giám hiệu và các tổ chức chính trị – xã hội là nhân tố chủ quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác phát triển đảng viên. Do đặc thù mô hình quản trị ngoài công lập, quyền tự chủ cao và cơ chế điều hành linh hoạt, nếu thiếu sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ, công tác xây dựng Đảng nói chung và phát triển đảng viên nói riêng sẽ gặp nhiều trở ngại trong triển khai thực tế. Sự ủng hộ và tạo điều kiện của ban giám hiệu có vai trò quyết định đến môi trường chính trị, tổ chức trong nhà trường. Khi lãnh đạo chuyên môn nhận thức đầy đủ về vai trò của tổ chức đảng và tích cực phối hợp trong công tác giáo dục chính trị, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bố trí thời gian, không gian sinh hoạt, thì quá trình tạo nguồn và rèn luyện sẽ thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu thiếu sự đồng thuận hoặc còn tâm lý tách biệt giữa hoạt động chuyên môn và hoạt động đảng, công tác phát triển đảng viên dễ bị hạn chế về điều kiện và phạm vi triển khai.

Vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, như: Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội Sinh viên là hết sức quan trọng trong việc phát hiện và giới thiệu quần chúng ưu tú. Đây là môi trường trực tiếp tổ chức các phong trào thi đua, hoạt động tình nguyện, nghiên cứu khoa học, sáng tạo khởi nghiệp… qua đó sàng lọc, bồi dưỡng những cá nhân có phẩm chất, năng lực nổi bật. Nếu tổ chức đảng phối hợp tốt, có cơ chế trao đổi thông tin, đánh giá và giới thiệu kịp thời, nguồn phát triển đảng viên sẽ dồi dào và chất lượng hơn.

Sự phối hợp hiệu quả còn thể hiện ở việc xây dựng cơ chế làm việc rõ ràng, tôn trọng chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể, nhưng đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong nhà trường. Khi mối quan hệ này được xác lập trên cơ sở nguyên tắc, minh bạch và hướng tới mục tiêu chung là nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, công tác phát triển đảng viên sẽ có nền tảng vững chắc để triển khai lâu dài. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa tổ chức đảng với ban giám hiệu và các tổ chức chính trị – xã hội là điều kiện quan trọng bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo, tổ chức và hành động. Đây là nhân tố chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục hiện nay.

4. Kết luận

Công tác phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng tư thục ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác này chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm khách quan và chủ quan. Do đó, để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy đảng, lãnh đạo nhà trường và các tổ chức đoàn thể; đồng thời, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị tư tưởng, tạo môi trường thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). NxbChính trị quốc gia Sự thật, tr. 137.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). NxbChính trị quốc gia Sự thật, tr. 203.
4. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 12). NxbChính trị quốc gia, tr. 403.
5. Nguyễn Đức Minh (28/11/2024). Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinhnghiem1/-/2018/1006202/view_content
6. Nguyễn Thái Hoàng (18/5/2021). Thực trạng và xu hướng phát triển trường đại học tư thục hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/05/18/thuc-trang-va-xu-huong-phat-trientruong-dai-hoc-tu-thuc-hien-nay/
7. Trịnh Thị Hiền, Trương Hữu Chung (2022). Phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam: Cơ hội và Thách thức. Tạp chí Thông tin & Truyền thông, số 6 (6/2022).