Đổi mới chương trình đào tạo ngành Văn thư, lưu trữ tại Học viện Hành chính và Quản trị công

Reforming the training program in records management and archives at the Academy of Public Administration and Governance

TS. Trần Việt Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác văn thư, lưu trữ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thông tin kịp thời, chính xác phục vụ lãnh đạo, quản lý và điều hành của các cơ quan, tổ chức. Trong bối cảnh chuyển đổi số, lĩnh vực này đang có những thay đổi căn bản từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý, lưu trữ và khai thác tài liệu trên môi trường số. Điều này đòi hỏi nguồn nhân lực phải được trang bị năng lực số vững chắc, tư duy quản trị dữ liệu, kiến thức an ninh thông tin và khả năng thích ứng nhanh với môi trường làm việc hiện đại. Bài viết đề cập đến những điểm mới trong chương trình đào tạo ngành Văn thư, lưu trữ hiện nay tại Học viện Hành chính và Quản trị công và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới.

Từ khóa: Đổi mới; chương trình đào tạo; nhân lực văn thư, lưu trữ; chuyển đổi số; Học viện Hành chính và Quản trị công.

Abstract: Records management and archives play a pivotal role in ensuring the timely and accurate provision of information to support the leadership, management, and administration of public agencies and organizations. In the context of digital transformation, this field is undergoing fundamental changes, shifting from traditional management approaches to the digital management, storage, and utilization of documents and records. This transition necessitates that the workforce be equipped with robust digital competencies, a strong data governance mindset, comprehensive knowledge of information security, and the capacity to adapt rapidly to modern working environments. The present article highlights recent innovations in the training program in records management and archives at the Academy of Public Administration and Governance, along with several proposed solutions aimed at enhancing the quality of training in the foreseeable future.

Keywords: Innovation; training program; records and archival workforce; digital transformation; Academy of Public Administration and Governance.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, công tác văn thư, lưu trữ đang có sự thay đổi căn bản từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý, khai thác và bảo quản văn bản, tài liệu trên môi trường số. Tài liệu lưu trữ ngày càng được hình thành, xử lý, lưu trữ và sử dụng dưới dạng điện tử, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lưu trữ phải có năng lực công nghệ số, tư duy quản trị dữ liệu, am hiểu các hệ thống thông tin, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và pháp lý liên quan đến lưu trữ số. Trong khi đó, chương trình đào tạo đại học, sau đại học ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ hiện nay ở nhiều cơ sở đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết truyền thống, chưa theo kịp sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và yêu cầu thực tiễn của chuyển đổi số, dẫn đến khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực.

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại, thực chất, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội và thị trường lao động; chú trọng phát triển năng lực số, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng của người học trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, đổi mới chương trình đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ là yêu cầu tất yếu, vừa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia, vừa cụ thể hóa tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Học viện) là cơ sở giáo dục đại học công lập, trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Học viện luôn chú trọng đổi mới các chương trình đào tạo, trong đó có chương trình đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ trình độ đại học, sau đại học.Việc đổi mới này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ, bảo đảm tính bền vững của hoạt động lưu trữ trong kỷ nguyên số; đồng thời, khẳng định vai trò của giáo dục đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

2. Định hướng đổi mới chương trình đào tạo tại Học viện Hành chính và Quản trị công

Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực hành chính và quản trị công trong điều kiện đất nước đang đẩy mạnh đổi mới toàn diện hệ thống chính trị, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lãnh đạo Học viện xác định việc đổi mới chương trình đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đào tạo. Chương trình đào tạo của Học viện phải được đổi mới theo hướng hiện đại, liên ngành và gắn với thực tiễn quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số. Ngoài ra, chương trình đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra gắn với năng lực nghề nghiệp, nội dung chương trình phải tăng cường các kiến thức về công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Để thực hiện hiệu quả việc đổi mới chương trình đào tạo, Học viện đã quyết liệt chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị rà soát toàn bộ chương trình đào tạo đại học, sau đại học của Học viện. Ngày 21/7/2025, Học viện đã ban hành Hướng dẫn số 1680-HD/HVHC&QTC triển khai đổi mới chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, trong đó việc đổi mới chương trình đào tạo được định hướng một số nội dung sau:

(1) Đổi mới phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; căn bản, toàn diện, sâu sắc, triệt để các chương trình đào tạo đại học, thạc sĩ của Học viện;

(2) Bảo đảm tính khoa học, hiện đại, kế thừa nội dung còn phù hợp với bối cảnh mới trong các chương trình đào tạo hiện hành; cập nhật, bổ sung nội dung có tính mới; thể hiện đặc trưng về hành chính và quản trị công trong các chương trình đào tạo.

(3) Chương trình đào tạo phải được thiết kế dựa trên chuẩn đầu ra, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động; bảo đảm tỷ lệ liên thông phù hợp giữa các ngành, liên thông giữa các trình độ;

(4) Thời lượng các chương trình đào tạo trình độ đại học là 127 tín chỉ; đối với đào tạo trình độ thạc sĩ là 60 tín chỉ. Cơ cấu các học phần tinh, gọn, tránh dàn trải, manh mún; không trùng lặp về nội dung giữa các học phần trong cùng một chương trình đào tạo.

(5) Đối với chương trình đào tạo trình độ đại học: các học phần liên thông được thiết kế thống nhất (tên, nội dung, thời lượng); căn cứ tính chất học phần, bố trí nội dung và hoạt động trải nghiệm thực tế/khởi nghiệp phù hợp (có thể trải nghiệm ngay từ năm thứ nhất); nội dung và hoạt động kiến tập có thể chia thành nhiều đợt (có thể kiến tập từ kỳ 1 của năm thứ 2); thời gian tổ chức đào tạo rút ngắn còn 3,5 năm.

(6) Đối với chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ (theo định hướng ứng dụng): bố trí và lồng ghép thời lượng trải nghiệm thực tế phù hợp vào các học phần; lấy kết quả trải nghiệm làm cơ sở đánh giá kết thúc học phần (nếu có thể).

Hướng dẫn số 1680-HD/HVHC&QTC cũng đặt ra các yêu cầu đổi mới, như: bảo đảm nguyên tắc kế thừa, phát triển và liên thông giữa các bậc học, đặc biệt là từ bậc đại học đến sau đại học; bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất với chuẩn chương trình đào tạo của khối ngành, lĩnh lực do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; tiếp cận chuẩn đầu ra, định hướng giáo dục dựa trên kết quả đầu ra, lấy người học làm trung tâm; thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của Học viện; tăng cường tính thực tiễn trong chương trình đào tạo, bảo đảm phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và xu hướng chuyển đổi số.

3. Đổi mới chương trình đào tạo ngành Văn thư, lưu trữ tại Học viện Hành chính và Quản trị công

Chương trình đào tạo bậc đại học ngành Lưu trữ học được bắt đầu triển khai từ năm 2012 do Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thực hiện, trước khi sáp nhập vào Học viện Hành chính Quốc gia (nay là Học viện Hành chính và Quản trị công) và tiếp tục được coi là chương trình đào tạo phát huy thế mạnh của Học viện. Năm 2021, chương trình đào tạo đại học ngành Lưu trữ học đã được đánh giá ngoài đạt chất lượng và được cấp giấy chứng nhận kiểm định bởi Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Mỗi năm, Học viện luôn dành khoảng 200 chỉ tiêu đào tạo đại học chính quy cho ngành Lưu trữ học và chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ.

Qua khảo sát, sinh viên tốt nghiệp ngành Lưu trữ học của Học viện được cơ quan sử dụng lao động đánh giá cao, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực để hoàn thành công việc, thích ứng được trong bối cảnh hiện nay. Đây là minh chứng khẳng định Học viện luôn chú trọng đến việc đổi mới chương trình đào tạo; đồng thời, quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, tạo môi trường học tập cho sinh viên.

Thực hiện định hướng và yêu cầu của Học viện, Khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng đã tiến hành rà soát, cập nhật chuẩn đầu ra, mục tiêu chương trình đào tạo, kết cấu nội dung và thời lượng của từng học phần trong chương trình đào tạo trình độ đại học do Khoa quản lý.

Đối với ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ, nhóm biên soạn xác định: việc đổi mới chương trình đào tạo không chỉ nhằm cập nhật tri thức mới mà còn phải tái cấu trúc chương trình theo hướng tích hợp liên ngành giữa lưu trữ học với công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, an toàn thông tin, pháp luật và quản lý nhà nước, qua đó, hình thành đội ngũ cử nhân văn thư, lưu trữ có năng lực làm việc hiệu quả trong môi trường số.

Chương trình đào tạo ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ căn cứ vào các văn bản, như: Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam; Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT ngày 22/6/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; Thông tư số 07/2022/TT-BNV ngày 31/8/2022 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức danh nghề nghiệp, thi hoặc xét thăng hạng, bổ nhiệm và xếp lương viên chức chuyên ngành lưu trữ; Thông tư số 06/2022/TT-BNV ngày 22/6/2022 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2021/TT-BNV ngày 11/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư; Quyết định 1687/QĐ-HCQG ngày 24/5/2023 của Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học của Học viện Hành chính Quốc gia (trước ngày 08/01/2025); Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quy định Khung năng lực số cho người học, theo đó, nhóm biên soạn chương trình đào tạo đã xác định mục tiêu của chương trình đào tạo là: đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ văn thư, lưu trữ; có kiến thức về chính trị, văn hóa, xã hội; có kỹ năng thực hành nghề nghiệp; có tư duy phản biện; có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo giải quyết những vấn đề thuộc ngành đào tạo và thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh đổi mới của đất nước.

Ngày 25/9/2025, Học viện Hành chính và Quản trị công đã ban hành Quyết định số 3091-QĐ/HVHC&QTC ban hành 22 chương trình đào tạo đại học hình thức chính quy năm 2025, trong đó có chương trình đào tạo ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ. Đây là kết quả của quá trình nỗ lực thực hiện chủ trương của Đảng, định hướng của lãnh đạo Học viện trong đổi mới tư duy, thay đổi mang tính đột phá trong thiết kế chương trình đào tạo.

Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ có những điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, chuẩn đầu ra chương trình đào tạo được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực toàn diện, hướng tới phù hợp với thị trường lao động và xu hướng phát triển của đất nước trong 5 – 10 năm tới, bảo đảm chất lượng đầu ra đáp ứng nhu cầu của xã hội trong kỷ nguyên mới. Chương trình hướng tới đào tạo người học có khả năng quản lý được tài liệu ở cả môi trường vật lý và môi trường số, làm chủ các công nghệ trong quản lý tài liệu điện tử; đồng thời, bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin. Sinh viên tốt nghiệp không chỉ thực hiện thành thạo nghiệp vụ văn thư, lưu trữ mà còn có khả năng thích ứng với chuyển đổi số, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị thông tin và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ trong các cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, xác định 4 nhóm vị trị việc làm sau khi tốt nghiệp là: (1) Văn thư viên, lưu trữ viên; (2) Nghiên cứu viên trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ; (3) Giảng viên, tư vấn viên chuyên môn văn thư, lưu trữ; (4) Quản lý và điều hành doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lưu trữ.

Thứ ba, các học phần trong chương trình đào tạo ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ được thiết kế dựa vào chuẩn đầu ra, bám sát các quy định liên quan trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ, như: Luật Lưu trữ năm 2024, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2026), Luật An toàn thông tin mạng năm 2025, Luật Chuyển đổi số năm 2025…

Với khối lượng 127 tín chỉ toàn khóa (chưa tính tín chỉ thuộc phần kiến thức giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng) được phân bổ như sau: khối kiến thức đại cương: 26 tín chỉ; khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp: 30 tín chỉ; khối kiến thức cốt lõi ngành: 51 tín chỉ. So với chương trình đào tạo ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ những năm trước, chương trình đào tạo hiện nay đã tích hợp, bổ sung các học phần liên quan đến công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, cụ thể như sau:

– Kỹ năng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (4 tín chỉ).

– Công nghệ thông tin và truyền thông (3 tín chỉ).

– Nhập môn khoa học dữ liệu (3 tín chỉ).

– Chính phủ số (3 tín chỉ).

– Kỹ năng làm việc trong môi trường số (3 tín chỉ).

– Số hóa và lưu trữ tài liệu điện tử (4 tín chỉ).

– Quản trị rủi ro trong công tác văn thư, lưu trữ (3 tín chỉ).

– Bảo mật thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ (3 tín chỉ).

– Chuyển đổi số trong công tác văn thư, lưu trữ (3 tín chỉ).

– Lưu trữ dự phòng (3 tín chỉ).

– Xây dựng và quản trị dữ liệu trong lưu trữ (3 tín chỉ).

– Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ (2 tín chỉ).

Như vậy, khối kiến thức, kỹ năng liên quan đến công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp là 37 tín chỉ, chiếm tỷ trọng lớn trong khung chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư- Lưu trữ.

Thứ tư, bổ sung thêm thời lượng trải nghiệm thực tế, kiến tập, thực tập vào chương trình đào tạo. Với yêu cầu “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”, toàn bộ 22 chương trình đào tạo đại học của Học viện, trong đó có ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ đều tăng thời gian hoạt động trải nghiệm thực tế, kiến tập, thực tập từ 7 tín chỉ ở các chương trình đào tạo trước đây lên thành 14 tín chỉ ở chương trình đào tạo hiện nay.

4. Điều kiện triển khai tổ chức đào tạo

Để sản phẩm đào tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, song song với việc xây dựng khung chương trình đào tạo, chuẩn bị nguồn lực kết hợp với công tác tổ chức đào tạo là quan trọng để có thể trang bị các năng lực cần thiết cho người học trong chương trình đào tạo cử nhân văn thư, lưu trữ. Bài viết đề xuất một số biện pháp để tổ chức đào tạo đáp ứng mục tiêu đề ra như sau:

Một là, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên. Để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực phù hợp, có khả năng thích ứng và làm chủ công nghệ, tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi số và linh hoạt trước mọi biến đổi của thị trường lao động, trước tiên, giảng viên tham gia giảng dạy phải ý thức rõ tầm quan trọng của việc trang bị các kiến thức, kỹ năng liên quan đến công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Giảng viên phải luôn tự học hỏi, trau dồi kiến thức để đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Bên cạnh đó, lãnh đạo Học viện Hành chính và Quản trị công cần quan tâm đến đội ngũ giảng viên nói chung, đặc biệt là giảng viên giảng dạy các học phần liên quan đến công nghệ thông tin và chuyển đổi số, cử giảng viên tham gia học tập, bồi dưỡng các khóa ngắn hạn, tham gia thực tế tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước để tiếp cận với công nghệ mới nhất và chuyển đổi số phục vụ cho công tác giảng dạy của giảng viên.

Thứ hai, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học. Một yếu tố quyết định đến hiệu quả nâng cao năng lực số cho sinh viên là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập. Vì vậy, Học viện cần phải đầu tư hơn nữa các thiết bị giảng dạy hiện đại, như: máy chiếu, máy tính trên các giảng đường, internet tốc độ cao để sinh viên có thể học tập và tra tìm tài liệu trên môi trường số. Đặc biệt, với những học phần chuyên ngành liên quan đến công nghệ, hoạt động nghề nghiệp cần phải có phòng thực hành, trong đó có phần mềm chuyên dụng, máy tính có nối mạng, tài khoản truy cập để thực hành.

Thứ ba, tăng cường liên kết, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong công tác đào tạo. Một trong những điểm khác biệt và vượt trội trong chương trình đào tạo cử nhân văn thư, lưu trữ tại Học viện là chương trình có tính ứng dụng cao. Với mục tiêu ngoài kiến thức lý luận, người học còn có khả năng thực hiện, tổ chức triển khai và tham mưu cho lãnh đạo cơ quan, tổ chức các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ nên trong các đề cương học phần thuộc khối kiến thức cốt lõi ngành đã dành thời lượng nhất định cho thực hành và tham quan tại các cơ quan, tổ chức. Trong thời gian qua, sinh viên ngành Lưu trữ học, chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ đã được các cơ quan như: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Trung tâm Lưu trữ lịch sử thành phố Hà Nội, Tập đoàn FPT, Công ty FSI và SAVIS GROUP phối hợp hướng dẫn thực hành một số học phần. Để công tác đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, bảo đảm nhu cầu của thị trường lao động, rất cần sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo Học viện trong việc liên kết với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, thiết lập và củng cố mối quan hệ với các cơ quan, các cơ sở đào tạo và các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực lưu trữ trên thế giới có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển chương trình đào tạo. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ sẽ tạo cơ hội trong việc trao đổi giảng viên, sinh viên của Học viện với các trường đại học khác trên thế giới đào tạo về lưu trữ và quản trị thông tin. Thông qua các hoạt động liên kết đào tạo, hợp tác nghiên cứu và chia sẻ học liệu, giảng viên và sinh viên sẽ có điều kiện tiếp cận những mô hình đào tạo tiên tiến, cập nhật những nội dung mới về quản trị thông tin, lưu trữ số, quản lý tài liệu điện tử và các tiêu chuẩn quốc tế về đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, qua đó, góp phần hiện đại hóa chương trình đào tạo và thiết kế các học phần mới nhằm nâng cao năng lực hội nhập của người học, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế.

5. Kết luận

Đổi mới chương trình đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ tại Học viện là nhiệm vụ quan trọng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Chương trình đã tích hợp mạnh mẽ kiến thức công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, an ninh thông tin và lưu trữ điện tử, tăng thời gian trải nghiệm thực tế lên 14 tín chỉ, hướng tới chuẩn đầu ra toàn diện và phù hợp với thị trường lao động. Để đạt hiệu quả cao, cần nâng cao năng lực giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường liên kết thực tiễn và hợp tác quốc tế. Với tinh thần trách nhiệm và sáng tạo, Học viện sẽ tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo, góp phần thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nền hành chính hiện đại trong kỷ nguyên số.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT ngày 22/6/2021 quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.
3. Bộ Nội vụ. (2022). Thông tư số 06/2022/TT-BNV  ngày 28/6/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2021/TT-BNV ngày 11/6/2021 quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư.
4. Bộ Nội vụ. (2022). Thông tư số 07/2022/TT-BNV ngày 31/8/2022 quy định chức danh nghề nghiệp, thi hoặc xét thăng hạng, bổ nhiệm và xếp lương viên chức chuyên ngành lưu trữ.
5. Học viện Hành chính và Quản trị công. (2025). Hướng dẫn số 1680-HD/HVHC&QTC ngày 21/7/2025 triển khai đổi mới chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ của Học viện Hành chính và Quản trị công.
6. Học viện Hành chính và Quản trị công. (2025). Quyết định số 3091-QĐ/HVHC&QTC ngày 25/9/2025 ban hành 22 chương trình đào tạo đại học hình thức chính quy năm 2025.
7. Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
8. Nguyễn Thị Thu Vân & Nguyễn Mạnh Cường & Trần Thị Loan & Nguyễn Thị Thanh Hương (25/7/2023). Định hướng nghiên cứu, giảng dạy về văn thư, lưu trữ và quản trị văn phòng tại Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Học viện Hành chính Quốc gia. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/07/25/dinh-huong-nghien-cuu-giang-day-ve-van-thu-luu-tru-va-quan-tri-van-phong-tai-khoa-luu-tru-hoc-va-quan-tri-van-phong-hoc-vien-hanh-chinh-quoc-gia/