State management of artificial intelligence applications in higher education in Vietnam
TS. Lê Thị Hồng Hạnh
Trường Đại học Điện lực
Email: hh.lehonghanh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu rộng đến đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị đại học và kiểm định chất lượng giáo dục, đồng thời, mở ra khả năng cá nhân hóa học tập, hỗ trợ ra quyết định và đổi mới phương pháp dạy – học. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ này cũng phát sinh rủi ro về pháp lý, đạo đức, dữ liệu cá nhân, quyền sở hữu trí tuệ, tính minh bạch của thuật toán, gian lận học thuật và bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước là yêu cầu cấp thiết nhằm định hướng, điều tiết và kiểm soát quá trình ứng dụng AI trong giáo dục đại học theo hướng an toàn, có trách nhiệm và phù hợp với mục tiêu phát triển. Bài viết phân tích thực trạng thể chế, chính sách, tổ chức thực thi và giám sát ở Việt Nam; nhận diện kết quả, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao năng lực quản lý và củng cố cơ chế kiểm tra, đánh giá phù hợp; đồng thời, góp phần bảo đảm hài hòa giữa đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro, bảo vệ quyền con người và giúp duy trì liêm chính học thuật và nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; giáo dục đại học; chuyển đổi số; quản lý nhà nước; hoàn thiện chính sách.
Abstract: Artificial Intelligence (AI) is exerting a profound influence on higher education by transforming teaching and learning, scientific research, university governance, and quality assurance. At the same time, it offers significant opportunities for personalized learning, decision support, and pedagogical innovation. However, the application of AI also gives rise to various legal, ethical, and governance challenges, including issues related to personal data protection, intellectual property rights, algorithmic transparency, academic misconduct, and unequal access to technology. Therefore, strengthening state management has become an urgent requirement to guide, regulate, and oversee the application of AI in higher education in a manner that is safe, responsible, and aligned with national development objectives. This article analyzes the current state of Vietnam’s institutional framework, policies, implementation mechanisms, and supervisory practices concerning AI applications in higher education. It identifies key achievements, existing limitations, and their underlying causes. Based on these findings, the article proposes recommendations for improving the legal and policy framework, enhancing state management capacity, and strengthening monitoring and evaluation mechanisms. These measures are intended to promote an appropriate balance between innovation and risk management, safeguard human rights, uphold academic integrity, and improve the quality of higher education.
Keywords: Artificial Intelligence; higher education; digital transformation; state management; policy refinement.
1. Đặt vấn đề
AI đang làm thay đổi phương thức tạo lập, truyền đạt, kiểm chứng và quản trị tri thức trong giáo dục đại học. Sự tham gia ngày càng sâu rộng của các hệ thống thuật toán vào thiết kế học liệu, đánh giá kết quả học tập, hỗ trợ nghiên cứu và quản trị nhà trường đang cho thấy, trí tuệ nhân tạo không còn đơn thuần là công cụ kỹ thuật. Công nghệ này đang tác động trực tiếp đến thẩm quyền ra quyết định, sự phân bổ trách nhiệm, chuẩn mực học thuật và cách thức xác định chất lượng giáo dục.
Vấn đề đặt ra là tốc độ phát triển và phổ biến của trí tuệ nhân tạo nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của thể chế, chính sách và bộ máy quản lý. Khi chưa có khuôn khổ quản lý thống nhất, hoạt động ứng dụng dễ diễn ra tự phát, phụ thuộc vào năng lực riêng của từng cơ sở giáo dục và thiếu các tiêu chuẩn chung về trách nhiệm, minh bạch, an toàn và chất lượng. Tình trạng này không chỉ làm gia tăng rủi ro quản trị mà còn có thể tạo ra sự chênh lệch về nguồn lực, năng lực công nghệ và cơ hội tiếp cận giữa các trường đại học.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới giáo dục đại học, mở rộng quyền tự chủ và tăng cường hội nhập quốc tế, yêu cầu đặt ra không phải là hạn chế công nghệ, mà là xác lập phương thức quản lý phù hợp để công nghệ phục vụ đúng mục tiêu giáo dục. Điều này đòi hỏi phải làm rõ vai trò, phạm vi và công cụ can thiệp của Nhà nước, đồng thời phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục, giảng viên, người học và doanh nghiệp công nghệ. Trong khi nhiều nghiên cứu tập trung vào hiệu quả ứng dụng AI trong dạy và học, phương diện quản lý nhà nước vẫn chưa được phân tích đầy đủ, có hệ thống và gắn với điều kiện Việt Nam.
2. Thực trạng quản lý nhà nước về ứng dụng AI trong giáo dục đại học
2.1. Những kết quả bước đầu
Thời gian qua, nhằm đáp ứng yêu cầu của bối cảnh kinh tế số, công tác quản lý nhà nước về ứng dụng khoa học công nghệ nói chung và AI nói riêng trong giáo dục đại học đã đạt được những kết quả nhất định, theo đó:
Một là, từng bước hoàn thiện hệ thống chiến lược, chính sách vĩ mô về ứng dụng AI trong giáo dục.
Chính phủ và các bộ, ngành đã xây dựng hành lang chính sách bao quát nhằm tạo động lực cho chuyển đổi số. Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ), đã xác định giáo dục là một trong những lĩnh vực ưu tiên ứng dụng mạnh mẽ AI. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030” (theo Quyết định số 131/QĐ-BGDĐT ngày 25/01/2022), trong đó cụ thể hóa lộ trình xây dựng mô hình giáo dục số, thúc đẩy việc thử nghiệm các nền tảng học tập thông minh dựa trên dữ liệu lớn. Năm 2026 được đánh giá là dấu mốc quan trọng của giáo dục Việt Nam khi không chỉ là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, yêu cầu tất cả các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam triển khai hệ thống quản trị số và tích hợp AI hỗ trợ dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lý đào tạo. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định AI và dữ liệu giáo dục là đột phá quan trọng để phát triển giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số, yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng lộ trình tích hợp AI ở tất cả các cấp học trước năm 2030.
Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nhiều chính sách nhằm nâng cao năng lực số cho nhà trường, giảng viên và người học. Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định khung năng lực số cho người học. Công văn số 2250/BGDĐT-GDPT ngày 12/5/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai tài liệu hướng dẫn sử dụng AI trong dạy và học, yêu cầu các trường bảo đảm đạo đức, quyền riêng tư và an toàn dữ liệu khi ứng dụng AI như chatbot, hệ thống học tập thích ứng và phân tích dữ liệu học tập…
Hai là, chủ động phản ứng chính sách mang tính linh hoạt từ các cơ sở giáo dục đại học tự chủ.
Trước tốc độ bùng nổ của AI, các trường đại học top đầu tại Việt Nam đã chủ động đi trước một bước trong việc thiết lập thể chế nội bộ. Điển hình như Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh đã ban hành quy định cụ thể quy chế kiểm soát AI trong học tập và nghiên cứu (theo Quyết định số 623/QĐ-ĐHM ngày 4/4/2025), trong đó thiết lập ranh giới kỹ thuật bằng số liệu định lượng: Người học không được sử dụng AI tạo sinh đề làm thay toàn bộ bài tập, bài thi, luận văn, luận án. Tỷ lệ nội dung tạo ra không được vượt quá 20% bài làm (Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Khảo sát thực tế từ các hội thảo quốc gia về năng lực số trong đại học năm 2025 – 2026 cũng cho thấy, xu hướng dịch chuyển rõ rệt: hầu hết các trường khối kỹ thuật, như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội đã và đang xây dựng Khung năng lực số và bộ tiêu chí liêm chính học thuật tạm thời nhằm thích ứng tại chỗ với thách thức công nghệ.
Ba là, bước đầu hình thành các hệ sinh thái nghiên cứu và đầu tư hạ tầng số trọng điểm cho AI.
Nhận thức rõ AI cần nền tảng hạ tầng kỹ thuật mạnh mẽ, Nhà nước đã tăng cường định hướng đầu tư và phê duyệt các dự án xây dựng trung tâm dữ liệu lớn, trung tâm tính toán hiệu năng cao phục vụ cho mạng lưới giáo dục và nghiên cứu. Sự phối hợp liên bộ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Khoa học và Công nghệ đã thúc đẩy mô hình hợp tác ba bên gồm: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp công nghệ. Khung liên kết này bước đầu phát huy hiệu quả khi các tập đoàn công nghệ lớn trong nước như: Viettel, VNPT, FPT đã chủ động ký kết chiến lược với các đại học lớn để tài trợ phòng thí nghiệm AI, cung cấp nền tảng điện toán đám mây và đồng kiến tạo các mô hình ngôn ngữ lớn tối ưu hóa riêng cho ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Sự dịch chuyển từ nghiên cứu lý thuyết sang ứng dụng thực tiễn này là minh chứng cho thấy vai trò định hướng và vai trò “bà đỡ” của quản lý nhà nước trong việc tạo nguồn lực và không gian phát triển công nghệ cho các cơ sở đào tạo.
2.2. Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra
Bên cạnh những chuyển biến tích cực kể trên, xét trên quy mô toàn hệ thống, công tác quản lý nhà nước đối với việc ứng dụng AI trong giáo dục đại học vẫn bộc lộ một số hạn chế và “khoảng trống” chính sách.
Thứ nhất, chưa tạo được hành lang pháp lý chuyên biệt và đồng bộ.
Cho đến nay, Bộ Giáo dục và đào tạo mới dừng lại ở bước công bố và lấy ý kiến rộng rãi cho Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học nhằm thay thế Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT. Mặc dù Dự thảo này đã lần đầu tiên chính thức đưa thuật ngữ “Trí tuệ nhân tạo” vào văn bản quy phạm pháp luật với các nguyên tắc cốt lõi như: sử dụng AI phải bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong đánh giá và liêm chính học thuật, nhưng đây vẫn chưa phải là văn bản hợp pháp hóa có hiệu lực thi hành ngay. Việc thiếu một văn bản hướng dẫn mang tính quy chuẩn hành chính, có chế tài cụ thể từ cơ quan quản lý cấp Bộ đã khiến nhiều cơ sở đào tạo “rơi” vào trạng thái lúng túng. Giữa việc “khuyến khích đổi mới” và “giữ gìn liêm chính học thuật” chưa có một ranh giới pháp lý phân định rõ ràng bằng các tiêu chí định lượng áp dụng chung toàn quốc.
Thứ hai, hạn chế về các công cụ và tiêu chí kiểm định chất lượng.
Hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục quốc gia hiện nay chưa có sự điều chỉnh tương thích với bối cảnh AI. Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo hiện hành vẫn tập trung chủ yếu vào các minh chứng truyền thống như: đề cương chi tiết cố định, bài thi viết, danh mục tài liệu cứng. Hoàn toàn khuyết thiếu các tiêu chí đánh giá về: mức độ cá nhân hóa học tập thông qua công nghệ; năng lực kiểm soát dữ liệu đầu ra trước sự can thiệp của AI; hay tiêu chí thẩm định chất lượng các chương trình đào tạo trực tuyến có sự hỗ trợ của các mô hình ngôn ngữ lớn. Sự lạc hậu của bộ công cụ kiểm định vô hình trung tạo ra sự bất cập: các trường muốn đổi mới sáng tạo theo hướng tích hợp AI sâu rộng lại gặp khó khăn khi làm minh chứng kiểm định theo chuẩn cũ.
Thứ ba, chưa có sự thống nhất về hạ tầng dữ liệu và còn rủi ro an ninh mạng, sở hữu trí tuệ.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện này của quản lý nhà nước là chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu mở dùng chung kết nối liên thông giữa các cơ sở giáo dục đại học. Hệ quả là hiện tượng “manh mún dữ liệu” diễn ra phổ biến. Các trường tự phát triển hoặc mua các giải pháp AI độc lập của nước ngoài. Điều này đặt hệ thống giáo dục trước nguy cơ rất lớn về mất an ninh thông tin khi dữ liệu cá nhân, hành vi học tập và các công trình khoa học của giảng viên, sinh viên Việt Nam bị khai thác bởi các nền tảng xuyên biên giới.
Đồng thời, hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ hiện hành chưa có điều khoản quy định rõ ràng về quyền tác giả đối với các sản phẩm, sáng chế, hoặc bài báo khoa học có sự tham gia đồng kiến tạo của AI. Sự lỏng lẻo này đang tạo ra những tranh chấp pháp lý tiềm ẩn trong môi trường đại học, đòi hỏi các cơ quan điều tiết vĩ mô phải sớm có giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm chuẩn hóa và làm lành mạnh hóa hệ sinh thái giáo dục số.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với ứng dụng AI trong giáo dục đại học
Một là, hoàn thiện thể chế và xây dựng hành lang pháp lý chuyên biệt.
Đây là giải pháp ưu tiên hàng đầu nhằm khỏa lấp khoảng trống pháp lý hiện tại. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ để sớm nghiên cứu, ban hành “Khung hướng dẫn quốc gia về đạo đức và năng lực ứng dụng AI trong giáo dục đại học”. Văn bản này cần phân định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và giới hạn pháp lý của ba chủ thể cốt lõi: đối với cơ sở giáo dục đại học, đối với đội ngũ giảng viên và đối với sinh viên.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, với tư cách là chủ thể trực tiếp thực thi chính sách và chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra, các trường đại học phải chủ động ban hành và cụ thể hóa khung liêm chính học thuật nội bộ trong kỷ nguyên số. Khung quy định này không thể dừng lại ở những tuyên bố chung chung, mà cần thiết lập danh mục công khai, phân loại rõ ràng các công cụ trí tuệ nhân tạo được phép tích hợp vào hệ thống quản trị hành chính, quy trình kiểm tra đánh giá và hoạt động hỗ trợ dạy học. Việc chuẩn hóa thể chế nội bộ này vừa tạo không gian mở khuyến khích sự đổi mới sáng tạo hợp pháp của cả giảng viên lẫn sinh viên, vừa thiết lập một màng lọc pháp lý nghiêm minh tại chỗ, giúp nhà trường chủ động kiểm soát rủi ro và bảo vệ uy tín học thuật của chính cơ sở đào tạo trước làn sóng chuyển đổi số.
Đối với đội ngũ giảng viên, người trực tiếp dẫn dắt quá trình đào tạo, yêu cầu cấp bách là phải phân định và xác định rõ ràng ranh giới chức năng giữa việc sử dụng AI như một công cụ bổ trợ hiệu suất và việc lạm dụng công nghệ làm suy giảm giá trị cốt lõi của người thầy. Trong các hướng dẫn chuyên môn, Nhà nước cần định hình tiêu chuẩn để giảng viên khai thác AI một cách khoa học trong việc thiết kế bài giảng, gợi mở ý tưởng hoặc tối ưu hóa học liệu. Tuy nhiên, công nghệ tuyệt đối không được phép thay thế vai trò định hướng tư duy phản biện, truyền cảm hứng sáng tạo và đánh giá nhân sinh quan của người học. Việc giữ vững ranh giới này bảo đảm rằng, dù công nghệ có tiến hóa đến đâu, vị thế chủ đạo, tương tác nhân văn và năng lực truyền thụ tri thức trực tiếp của đội ngũ giảng viên vẫn là giá trị không thể thay thế trong không gian đại học.
Đối với sinh viên, chủ thể trung tâm của giáo dục đại học, thể chế quản lý phải quy định rõ ràng nghĩa vụ minh bạch thông tin và tính tự chịu trách nhiệm trong suốt lộ trình học tập. Mọi quy chế đào tạo mới cần cụ thể hóa điều khoản bắt buộc sinh viên, học viên phải khai báo, giải trình và cung cấp minh chứng rõ ràng về mức độ, phạm vi có sự can thiệp của AI trong tất cả các sản phẩm học thuật, từ bài tập lớn, tiểu luận cho đến các công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp. Việc ràng buộc trách nhiệm pháp lý và đạo đức này không nhằm mục đích hạn chế quyền tiếp cận công nghệ của người học, mà là giải pháp then chốt để rèn luyện tính trung thực, bảo đảm kết quả đánh giá năng lực phản ánh đúng giá trị lao động trí tuệ thực chất của từng cá nhân trước khi tham gia vào thị trường lao động.
Hai là, đổi mới căn bản phương thức kiểm định và hệ thống đánh giá chất lượng.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động rà soát, sửa đổi bộ tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Tư duy đánh giá cần dịch chuyển triệt để từ kiểm tra “trí nhớ văn bản” sang đánh giá “năng lực tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp và năng lực cộng tác sáng tạo giữa con người với AI”. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần ban hành các hướng dẫn chuyên môn khuyến khích, định hướng các trường đại học thay thế dần các hình thức thi viết, tiểu luận truyền thống dễ bị thao túng bằng AI sang các phương thức đánh giá đa chiều như: bảo vệ dự án thực tế theo nhóm, thi vấn đáp trực tiếp, phản biện lâm sàng hoặc thực hành giải quyết tình huống thời gian thực dưới sự giám sát chặt chẽ.
Ba là, quy hoạch, đầu tư và đồng bộ hóa hạ tầng dữ liệu quốc gia về giáo dục.
Nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo trong việc xây dựng hệ sinh thái số dùng chung cho toàn khối đại học nhằm xóa bỏ tình trạng manh mún dữ liệu. Cần ưu tiên bố trí ngân sách chiến lược và huy động nguồn lực xã hội hóa để đầu tư vào hai hạng mục cốt lõi: kho dữ liệu học thuật mở quốc gia và Hệ thống tính toán hiệu năng cao. Đặc biệt, Chính phủ cần bảo trợ cho các dự án phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt chuyên biệt phục vụ giáo dục đại học. Việc làm chủ công nghệ lõi này là điều kiện kiên quyết để giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nền tảng xuyên biên giới, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong không gian số và bảo vệ tuyệt đối an ninh dữ liệu, thông tin cá nhân của hàng triệu giảng viên, sinh viên Việt Nam.
Bốn là, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên đại học.
Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi con người vận hành có đủ năng lực làm chủ. Nhà nước cần thiết lập và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về “Năng lực số và năng lực AI” chuẩn hóa cho toàn hệ thống. Đối với cán bộ quản lý cấp bộ và cấp trường, chương trình cần tập trung vào tư duy quản trị dựa trên dữ liệu và kỹ năng dự báo chính sách. Đối với đội ngũ giảng viên cốt cán, cần đào tạo chuyên sâu về phương pháp luận giảng dạy trong kỷ nguyên số, kỹ năng thiết kế câu lệnh hiệu quả và phương pháp phát hiện, xử lý các biểu hiện gian lận công nghệ. Mục tiêu là chuyển đổi vai trò của người thầy từ “người truyền thụ tri thức duy nhất” thành “người định hướng, điều phối và kiểm soát công nghệ”.
Năm là, thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro hệ thống và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Nhà nước cần chủ động hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ để tương thích với các hình thái sáng tạo mới trong kỷ nguyên số. Cần bổ sung các điều khoản quy định rõ ràng về quyền tác giả, quyền khai thác thương mại đối với các công trình khoa học, sáng chế có sự hỗ trợ hoặc đồng kiến tạo bởi các thuật toán trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát và chế tài xử phạt hành chính nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm đạo đức học thuật, trục lợi công nghệ hoặc phát tán thông tin sai lệch thông qua AI trong môi trường học đường. Việc thiết lập một rào chắn rủi ro nghiêm minh, chặt chẽ là cơ sở để duy trì tính trong lành, công bằng và bảo vệ uy tín quốc gia của nền giáo dục nước nhà trước những biến động khó lường của làn sóng công nghệ toàn cầu.
4. Kết luận
Trí tuệ nhân tạo không thuần túy là một làn sóng công nghệ mang tính nhất thời, mà chính là một sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt, định hình lại căn bản diện mạo và phương thức vận hành của giáo dục đại học toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Sự thẩm thấu của AI vào không gian đại học là một tiến trình khách quan, không thể đảo ngược, mang đến những cơ hội bứt phá chưa từng có về cá nhân hóa học tập, tối ưu hóa quản trị và tăng tốc nghiên cứu khoa học; nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức trực diện về đạo đức học thuật, sự công bằng xã hội và tính bền vững của các chương trình đào tạo. Trước bối cảnh phức tạp đó, công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học tại Việt Nam đang đứng trước một phép thử lớn về năng lực và tư duy điều tiết vĩ mô. Thực tiễn kiểm nghiệm cho thấy, cơ quan quản lý nhà nước tuyệt đối không thể chọn giải pháp cực đoan theo tư duy lối mòn “không quản được thì cấm”, bởi điều đó sẽ tự triệt tiêu động lực đổi mới sáng tạo và đẩy nền giáo dục nước nhà vào thế tụt hậu trong cuộc đua toàn cầu hóa. Ngược lại, giải pháp căn cơ và bền vững nhất là phải chủ động chuyển dịch sang phương thức “quản lý bằng thể chế kiến tạo”.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024a). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học, thay thế Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030”.
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Quyết định số 623/QĐ-ĐHM ngày 04/4/2025 về việc ban hành Quy định sử dụng các công cụ AI tạo sinh trong học tập và nghiên cứu khoa học thuộc Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.



