Leadership development for provincial political schools toward 2035: bridging strategic vision and governance practice
ThS. Phạm Thị Thu Hương
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh tỉnh Hưng Yên
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu mang tính cấp thiết và chiến lược của việc xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý các trường chính trị cấp tỉnh trong bối cảnh mới, hướng tầm nhìn đến năm 2035. Trên cơ sở lý luận về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ và quản trị công, bài viết đề xuất giải pháp đồng bộ, chuyển hóa tầm nhìn thành hành động quản trị cụ thể, nhằm hiện thực hóa vai trò đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của địa phương.
Từ khóa: Trường chính trị cấp tỉnh; lãnh đạo, quản lý; tầm nhìn chiến lược; quản trị nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ.
Abstract: This article analyzes the urgent and strategic need to build a leadership and management team for provincial-level political schools in the new context, with a vision toward 2035. Based on theoretical frameworks regarding Party building, cadre development, and public administration, the article proposes comprehensive solutions to translate this vision into concrete administrative actions, with the aim of realizing the role of these institutions in training and developing key local cadres.
Keywords: Provincial-level political schools; leadership and management; strategic vision; public administration; cadre development.
1. Đặt vấn đề
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, các trường chính trị cấp tỉnh giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước và phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của địa phương. Chất lượng hoạt động của các trường phụ thuộc trực tiếp vào năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ lãnh đạo nhà trường. Bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển đặt ra những đòi hỏi mới, cao hơn đối với công tác này. Việc xây dựng đội ngũ lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh đến năm 2035 không còn là nhiệm vụ nội bộ của ngành mà trở thành một đòi hỏi chiến lược, một khâu đột phá trong xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và hệ thống chính trị các địa phương.
2. Tính tất yếu của tầm nhìn chiến lược đến năm 2035
Việc xác định tầm nhìn đến năm 2035 cho đội ngũ lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh không phải là một yêu cầu chủ quan mà xuất phát từ yêu cầu khách quan, như sau:
Thứ nhất, bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và yêu cầu cải cách hành chính đặt ra những đòi hỏi mới về năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý địa phương. Trường chính trị, với tư cách là nơi đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ này, buộc phải thay đổi để dẫn dắt sự thay đổi. Người lãnh đạo trường chính trị không thể chỉ là “người truyền thụ” kiến thức có sẵn, mà phải là “người kiến tạo” tri thức mới, “nhà thiết kế” các mô hình đào tạo, bồi dưỡng tiên phong.
Thứ hai, xu hướng từ quản lý hành chính sang quản trị công hiện đại đòi hỏi các trường chính trị phải vận hành như một tổ chức học thuật – dịch vụ hiệu quả. Điều này yêu cầu người lãnh đạo phải có năng lực quản trị tổ chức chứ không dừng lại ở điều hành hành chính.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu nội tại của sự phát triển bền vững. Chất lượng đội ngũ lãnh đạo trường chính trị hôm nay quyết định trực tiếp chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của địa phương trong tương lai 5-10 năm tới. Do đó, đầu tư cho tầm nhìn về đội ngũ lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh chính là đầu tư cho nguồn nhân lực lãnh đạo then chốt của địa phương, đảm bảo tính kế thừa và phát triển bền vững.
Đến năm 2035, đội ngũ lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh cần được định hình theo mẫu hình kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, tri thức lý luận tiên phong và năng lực quản trị hiện đại (Ban Bí thư. 2026). Cụ thể:
Một là, bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng. Đây là yêu cầu sống còn, là “tính Đảng”, “tính trường chính trị”. Họ không chỉ giảng dạy mà còn phải thể hiện bằng hành động sự trung thành, kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng. Họ là hiện thân của các giá trị chính trị mà nhà trường truyền bá.
Hai là, năng lực học thuật tiên phong và tư duy kết nối lý luận – thực tiễn. Uy tín của trường chính trị và người lãnh đạo được xây dựng trước hết từ uy tín học thuật và khả năng giải đáp được những vấn đề thực tiễn. Người lãnh đạo phải là một trí thức tiêu biểu. Có trình độ chuyên môn sâu, am hiểu các xu hướng lý luận mới về xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội; có năng lực nghiên cứu khoa học độc lập, dẫn dắt các đề tài lớn; có khả năng lý giải các vấn đề thực tiễn phức tạp của địa phương thành các chủ đề giảng dạy, nghiên cứu có giá trị; là cầu nối tin cậy giữa khoa học với hoạch định chính sách địa phương.
Ba là, năng lực quản trị tổ chức hiện đại và tư duy đổi mới sáng tạo. Mỗi trường chính trị là một tổ chức phức hợp với các chức năng đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ. Nó cần được vận hành như một doanh nghiệp tri thức với hiệu suất và hiệu quả cao. Có tầm nhìn chiến lược và kỹ năng hoạch định phát triển dài hạn cho nhà trường; thành thạo các công cụ quản trị hiện đại; có năng lực lãnh đạo sự thay đổi, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro có tính toán; có kỹ năng gây dựng thương hiệu và quan hệ công chúng cho nhà trường.
Bốn là, năng lực kết nối, hợp tác và hội nhập. Trong thế giới kết nối, một trường chính trị không thể phát triển trong sự đóng kín. Nó cần trở thành một trung tâm kết nối tri thức giữa Đảng, Nhà nước, thị trường, xã hội và giữa địa phương với quốc gia, quốc tế. Có khả năng xây dựng và duy trì mạng lưới đối tác chiến lược với các cơ quan Đảng, chính quyền, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước; có kỹ năng đàm phán, vận động nguồn lực; có tầm nhìn hội nhập, biết tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
3. Thực trạng chất lượng đội ngũ lãnh đạo Trường Chính trị cấp tỉnh hiện nay
Theo Bảng tổng hợp số liệu đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị tính đến tháng 6/2026, sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cả nước có 34 trường chính trị với tổng số 162 lãnh đạo trường (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) trên tổng số 2.185 cán bộ, viên chức toàn hệ thống (Ban Tổ chức cán bộ các trường chính trị cấp tỉnh. 2026). Đây là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc chuyển hóa mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị nhà trường hiện đại theo yêu cầu của trường chính trị chuẩn. Phân tích sâu số liệu về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị và ngạch, bậc chức danh nghề nghiệp của đội ngũ này cho thấy các mặt sau:
3.1. Những ưu điểm.
(1) Về trình độ chuyên môn. 100% lãnh đạo trường hiện đạt trình độ sau đại học trở lên, không còn trường hợp lãnh đạo chỉ có trình độ đại học (cử nhân); trong đó tiến sĩ chiếm 30,9% (50/162 người), thạc sĩ chiếm 69,1% (112/162 người). Đây là mặt bằng học vị khá cao, phản ánh sự chuẩn hóa mạnh mẽ về bằng cấp trong công tác bổ nhiệm thời gian qua.
(2) Về trình độ lý luận chính trị. Đội ngũ lãnh đạo trường hầu hết đã hoàn thành chương trình cao cấp lý luận chính trị, đạt 97,4% (151/155 người có dữ liệu); chỉ 1,9% (3 người) ở trình độ cử nhân chính trị và 0,6% (1 người) ở trình độ trung cấp. Đây là nền tảng chính trị, tư tưởng vững chắc, cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định hiện hành của Đảng.
(3) Về ngạch, bậc chức danh nghề nghiệp. 96,9% lãnh đạo trường giữ ngạch giảng viên chính/chuyên viên chính trở lên (giảng viên chính/chuyên viên chính 83,2%, giảng viên cao cấp/chuyên viên cao cấp 13,7%), chỉ còn 3,1% ở ngạch giảng viên/chuyên viên – cho thấy phần lớn đội ngũ đã tích lũy đủ điều kiện về thời gian công tác và năng lực chuyên môn để được xếp ngạch cao.
3.3. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh ưu điểm, đội ngũ lãnh đạo các trường chính trị vẫn còn có mốt số hạn chế, bất cập, như:
(1) Về cơ cấu trình độ chuyên môn. Dù 100% lãnh đạo trường có trình độ sau đại học, tỷ lệ tiến sĩ (30,9%) nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu là chuyên gia đầu ngành dẫn dắt hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của một cơ sở giáo dục lý luận chính trị; đáng chú ý, vẫn còn 23,5% số trường (8/34 trường) chưa có lãnh đạo trường nào đạt trình độ tiến sĩ, tạo khoảng trống về năng lực học thuật dẫn dắt gần 1/4 số đơn vị trong toàn hệ thống.
(2) Về ngạch, bậc. Tỷ lệ giảng viên cao cấp/chuyên viên cao cấp – ngạch cao nhất, gắn với yêu cầu về năng lực nghiên cứu độc lập, chủ trì đề tài khoa học, chỉ đạt 13,7%; có tới 50% số trường (17/34 trường) chưa có lãnh đạo trường nào giữ ngạch này. Điều đó cho thấy, dù được chuẩn hóa khá tốt về bằng cấp, đội ngũ lãnh đạo trường hiện vẫn thiên nhiều về kinh nghiệm quản lý hành chính, điều hành sự vụ hơn là năng lực học thuật, nghiên cứu chuyên sâu, vốn là đòi hỏi cốt lõi của một nhà quản trị tri thức theo mô hình trường chính trị chuẩn.
(3) Về tư duy và phương thức lãnh đạo, quản lý. Một bộ phận không nhỏ lãnh đạo trường hiện nay trưởng thành, được bổ nhiệm chủ yếu từ môi trường công tác đảng, đoàn thể, quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, quen với phương thức điều hành theo quy trình, thủ tục hành chính, mệnh lệnh. Trong khi đó, yêu cầu đặt ra đối với người đứng đầu trường chính trị hiện nay không dừng lại ở quản lý hành chính đơn thuần mà đòi hỏi tư duy quản trị – tức khả năng hoạch định chiến lược, quản trị theo mục tiêu, quản trị dựa trên dữ liệu, phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả, đo lường được kết quả đầu ra. Quá trình chuyển đổi tư duy này diễn ra còn chậm và chưa đồng đều giữa các trường.
(4) Về năng lực khai thác, ứng dụng khoa học – công nghệ trong quản lý. Đây là hạn chế đáng lưu ý, tuy chưa được phản ánh đầy đủ trong hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện hành nhưng khá phổ biến trên thực tế. Phần lớn lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh còn lúng túng trong khai thác các công cụ số, phần mềm quản trị, cơ sở dữ liệu dùng chung để phục vụ công tác điều hành, quản lý đào tạo, đánh giá cán bộ, giảng viên; việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý còn mang tính hình thức, chưa thực sự trở thành công cụ hỗ trợ ra quyết định. Đây là khoảng trống năng lực cần được đặc biệt quan tâm khắc phục trong giai đoạn tới, khi chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.
3.3. Nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế
Có được kết quả nêu trên, trước hết là do việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp (Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018); Quy định số 11-QĐ/TW về trường chính trị chuẩn (Ban Bí thư. 2021); và hiện nay là Quy định số 396-QĐ/TW về trường chính trị chuẩn (Ban Bí thư. 2026), trong đó tiêu chí về đội ngũ cán bộ, viên chức được quy định cụ thể, buộc các trường phải chủ động rà soát, xây dựng lộ trình chuẩn hóa trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cho đội ngũ lãnh đạo. Bên cạnh đó, các tỉnh ủy, thành ủy đã quan tâm cử cán bộ trong diện quy hoạch lãnh đạo trường chính trị đi đào tạo sau đại học, cao cấp lý luận chính trị trong giai đoạn trước khi bổ nhiệm, tạo nguồn nhân sự cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn chức danh.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do công tác quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh thời gian qua vẫn coi trọng yếu tố kinh nghiệm công tác đảng, đoàn thể, quản lý hành chính và thâm niên hơn là năng lực học thuật, nghiên cứu khoa học và năng lực quản trị hiện đại; khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện hành (Ban Bí thư. 2025) chưa quy định cụ thể, định lượng yêu cầu về năng lực số, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin đối với chức danh này. Cùng với đó, việc đầu tư hạ tầng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và tổ chức bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ lãnh đạo các trường chính trị chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu chuyển đổi số của toàn hệ thống chính trị với năng lực thực tế của đội ngũ lãnh đạo nhà trường.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, đổi mới căn bản công tác quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm.
Cần quy hoạch chủ động, dài hạn. Xây dựng quy hoạch đội ngũ lãnh đạo trường chính trị gắn với quy hoạch cán bộ cấp tỉnh và chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo. Chú trọng phát hiện, thu hút nguồn nhân sự tiềm năng từ nhiều lĩnh vực như lãnh đạo thực tiễn ở địa phương, nhà khoa học, chuyên gia…
Tiêu chuẩn hóa khoa học, xây dựng bộ tiêu chuẩn chức danh cụ thể, bám sát mẫu hình đến năm 2035, trong đó nhấn mạnh năng lực lý luận gắn với thực tiễn, năng lực quản trị và khả năng đổi mới sáng tạo.
Đổi mới quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm. Áp dụng các phương pháp đánh giá năng lực hiện đại như phỏng vấn chuyên sâu, tham khảo ý kiến đa chiều…, bảo đảm công khai, minh bạch, lấy hiệu quả công việc và năng lực thực chất làm thước đo chính.
Thứ hai, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu, thực tiễn và hiện đại.
Kiến thức và kỹ năng của người lãnh đạo trong bối cảnh hiện nay dễ bị lạc hậu nhanh chóng. Các chương trình bồi dưỡng truyền thống thường thiếu tính chuyên sâu cho đối tượng đặc thù là lãnh đạo trường chính trị, nặng về lý luận mà chưa chú trọng đủ đến kỹ năng quản trị hiện đại và kinh nghiệm thực tiễn sinh động.
Do đó cầnthiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên biệt cụ thể như phát triển các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo chiến lược, quản trị đại học và cơ sở giáo dục chính trị, quản lý dự án, ứng dụng công nghệ trong quản lý đào tạo. Chú trọng học tập từ thực tiễn, tăng cường các hình thức luân chuyển, thâm nhập thực tế tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đơn vị kinh tế – xã hội của địa phương để tích lũy kinh nghiệm quản lý.
Tăng cường hợp tác đào tạo quốc tế, tạo điều kiện tham gia các khóa trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học, quản lý giáo dục lý luận và đào tạo cán bộ ở nước ngoài. Giải pháp này trực tiếp nâng cấp năng lực cho đội ngũ hiện tại và tương lai. Góp phần khắc phục điểm yếu khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn ngay từ chính người lãnh đạo.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá và sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Cơ chế quản lý hiện hành đối với lãnh đạo trường chính trị còn nhiều điểm cứng nhắc, chưa tạo động lực mạnh mẽ cho sáng tạo và chịu trách nhiệm. Việc đánh giá thường dựa trên các tiêu chí định tính, khó đo lường, dẫn đến thiếu công bằng và không phản ánh đúng hiệu quả thực chất trong công tác đào tạo, nghiên cứu.
Xây dựng cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Trao quyền tự chủ tương xứng cho hiệu trưởng và lãnh đạo nhà trường về nhân sự, tài chính, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá của cấp ủy, chính quyền và người học. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, chuyển từ đánh giá chủ yếu dựa trên cảm tính sang đánh giá định lượng kết hợp định tính, dựa trên bộ chỉ số hiệu quả hoạt động gắn với mục tiêu chiến lược của nhà trường như chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, kết quả nghiên cứu khoa học, mức độ hài lòng của người học…
Thực hiện chính sách đãi ngộ, tạo động lực phù hợp, có cơ chế đãi ngộ đặc biệt về vật chất và tinh thần để thu hút và giữ chân người tài; gắn kết quả đánh giá với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ.
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa tổ chức học tập, sáng tạo.
Một nhà lãnh đạo giỏi cũng khó thành công nếu hoạt động trong một môi trường cứng nhắc, ngại thay đổi, thiếu sự hợp tác. Môi trường văn hóa hiện tại ở không ít trường chính trị còn nặng tính hành chính, an toàn, chưa thực sự khuyến khích đổi mới sáng tạo trong giảng dạy và nghiên cứu. Lãnh đạo nhà trường phải là người kiến tạo và dẫn dắt một môi trường làm việc dân chủ, khoa học, khuyến khích đổi mới, chấp nhận rủi ro trong đổi mới phương pháp, nội dung giảng dạy và quản lý. Thúc đẩy hợp tác, liên thông giữa các trường chính trị, giữa trường chính trị với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cơ quan thực tiễn để tạo hệ sinh thái học thuật và thực tiễn phong phú.
5. Kết luận
Xây dựng đội ngũ lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu đến năm 2035 là một nhiệm vụ chiến lược, cần sự vào cuộc chủ động, sáng tạo của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, tổ chức cán bộ. Quá trình này đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính thuần túy sang tư duy quản trị tổ chức hiện đại, lấy chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý cho địa phương làm mục tiêu hàng đầu. Chỉ có như vậy, các trường chính trị cấp tỉnh mới thực sự trở thành động lực then chốt trong nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, phục vụ hiệu quả cho sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi địa phương và cả nước.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Ban Bí thư (2025). Quy định số 365-QĐ/TW ngày 30/8/2025 về tiêu chuẩn chức danh cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Ban Bí thư (2021). Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19/5/2021 về trường chính trị chuẩn.
Ban Bí thư (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
Ban Tổ chức cán bộ các trường chính trị cấp tỉnh (2026). Bảng tổng hợp số liệu đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh, tháng 6/2026 (số liệu do tác giả tổng hợp, tính toán).
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và Kết luận số 150-KL/TW ngày 14/4/2025 hướng dẫn xây dựng phương án nhân sự cấp ủy cấp tỉnh thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới.



