Phát huy chủ thể giữa bảo tồn di sản và thương mại hóa – Từ góc nhìn triết học

Heritage conservation and commercialization: rethinking the role of cultural actors from a philosophical perspective

                                                                                  ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
Công ty cổ phần Du lịch nghỉ dưỡng QPEARLAND
Email:trinhphuonglinh291209@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Ở Việt Nam, thương mại hóa việc khai thác di sản vẫn diễn ra dù các chủ thể liên quan tuyên bố cam kết phát huy giá trị di sản. Vận dụng phép biện chứng duy vật và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, bài viết xây dựng phạm trù phát huy có chủ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quyền của cộng đồng trong việc kiến tạo và duy trì giá trị văn hóa là điều kiện nền tảng để bảo đảm giá trị nguyên gốc của di sản, chứ không chỉ đơn thuần là một hình thức tham gia. Đồng thời, sự đối lập giữa giá trị sử dụng tinh thần và giá trị trao đổi kinh tế là một mâu thuẫn biện chứng nội tại, nảy sinh ngay trong quá trình khai thác và phát huy giá trị di sản. Phạm trù này được đối chiếu với lý thuyết quốc tế về giá trị nguyên gốc di sản, cung cấp cơ sở triết học cho tiêu chí đánh giá chính sách.

Từ khóa: Phát huy có chủ thể; quyền chủ thể; văn hóa cộng đồng; tính xác thực di sản; thương mại hóa; khai thác di sản.

Abstract: In Vietnam, the commercial exploitation of heritage continues even where stakeholders profess commitment to heritage promotion. Drawing on materialist dialectics and Ho Chi Minh’s thought on religious solidarity, this article constructs the category of subject-agency-based revitalization. The findings show that the community’s right to construct and sustain cultural value is a foundational condition for securing the heritage’s original value, not merely a form of participation. At the same time, the opposition between spiritual use-value and economic exchange-value is an internal dialectical contradiction arising directly within the process of exploiting and promoting heritage value. Commercial exploitation unfolds through three stages following the law of quantitative-to-qualitative change, whose measure-node is the point at which that right is wholly displaced, and the successful revitalization of heritage illustrates the law of the negation of the negation. The proposed category is positioned against international theories of heritage’s original value, thereby providing a philosophical basis for criteria to evaluate heritage policy.

Keywords: Community-led preservation; community rights; community culture; heritage authenticity; commercialization; heritage exploitation.

1. Đặt vấn đề

Du lịch văn hóa tâm linh phát triển mạnh đang tạo ra một nghịch lý, cùng một quá trình khai thác di sản để phát triển du lịch có thể vừa làm gia tăng giá trị kinh tế và sức lan tỏa của di sản, vừa khiến cộng đồng sở hữu cảm thấy mất dần quyền làm chủ và quyền quyết định đối với các giá trị văn hóa của mình. Nghịch lý này không phải xung đột bảo tồn – phát triển, vì cả hai có thể theo đuổi đồng thời; vấn đề là tiêu chí phân định hai quá trình cùng tên nhưng khác cơ chế, đòi hỏi tư duy triết học chứ không phải quản lý. Điều này có cơ sở rõ trong bối cảnh Việt Nam, nơi tôn giáo gắn hữu cơ với văn hóa làng xã. Văn hóa là động lực nội sinh của phát triển chứ không chỉ công cụ tăng trưởng, trong điều kiện các giá trị văn hóa và xã hội ở Việt Nam đang có sự biến đổi sâu sắc.

Các văn bản chính sách và nghiên cứu hiện có đều dùng thuật ngữ phát huy giá trị di sản nhưng thiếu tiêu chí triết học phân định phát huy thực chất với khai thác theo cơ chế thị trường mang tên khác. Về thuật ngữ, di sản tự nó không phải hàng hóa; điều bị thương mại hóa trên thực tế là hoạt động khai thác. Sự thiếu chính xác này khiến văn bản quản lý dễ nhầm bảo vệ di sản như khách thể vật chất với bảo vệ quyền chủ thể văn hóa của cộng đồng sở hữu.

Hệ quả là không có căn cứ phân biệt cộng đồng khai thác di sản theo quy luật văn hóa nội sinh với doanh nghiệp khai thác theo quy luật thị trường ngoại sinh, như khai thác quá mức làm biến dạng cảnh quan, hoành tráng hóa di tích, hay lợi dụng danh nghĩa tâm linh để trục lợi; các hiện tượng này không đến từ một vi phạm đơn lẻ mà từ sự tích lũy dần một cơ chế khác với cơ chế nội sinh. Bài viết đặt hai câu hỏi: (1) Điều gì phân biệt phát huy thực chất với khai thác di sản theo cơ chế thị trường nhưng vẫn được gọi là phát huy?; (2) Quan hệ biện chứng giữa quyền chủ thể văn hóa cộng đồng và cặp phạm trù giá trị sử dụng/trao đổi được cấu trúc thế nào với một khách thể phi hàng hóa như di sản thiêng và phạm trù phát huy có chủ thể cho tiêu chí chuẩn tắc gì cho chính sách di sản?.

Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng, luận chứng phạm trù phát huy có chủ thể trên cơ sở duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đối chiếu quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước hiện hành, giới hạn ở phân tích lý luận, không khảo sát thực địa; Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam là điểm tham chiếu minh họa.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết dùng phương pháp phân tích phạm trù học trong khuôn khổ phép biện chứng duy vật, theo ba bước: xác định khoảng trống phạm trù; xây dựng định nghĩa mới gồm điều kiện cần, đủ và cấu trúc nội tại; kiểm tra tính nhất quán qua đối chiếu trường hợp thực chứng  với trường hợp phản chứng ở cấp độ khái niệm, giả định một quyền cấu thành bị tước bỏ trong khi các quyền còn lại vẫn duy trì về hình thức. Phương pháp lịch sử – lôgíc phân tích quá trình chuyển hóa theo quy luật lượng – chất, đối chiếu quy luật mâu thuẫn và phủ định của phủ định. Nguồn tư liệu chính là tác phẩm kinh điển C.Mác, Ăng-ghen, Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng, pháp luật của Nhà nước về di sản, tín ngưỡng, tôn giáo, nghiên cứu trong nước. Bài viết không dùng dữ liệu thực địa định lượng ngoài trường hợp tham chiếu đã công bố; đây là hạn chế thừa nhận, cũng là hướng nghiên cứu tiếp theo.

3. Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu trong nước hiện đi theo ba hướng: kinh tế du lịch coi di sản là tài nguyên cần khai thác bền vững; chính sách văn hóa và tôn giáo học khẳng định văn hóa là động lực nội sinh, chỉ ra tính đặc thù tôn giáo Việt Nam; quản lý nhà nước cảnh báo nguy cơ thương mại hóa tín ngưỡng. Cả ba chưa xây tiêu chí triết học phân biệt phát huy nội sinh với khai thác theo cơ chế thị trường ngoại sinh.

Ở bình diện quốc tế, một dòng lý thuyết về tính xác thực trong du lịch cho rằng, thực hành văn hóa thường bị “dàn dựng”, hình thức được trình diễn cho du khách trong khi ý nghĩa nguyên bản đã lùi ra hậu trường. Một dòng khác mở rộng, tính xác thực không cố định mà được hình thành qua tương tác giữa các chủ thể, nên vẫn có thể có “tính xác thực mới nổi” dù hoạt động ban đầu mang mục đích thương mại. Cả hai đều đặt trọng tâm vào chủ thể quan sát, đánh giá đối tượng có “xác thực” hay không, mà không đặt vấn đề về quyền của cộng đồng sở hữu trong việc kiến tạo và diễn giải ý nghĩa di sản của mình. Phạm trù phát huy có chủ thể khác về cấu trúc, thay vì hỏi “khách thể này có xác thực không”, cách tiếp cận này đặt ra câu hỏi “ai có thẩm quyền xác lập tiêu chí đó”, qua đó chuyển trọng tâm từ nhận thức luận sang vấn đề về thẩm quyền của chủ thể. Đây là khoảng trống lý luận mà bài viết hướng đến lấp đầy.

4. Cơ sở lý luận

4.1. Phạm trù chủ thể và bản chất con người trong triết học Mác và Lênin

Phạm trù chủ thể trong triết học Mác – Lênin không đồng nghĩa với người tham gia, mà xác định bởi năng lực thực tiễn, nhận thức, cải tạo, chịu trách nhiệm về quá trình mình tham gia. Mác chỉ ra con người, khác con vật, luôn hình dung trước kết quả lao động trong ý thức trước khi tạo ra nó, nên lao động người có mục đích ý thức, khác về chất với bản năng (C.Mác. 2002). Do đó, một cộng đồng có thể tham gia du lịch di sản mà không phải chủ thể theo nghĩa triết học, nếu quy luật vận động bị xác định bởi nguyên tắc bên ngoài.

Luận đề thứ sáu trong Luận cương về Phoiơbắc khẳng định bản chất con người, trong tính hiện thực của nó, là tổng hòa các quan hệ xã hội, không phải thuộc tính trừu tượng cố hữu (C.Mác. 1995). Cầu nối nằm ở phạm trù thực tiễn: một không gian chỉ trở thành “không gian thiêng” qua hoạt động thực tiễn có ý thức, có tổ chức, nghi lễ cử hành lặp lại, ý nghĩa trao truyền qua các thế hệ. Tính thiêng, do đó, là hình thái vật thể hóa của quan hệ thực tiễn giữa cộng đồng với hệ thống ý nghĩa họ tạo dựng, cùng loại quan hệ xã hội cấu thành bản chất con người. Khi quan hệ thực tiễn này bị thay bởi quan hệ thị trường, đối tượng vật lý có thể được bảo tồn nguyên vẹn nhưng không gian thiêng, với tư cách quan hệ xã hội, đã biến đổi về bản chất. Đây là cơ sở, qua vận dụng mở rộng chứ không phải khẳng định trực tiếp của C.Mác, cho thấy, quyền xác lập ý nghĩa văn hóa của cộng đồng là điều kiện bản thể của tính xác thực di sản.

4.2. Cặp phạm trù giá trị sử dụng và giá trị trao đổi mâu thuẫn biện chứng nội tại

C.Mác chỉ ra mỗi hàng hóa mang tính hai mặt, giá trị sử dụng, thuộc tính thỏa mãn nhu cầu và giá trị trao đổi, quan hệ về lượng khi trao đổi trên thị trường (C.Mác. 2002). Di sản trong đời sống cộng đồng sở hữu mang giá trị sử dụng tinh thần, khả năng thỏa mãn nhu cầu ý nghĩa, kết nối cội nguồn; khi du lịch phát triển, di sản dần được đo thêm bằng giá trị trao đổi qua doanh thu, dịch vụ.

Quan hệ giữa hai loại giá trị này là mâu thuẫn biện chứng nội tại, vừa thống nhất, vì giá trị trao đổi không thể phát sinh nếu không dựa trên giá trị sử dụng tinh thần; vừa đấu tranh, vì mỗi mặt hướng tới chi phối mặt kia theo tiêu chí nội sinh – ngoại sinh khác nhau. Lênin xác định bản chất phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất, đấu tranh của các mặt đối lập, mâu thuẫn nằm ngay trong bản chất sự vật (V.I. Lênin, 2006). Mâu thuẫn này không phải khiếm khuyết cần loại bỏ mà là động lực phát triển nội tại; vấn đề triết học là xác định mặt nào giữ vai trò chi phối, tiêu chí phân định trung tâm giữa phát huy có chủ thể và thương mại hóa việc khai thác.

Nguy cơ triết học nằm ở tính chất thần bí của hàng hóa: khi sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa, quan hệ xã hội giữa người sản xuất bị che giấu sau quan hệ giữa các vật, khiến giá trị bị lầm tưởng là thuộc tính tự nhiên chứ không phải kết tinh quan hệ xã hội (C.Mác. 2002). Khi giá trị trao đổi lấn át giá trị sử dụng, thành công của lễ hội được đánh giá bằng doanh thu, lượng khách thay vì mức độ thỏa mãn nhu cầu tinh thần thật. Trong phát huy có chủ thể, giá trị sử dụng tinh thần giữ vai trò chi phối; trong thương mại hóa việc khai thác, vị trí chi phối bị đảo ngược. Vì bản thân di sản không mang hình thái hàng hóa, chỉ dịch vụ khai thác mới mang hình thái đó, cách gọi chính xác là thương mại hóa việc khai thác di sản, không phải thương mại hóa di sản. Mâu thuẫn giữa hai loại giá trị chỉ là điều kiện khả năng cho thương mại hóa; dùng phạm trù tha hóa và quan hệ cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng để giải thích cơ chế cụ thể khiến mâu thuẫn đó chuyển hóa thành hiện thực.

4.3. Phạm trù tha hóa và quan hệ cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng

C.Mác phân tích tha hóa qua bốn hình thái gắn với lao động làm thuê: khỏi sản phẩm lao động, khỏi hoạt động lao động, khỏi bản chất loài, khỏi người khác (C.Mác, 2000). Bài viết chỉ vận dụng hình thái thứ nhất, tha hóa khỏi sản phẩm lao động, tức đánh mất quan hệ làm chủ sản phẩm do mình tạo ra khiến nó thành lực lượng xa lạ, theo phép loại suy sang văn hóa, tôn giáo, vì ba hình thái còn lại đặc thù cho quan hệ pháp lý – kinh tế của lao động làm thuê mà cộng đồng tôn giáo không đứng trong đó. Khi cộng đồng để cơ chế thị trường du lịch dần chi phối cách tổ chức nghi lễ của mình, họ trải qua tha hóa văn hóa, đánh mất quan hệ làm chủ đối với di sản tinh thần do nhiều thế hệ tạo dựng.

Học thuyết duy vật lịch sử về cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng cho khung phân tích: toàn bộ quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội, cơ sở dựng lên kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị, ý thức xã hội tương ứng (C.Mác, 1993). Văn hóa, tôn giáo thuộc kiến trúc thượng tầng tinh thần, do cơ sở kinh tế quyết định căn bản nhưng có tính độc lập tương đối. Khi doanh thu du lịch thành nguồn lực áp đảo, cơ sở kinh tế lấn át tính độc lập đó, khiến kiến trúc thượng tầng văn hóa dần định hình lại theo cơ chế kinh tế thay vì quy luật nội sinh – đây là cơ sở cho cơ chế tha hóa văn hóa.

4.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và quyền chủ thể văn hóa của cộng đồng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo không phải sách lược tình thế mà là quan điểm triết học về vị thế cộng đồng tôn giáo: đồng bào tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có quyền được tôn trọng, bảo hộ trong đời sống tín ngưỡng của mình (Hồ Chí Minh, 2011). Quan điểm này xác định đặc trưng cốt lõi của phát huy có chủ thể: cộng đồng tôn giáo không chỉ là bên hưởng lợi mà là chủ thể định hướng của chính quá trình phát huy giá trị văn hóa, tôn giáo mình. Vị thế đó cần được đối chiếu với quan điểm chính thức của Đảng và pháp luật hiện hành để bảo đảm phạm trù đề xuất không mâu thuẫn với khung thể chế đang có; mục 4.5 thực hiện việc đối chiếu đó.

4.5. Quan điểm của Đảng và pháp luật về phát huy giá trị di sản gắn với quyền chủ thể cộng đồng

Văn kiện Đại hội XIII xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển bền vững, gắn với bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời yêu cầu bảo đảm sự tham gia thực chất của Nhân dân trong đời sống văn hóa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Phạm trù phát huy có chủ thể cụ thể hóa nguyên tắc đó thành ba quyền cấu thành và một cơ chế suy thoái nhận diện được về triết học đây là điểm mới về khái niệm và khung phân tích.

Về pháp luật, Điều 3 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định Nhà nước tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng (Quốc hội, 2016); Điều 2 xác lập chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ là chủ thể trực tiếp (Quốc hội, 2016). Điều 1 Luật Di sản văn hóa 2024 quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản (Quốc hội (2024). Hai đạo luật xác lập cộng đồng thực hành tôn giáo là chủ thể có quyền và trách nhiệm với di sản mình, không phải đối tượng thụ động; vấn đề là huy động nguồn lực xã hội phục vụ năng lực cộng đồng, hay khiến cộng đồng thành người làm thuê ngay trong không gian thiêng của mình.

5. Phân tích và thảo luận

5.1. Xây dựng phạm trù phát huy có chủ thể, định nghĩa và cấu trúc nội tại

Phát huy có chủ thể là quá trình xã hội có tổ chức trong đó giá trị văn hóa, tôn giáo của di sản được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đồng thời cộng đồng sở hữu duy trì ba quyền cấu thành: (a) quyền định nghĩa ý nghĩa văn hóa theo hệ thống ý nghĩa nội tại của mình; (b) quyền kiểm soát giới hạn khai thác; (c) quyền hưởng lợi minh bạch, công bằng, ổn định.

Ba quyền tạo cấu trúc nội tại thống nhất; trình tự suy thoái (a)→(b)→(c) luận chứng qua quan hệ nội dung, hình thức: quyền (a) là nội dung, làm nên bản chất quá trình; quyền (b), (c) là hình thức biểu hiện. Khi nội dung bị xâm phạm, hình thức không mất ngay mà tồn tại như vỏ trống rỗng dần, đây là giai đoạn hai của cơ chế tha hóa văn hóa. Điểm phân biệt cốt lõi với thương mại hóa việc khai thác nằm ở vị thế chủ thể của cộng đồng: trong phát huy có chủ thể, nguyên tắc văn hóa nội sinh định hướng hoạt động kinh tế; trong thương mại hóa việc khai thác, quan hệ này bị đảo ngược, làm biến dạng kiến trúc thượng tầng văn hóa.

Cộng đồng sở hữu di sản không đồng nhất, luôn có nhiều nhóm quan điểm. Phạm trù này không giả định đồng thuận tuyệt đối, mà đòi hỏi cơ chế đại diện cho cộng đồng thực hành, theo danh xưng Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ (Quốc hội, 2016), giữ thẩm quyền cuối cùng về ý nghĩa và giới hạn khai thác, chứ không phải bất kỳ cư dân nào gần đó. Cơ chế đại diện phù hợp từng loại hình tôn giáo cần nghiên cứu chuyên biệt thêm.

Một chất vấn có tính nguyên tắc đặt ra ở đây là: liệu cấu trúc ba quyền có thể bị viện dẫn một cách hình thức để hợp thức hóa khai thác, chỉ cần duy trì “tham vấn” cộng đồng trên danh nghĩa? Nguy cơ này là có thật và không thể được loại trừ chỉ bằng việc xác lập khái niệm. Nhưng vì phạm trù được xây trên quan hệ nội dung/hình thức chứ không dừng ở tiêu chí thủ tục: tham vấn hình thức mà không kèm việc cộng đồng thực sự giữ quyền (a) chính là biểu hiện của giai đoạn hai trong cơ chế tha hóa, không phải một trường hợp phát huy có chủ thể. Phạm trù này không loại trừ được khả năng bị lạm dụng, nhưng cho công cụ để gọi tên sự lạm dụng đó.

5.2. Cơ chế tha hóa văn hóa ba giai đoạn

Đóng góp phân tích quan trọng nhất của bài viết là mô tả cơ chế qua đó phát huy có chủ thể suy giảm thành thương mại hóa việc khai thác mà không có vi phạm pháp lý hay quyết định có chủ ý nào. Cơ chế diễn ra qua ba giai đoạn tích lũy về lượng, trên nền mâu thuẫn giữa hai loại giá trị. Giai đoạn một: ý thức thị trường thành khuôn khổ đánh giá mặc định khi doanh thu chi phối. Giai đoạn hai: thực hành bị điều chỉnh theo kỳ vọng du khách, hình thức còn đó nhưng cấu trúc ý nghĩa nội tại đã bắt đầu bị thay. Giai đoạn ba: tha hóa văn hóa biểu hiện đầy đủ, cộng đồng mô tả di sản mình bằng ngôn ngữ thị trường mà không còn nhận ra sản phẩm tinh thần đã thành lực lượng xa lạ, vận hành theo quy luật thị trường chứ không theo quy luật văn hóa nội sinh.

Toàn bộ cơ chế minh họa quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi: mỗi dịch chuyển nhỏ không đủ tạo biến đổi về chất, nhưng tích lũy vượt ngưỡng sẽ dẫn đến bước nhảy. Ngưỡng đó, “độ” theo nghĩa triết học của quy luật lượng – chất, không phải con số kinh tế, mà xác định bằng cấu trúc phạm trù: điểm nút là thời điểm quyền (a) chuyển từ bị thu hẹp (giai đoạn một, hai) sang bị thay thế hoàn toàn bởi tiêu chí ngoại sinh (giai đoạn ba), khi cộng đồng không còn khả năng phục hồi tiêu chí nội sinh. Đây cũng là thời điểm vị trí chi phối trong mâu thuẫn giá trị sử dụng/trao đổi bị đảo ngược hoàn toàn, không thể tự phục hồi nếu không có can thiệp thể chế. Điều này lý giải vì sao tiêu chí pháp lý, thiết kế để phát hiện vi phạm rời rạc, không phù hợp nhận diện một quá trình biến đổi tích lũy: cả ba giai đoạn có thể diễn ra dù mọi chủ thể đều thiện chí, tuân thủ pháp luật, nên cần một phạm trù triết học chuẩn tắc bên cạnh tiêu chí pháp lý, kinh tế.

5.3. Phân biệt phát huy có chủ thể với các khái niệm chính sách gần gũi

Phát huy có chủ thể cần phân biệt với hai khái niệm gần đây: phát triển có sự tham gia, nơi cộng đồng chỉ là đầu vào tham vấn trong quy trình mà mục tiêu đã định trước, không có thẩm quyền quyết định cuối cùng; và quản trị đa bên, nơi tính xác thực xác định qua thương lượng, coi cộng đồng như một bên bình đẳng hình thức với doanh nghiệp, cơ quan quản lý. Phát huy có chủ thể khác biệt ở chỗ xác lập cộng đồng là chủ thể có thẩm quyền văn hóa đặc thù, không thể thay thế hay ủy quyền, phù hợp tinh thần Điều 3 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Quốc hội, 2016).

Ba tiêu chí phân biệt rõ sự khác nhau này. Về vị thế cộng đồng, trong phát triển có sự tham gia hay quản trị đa bên, cộng đồng chỉ là đầu vào tham vấn hoặc một bên thương lượng mang tính hình thức; trong phát huy có chủ thể, cộng đồng là chủ thể xác định ý nghĩa và giới hạn khai thác. Về tiêu chí xác thực, ở hai khái niệm kia, tiêu chí do mục tiêu bên ngoài định trước hoặc do các bên thương lượng với nhau; còn ở phát huy có chủ thể, đó là thẩm quyền văn hóa đặc thù của cộng đồng, không thể ủy quyền cho ai khác. Về nền tảng lý luận, phát triển có sự tham gia và quản trị đa bên dựa trên quản lý học phát triển và quản trị công; phát huy có chủ thể dựa trên duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh.

5.4. Điều kiện thể chế hóa phát huy có chủ thể: từ tha hóa đến phủ định của phủ định

Phát huy có chủ thể không phải lý tưởng không thể đạt được mà là mục tiêu có thể thể chế hóa. Khi khai thác kinh tế vượt ngưỡng khiến tính xác thực suy giảm không thể phục hồi, quá trình đó không còn là khai thác lợi tức từ giá trị sử dụng tinh thần mà tiêu thụ chính nền tảng giá trị đó: giá trị kinh tế của di sản phụ thuộc vào chiều sâu tâm linh mà việc khai thác quá mức đang làm suy giảm, đây là giới hạn tự nhiên của tha hóa văn hóa nếu thiếu can thiệp thể chế.

Luật Di sản văn hóa năm 2024 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã tạo khung pháp lý xác nhận quyền, trách nhiệm của cộng đồng với di sản mình; vấn đề là cụ thể hóa các quyền đó trong từng quyết định quản lý. Kinh nghiệm phục hồi Hát Xoan Phú Thọ, từ danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011 chuyển sang di sản đại diện nhân loại năm 2017 sau khi tỉnh trao quyền, tổ chức truyền dạy cho các phường Xoan gốc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023), minh họa quyền (a), (b) trong cấu trúc ba quyền, không phải lý tưởng trừu tượng, dù chỉ là minh họa khái niệm chứ chưa phải bằng chứng thực nghiệm cho tính phổ quát của mô hình.

Quỹ đạo Hát Xoan minh họa quy luật phủ định của phủ định: trạng thái ban đầu là thực hành nội sinh do các phường Xoan gốc làm chủ (khẳng định); nguy cơ mai một khi tri thức trao truyền suy giảm là phủ định thứ nhất; quá trình phục hồi sau 2011, không quay lại nguyên trạng mà tổ chức lại việc truyền dạy trong khuôn khổ thể chế hóa, ghi danh quốc tế, là phủ định của phủ định: sự vật “xoáy ốc” lên trình độ cao hơn, vừa giữ nội dung cốt lõi vừa thêm hình thức bảo đảm bền vững. Đây là minh họa khả năng đảo ngược tha hóa văn hóa qua can thiệp thể chế đúng hướng, không phải quy luật tất định.

5.5. Hàm ý thực tiễn

Phát huy có chủ thể và quyền chủ thể văn hóa cộng đồng tạo quan hệ điều kiện – nội dung: quyền chủ thể là điều kiện để phát huy có chủ thể thành hiện thực; phát huy có chủ thể là cơ chế hiện thực hóa quyền đó. Đây cũng là một hình thái tự do theo nghĩa triết học: năng lực nhận thức quy luật vận động của việc khai thác di sản và chủ động định hướng theo tiêu chí nội sinh, thay vì bị thị trường chi phối không tự giác. Do đó, đánh giá hiệu quả dự án du lịch di sản tôn giáo không thể dừng ở chỉ tiêu kinh tế mà phải gồm chỉ báo về việc thẩm quyền định nghĩa ý nghĩa có còn trong tay cộng đồng thực hành hay không.

6. Kết luận

Đóng góp cốt lõi của bài viết là chuyển trọng tâm câu hỏi triết học về di sản từ nhận thức luận, tức di sản có còn xác thực hay không, sang bản thể luận, tức ai có thẩm quyền xác lập ý nghĩa của di sản đó. Nhờ đó, ranh giới giữa phát huy thực chất và thương mại hóa việc khai thác hiện ra không phải là một ngưỡng định lượng đo bằng doanh thu hay lượng khách, mà là một quan hệ bản chất, quy luật vận động của việc khai thác di sản còn do cộng đồng thực hành xác lập, hay đã bị thay thế bởi quy luật thị trường ngoại sinh dưới vỏ bọc hình thức tham gia vẫn được duy trì. Đây là công cụ để gọi tên một quá trình suy thoái mà tiêu chí pháp lý, kinh tế, vốn chỉ phát hiện vi phạm rời rạc, không đủ sức nhận diện.

Là một nghiên cứu lý luận thuần túy, bài viết để ngỏ việc thể chế hóa cụ thể phạm trù này, chỉ báo thực chứng để nhận diện ngoài thực địa, và tính khái quát của quỹ đạo phục hồi đã minh họa cho các loại hình di sản khác, những câu hỏi định hướng cho nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023). Cách làm đúng hướng của Phú Thọ trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hát Xoan.
C.Mác (1993). Toàn tập (Tập 13). Lời tựa viết cho tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị. Nxb Chính trị quốc gia.
C. Mác (1995). Luận cương về Phoiơbắc. In trong C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C.Mác (2000). Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844. Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác (2002). Tư bản, quyển I (Toàn tập, tập 23). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2016). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
V.I. Lênin (2006). Toàn tập (Tập 29). (Bút ký triết học). Nxb Chính trị quốc gia.