Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng – Thực trạng và giải pháp

Developing high-quality human resources in Hai Phong city: challenges and policy solutions

ThS. Hoàng Thị Chung
Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng
Email: hoangchungkm@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định các đột phá chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài”. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung nghiên cứu tầm quan trọng và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội địa phương theo định hướng Đại hội XIV của Đảng.

Từ khóa: Nguồn nhân lực; chất lượng cao; phát triển kinh tế – xã hội; Đại hội XIV của Đảng; Hải Phòng.

Abstract: The documents of the Party’s 14th National Congress continue to affirm the strategic breakthroughs for the new development phase, with particular emphasis on the following requirement: “Focus on restructuring and improving the quality of the workforce; develop a high-quality, highly skilled workforce; and intensify efforts to attract and make full use of talent.” Based on this, this article focuses on examining the importance and practical aspects of developing a high-quality workforce in Hai Phong City in the current context; it proposes several solutions aimed at improving the quality of the workforce to meet the requirements for local socio-economic development in line with the direction set by the Party’s 14th National Congress.

Keywords: Human resources; high quality; economic and social development; the 14th Party Congress; Hai Phong.

1. Đặt vấn đề

Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, yêu cầu về nguồn lực luôn có sự thay đổi tương ứng với trình độ phát triển của xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, các nguồn lực, như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học – công nghệ và con người đều giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nguồn lực con người vẫn luôn được xác định là yếu tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội. Thực tiễn cho thấy, một quốc gia dù có nguồn tài nguyên phong phú, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại nhưng nếu thiếu đội ngũ nhân lực có trình độ, năng lực và khả năng tổ chức, khai thác hiệu quả thì khó có thể đạt được sự phát triển bền vững. Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, luôn là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia và địa phương. Quán triệt tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,  với việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở số lượng mà còn phải chú trọng đến chất lượng, cơ cấu hợp lý và khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của khoa học – công nghệ và thị trường lao động.

Đối với thành phố Hải Phòng, trung tâm kinh tế, công nghiệp và logistics quan trọng của khu vực phía Bắc, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh thành phố đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế số. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần đưa các chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của thành phố trong giai đoạn mới.

2. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao qua các kỳ Đại hội

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang mô hình dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Trong xu thế đó, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, ngày càng trở thành yếu tố có tính quyết định đối với năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhận thức rõ điều này, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội.

Trong tiến trình lãnh đạo đất nước, tư duy của Đảng về phát triển nguồn nhân lực không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, gắn với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Ngay từ Đại hội VIII (1996), Đảng đã khẳng định phát triển con người là yếu tố nền tảng bảo đảm cho tăng trưởng nhanh và bền vững, đồng thời, nhấn mạnh việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng con người Việt Nam là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Đảng Cộng sản Việt Nam,1996).

Đến Đại hội X, trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng tiếp tục đề ra chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo, coi đây là giải pháp trọng tâm để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, nhấn mạnh việc chuyển hướng phát triển nguồn nhân lực từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng; tăng cường gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thực tiễn; thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài và đội ngũ chuyên gia đầu ngành (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006).

Bước sang Đại hội XI, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được xác định là một trong ba đột phá chiến lược. Đảng khẳng định đây là yếu tố then chốt góp phần thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ, tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiệu quả, bền vững; đồng thời là lợi thế cạnh tranh quan trọng của quốc gia trong bối cảnh hội nhập (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011).

Tại Đại hội XII, quan điểm này tiếp tục được kế thừa và phát triển với yêu cầu triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nhân lực gắn với thực tiễn và nhu cầu thị trường lao động (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016).

Đến Đại hội XIII, tư duy phát triển con người được nâng lên một bước mới, khi Đảng xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, đồng thời là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Việc phát triển toàn diện con người Việt Nam, gắn với phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh nội sinh, được coi là nền tảng bảo đảm cho phát triển bền vững. Đồng thời, Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, như công nghệ, quản trị và kinh tế số, nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).

Kế thừa và phát triển các quan điểm nêu trên, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân lực trong mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết Đại hội xác định rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Một trong ba đột phá chiến lược được xác định trong nhiệm kỳ là: “tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Như vậy, quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để các địa phương, trong đó có thành phố Hải Phòng, xây dựng và triển khai các chính sách phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

3. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển đất nước và địa phương hiện nay

Khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu xét về phương diện số lượng, nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng tham gia vào quá trình sản xuất xã hội. Ở góc độ chất lượng, nguồn nhân lực được hiểu là tổng hòa các yếu tố về thể chất, trí tuệ, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất của người lao động.

Trên cơ sở đó, nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là bộ phận tinh hoa của lực lượng lao động, bao gồm những cá nhân có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng nghề nghiệp vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng sáng tạo và thích ứng nhanh với sự biến đổi của môi trường kinh tế – xã hội. Đây chính là lực lượng nòng cốt giữ vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt như quản lý nhà nước, khoa học – công nghệ, sản xuất kinh doanh và đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh hiện nay, khi toàn cầu hóa và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng được khẳng định rõ rệt. Tinh thần Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng, qua đó cho thấy, đây không chỉ là một định hướng mà còn là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển đất nước. Đó là:

Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Trong hệ thống các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất và khoa học – công nghệ, con người luôn là yếu tố trung tâm, có khả năng chi phối và quyết định hiệu quả khai thác các nguồn lực còn lại. Không giống như tài nguyên hữu hạn, nguồn lực con người, đặc biệt là trí tuệ và khả năng sáng tạo, có thể được bồi dưỡng và phát triển không ngừng, trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững của mỗi quốc gia.

Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố then chốt bảo đảm thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế dựa vào lao động giản đơn sang nền kinh tế dựa trên công nghệ và tri thức đòi hỏi đội ngũ lao động phải được đào tạo bài bản, có kỹ năng chuyên môn và khả năng tiếp cận công nghệ mới. Điều này càng khẳng định vai trò không thể thay thế của nguồn nhân lực chất lượng cao trong việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất.

Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò trung tâm trong phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới mô hình tăng trưởng. Khi khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì chính con người là chủ thể sáng tạo, làm chủ và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực quyết định trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng chuyển đổi số và mức độ phát triển của nền kinh tế.

Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng để hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà chuyển sang dựa vào tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, việc phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ cao, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế là yếu tố quyết định để tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với thành phố Hải Phòng, một cực tăng trưởng quan trọng của vùng Đồng bằng sông Hồng, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên nổi bật. Trong quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, trung tâm logistics và cảng biển quốc tế, thành phố đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ cao, kỹ năng chuyên sâu và khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu của nền kinh tế số. Do đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là yếu tố quyết định đến tốc độ và chất lượng phát triển của thành phố trong giai đoạn tới.

4. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng

Việc đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng cần được tiếp cận toàn diện trên ba phương diện cơ bản: quy mô, chất lượng và cơ cấu. Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ, nguồn nhân lực của thành phố đã có những chuyển biến tích cực. Đồng thời, có những hạn chế, bất cập đan xen, đó là:

Thứ nhất, về quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thực tiễn phát triển kinh tế cho thấy, Hải Phòng đang nổi lên là một cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng với tốc độ công nghiệp hóa nhanh. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực chính, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,6%, phản ánh xu hướng mở rộng quy mô sản xuất và nhu cầu gia tăng đối với lao động kỹ thuật, lao động có trình độ cao trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo .

Song song với đó, việc mở rộng không gian công nghiệp thông qua hệ thống các khu, cụm công nghiệp đã tạo ra áp lực lớn về cung ứng nguồn nhân lực. Theo báo cáo, toàn thành phố hiện có khoảng 40 khu công nghiệp với tổng diện tích trên 11.200 ha, cùng hàng chục cụm công nghiệp đang hoạt động và tiếp tục mở rộng . Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển lực lượng lao động không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng, đặc biệt là lao động kỹ thuật cao, quản trị sản xuất và công nghệ.

Ở khu vực nông nghiệp, mặc dù tỷ trọng giảm dần trong cơ cấu kinh tế, song vẫn đóng vai trò đảm bảo ổn định xã hội. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng khoảng 4,45% so với cùng kỳ, cho thấy lực lượng lao động trong khu vực này vẫn duy trì ổn định . Tuy nhiên, cơ cấu lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ đáng kể, trong khi trình độ chuyên môn và khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ còn hạn chế, đặt ra yêu cầu chuyển dịch lao động theo hướng hiện đại hóa (UBND thành phố Hải Phòng, 2025).

Thứ hai, về chất lượng nguồn nhân lực

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hải Phòng hình thành hệ thống cơ sở giáo dục đại học tương đối đa dạng, bao gồm cả trường công lập và ngoài công lập, với các lĩnh vực đào tạo đặc thù gắn với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Các trường đại học tiêu biểu, như: Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Hải Dương, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, Trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (tiền thân Đại học Dân lập Hải Phòng). Hàng năm, hệ thống các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn thành phố Hải Phòng đào tạo một lượng lớn nguồn nhân lực, đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng lao động cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

Xét riêng từng cơ sở đào tạo lớn, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện là cơ sở đào tạo quy mô lớn nhất tại Hải Phòng với khoảng 25.959 sinh viên chính quy, đào tạo 31 ngành đại học, 11 ngành thạc sĩ và 8 ngành tiến sĩ . Quy mô này cho thấy mỗi năm nhà trường cung cấp hàng nghìn kỹ sư, cử nhân trong các lĩnh vực hàng hải, logistics, cơ khí và công nghệ, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế biển – lĩnh vực mũi nhọn của thành phố (Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, 2024).

Đối với Trường Đại học Hải Phòng, quy mô đào tạo hiện đạt trên 15.000 – 20.000 sinh viên, học viên các hệ, với định hướng tiếp tục mở rộng trong giai đoạn tới . Theo số liệu giai đoạn 2019 – 2024, tổng số tuyển sinh chính quy của trường đạt hơn 18.600 sinh viên, cho thấy trung bình mỗi năm trường tuyển mới khoảng 3.000 – 4.000 sinh viên. Ngoài ra, tổng quy mô đào tạo tích lũy của Trường Đại học Hải Phòng trong các hệ đạt gần 90.500 người học (Trường Đại học Hải Phòng, 2024), phản ánh vai trò quan trọng của cơ sở này trong đào tạo nguồn nhân lực đa ngành cho địa phương.

Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo khác, như: Trường Đại học Y Dược Hải Phòng và Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng tuy quy mô nhỏ hơn nhưng lại có tính chuyên môn hóa cao, mỗi năm cung cấp hàng nghìn nhân lực trong các lĩnh vực y tế, kinh tế, công nghệ và dịch vụ.

Tổng hợp từ các cơ sở đào tạo chủ lực, có thể ước tính rằng mỗi năm hệ thống giáo dục đại học tại Hải Phòng đào tạo và cung ứng ra thị trường lao động hàng chục nghìn sinh viên, học viên, trong đó riêng hai cơ sở lớn (Đại học Hàng hải và Đại học Hải Phòng) đã chiếm phần lớn quy mô đào tạo. Có thể thấy, quy mô đào tạo nguồn nhân lực tại Hải Phòng đang có xu hướng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, phù hợp với vai trò của thành phố là trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics của miền Bắc. Tuy nhiên, thách thức đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô mà còn phải nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, kinh tế số và quản trị hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Chất lượng nguồn nhân lực của Hải Phòng trong những năm qua đã có sự cải thiện nhất định, thể hiện ở việc nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tiếp cận công nghệ. Một bộ phận lao động đã có thể tham gia vào các dây chuyền sản xuất hiện đại, đặc biệt trong các doanh nghiệp FDI.

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Tình trạng thiếu hụt lao động có tay nghề cao, kỹ năng chuyên sâu vẫn diễn ra phổ biến, đặc biệt trong các ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Thực trạng này tương đồng với bức tranh chung của cả nước khi “lao động có tay nghề cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường”.

Bên cạnh đó, những hạn chế về kỹ năng mềm, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc quốc tế vẫn là rào cản lớn đối với quá trình hội nhập. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp còn khá lớn, dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu quả sử dụng lao động.

Thứ ba, về phát triển nguồn nhân lực trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm

Trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất và hiệu quả sản xuất có sự cải thiện rõ rệt, với năng suất lúa đạt trên 67,5 tạ/ha, sản lượng nhiều loại cây trồng tăng cao. Tuy nhiên, điều này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sản xuất và điều kiện tự nhiên thuận lợi, trong khi việc ứng dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế.

Trong lĩnh vực thủy sản, diện tích nuôi trồng đạt khoảng 19.344 ha, sản lượng ước đạt trên 142.000 tấn, cùng với các hoạt động tái tạo nguồn lợi như thả gần 1 triệu con giống thủy sản tại Cát Bà. Những con số này cho thấy tiềm năng phát triển lớn của kinh tế biển, đồng thời, đặt ra yêu cầu cao về nguồn nhân lực có chuyên môn trong quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển.

Đặc biệt, trong lĩnh vực công nghiệp, sự xuất hiện của các dự án lớn, như LG Innotek, Biel Crystal, Boviet… đã tạo ra nhu cầu rất lớn về lao động chất lượng cao, nhất là trong các ngành điện tử, cơ khí chính xác và công nghệ cao. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực tại chỗ còn hạn chế, buộc nhiều doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động từ các địa phương khác hoặc lao động nước ngoài.

Thứ tư, về chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhằm khắc phục những hạn chế trên, Hải Phòng đã ban hành nhiều chính sách đột phá trong thu hút và trọng dụng nhân tài. Theo Nghị quyết số 53 của Hội đồng nhân dân thành phố, các đối tượng có trình độ cao được hưởng các chính sách ưu đãi vượt trội, như: hỗ trợ một lần từ 150 triệu – 500 triệu đồng, hỗ trợ thu nhập lên đến 3 – 4 lần mức lương tối thiểu vùng, cùng các chính sách về đào tạo, nhà ở và điều kiện làm việc. Đặc biệt, thành phố còn triển khai cơ chế “đặt hàng” chuyên gia, nhà khoa học với mức thu nhập từ 30 – 100 triệu đồng/tháng, tạo điều kiện thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia trực tiếp vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội. Đây là bước đi phù hợp với định hướng của Đại hội XIV của Đảng về “đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài”. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và mức độ cạnh tranh giữa các địa phương (HĐND thành phố Hải Phòng, 2025).

Có thể thấy, thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Hải Phòng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế cao và mở rộng không gian công nghiệp. Tuy nhiên, những hạn chế về chất lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động vẫn là những “điểm nghẽn” cần sớm tháo gỡ. Điều này đòi hỏi thành phố phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu quả triển khai nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

5. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Xuất phát từ những hạn chế đã phân tích ở trên, việc xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Hải Phòng cần được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương và định hướng phát triển theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Một là,đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển của Hải Phòng.

Trước hết, cần tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng đào tạo, coi đây là nền tảng cốt lõi để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đổi mới không chỉ dừng ở nội dung chương trình mà phải thực hiện đồng bộ từ phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đến cơ chế quản lý giáo dục. Theo Nghị quyết số 71-NQ/TW “Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nưng lực trình độ ca, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo” (Bộ Chính trị, 2024). Đặc biệt giáo dục đào tạo phải bảo đảm: “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực hành” của Đảng, cần chuyển từ đào tạo nặng về lý thuyết sang phát triển năng lực toàn diện, chú trọng kỹ năng thực hành, khả năng sáng tạo và thích ứng với thị trường lao động.

Đối với Hải Phòng, cần tập trung điều chỉnh cơ cấu ngành đào tạo theo hướng phục vụ trực tiếp các lĩnh vực mũi nhọn, như: công nghiệp chế biến – chế tạo, logistics, kinh tế biển, công nghệ cao và y tế. Đồng thời, đẩy mạnh mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp, khu công nghiệp và khu kinh tế để giảm tình trạng “đào tạo không gắn với sử dụng”.

Hai là, gắn phát triển nguồn nhân lực với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, với quan điểm chỉ đạo: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội” (Bộ Chính trị, 2024), một trong những yêu cầu cốt lõi được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng là phát triển nguồn nhân lực phải đi đôi với phát triển khoa học – công nghệ, coi đây là động lực then chốt của tăng trưởng. Đối với Hải Phòng, trung tâm công nghiệp và logistics lớn, cần ưu tiên xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, các trường đại học và viện nghiên cứu là lực lượng nòng cốt. Thành phố cần tập trung: hình thành các trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực số; khuyến khích liên kết “Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp”. Việc này không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn giúp chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế tri thức, kinh tế số như định hướng Đại hội XIV của Đảng.

Ba là,hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt nhân lực chất lượng cao là cơ chế sử dụng và đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn. Vì vậy, Hải Phòng cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách thu hút nhân tài theo hướng: Xây dựng cơ chế tuyển dụng linh hoạt, cạnh tranh, minh bạch; gắn thu nhập với hiệu quả công việc và năng lực thực tế; tạo môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp. Đặc biệt, cần triển khai hiệu quả các chính sách đã ban hành theo Nghị quyết của thành phố, đồng thời, mở rộng đối tượng thu hút sang các lĩnh vực mới như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, logistics thông minh. Việc sử dụng đúng người, đúng việc, đúng năng lực là yếu tố quyết định để tránh tình trạng lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao và hạn chế “chảy máu chất xám” .

Bốn là,nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, dự báo và phát triển nguồn nhân lực. Một hạn chế lớn hiện nay là công tác dự báo nhu cầu nhân lực chưa sát với thực tế, dẫn đến mất cân đối cung – cầu lao động. Do đó, Hải Phòng cần: Xây dựng hệ thống dữ liệu về thị trường lao động; dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, lĩnh vực và giai đoạn; gắn quy hoạch nhân lực với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Việc chủ động trong quy hoạch sẽ giúp thành phố có chiến lược đào tạo phù hợp, tránh tình trạng dư thừa lao động phổ thông nhưng thiếu lao động kỹ thuật cao.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với xây dựng con người Hải Phòng hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ được đánh giá qua trình độ chuyên môn mà còn ở phẩm chất, đạo đức và ý thức trách nhiệm xã hội. Theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng và tiếp tục được kế thừa tại Đại hội XIV, cần khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí vươn lên và phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam. Đối với Hải Phòng, cần xây dựng hình ảnh con người lao động có kỷ luật, tác phong công nghiệp; có tinh thần đổi mới sáng tạo; có ý thức hội nhập quốc tế. Đồng thời, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa trong cơ quan, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, tạo nền tảng phát triển bền vững nguồn nhân lực.

Sáu là, đẩy mạnh liên kết vùng và hội nhập quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực

Sau sáp nhập, không gian phát triển của Hải Phòng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực theo hướng liên kết vùng. Thành phố cần tăng cường liên kết đào tạo với các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng; mở rộng hợp tác quốc tế với các trường đại học, viện nghiên cứu; thu hút chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đưa Hải Phòng trở thành trung tâm đào tạo và cung ứng nhân lực chất lượng cao của khu vực. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Hải Phòng cần được triển khai theo hướng đồng bộ, hiện đại, gắn với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của thành phố và tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với khoa học – công nghệ, hoàn thiện cơ chế sử dụng và đãi ngộ nhân tài, đồng thời phát huy yếu tố con người như một động lực nội sinh quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững.

6. Kết luận

Trong bối cảnh Hải Phòng đang phát triển nhanh theo hướng trung tâm công nghiệp, logistics và kinh tế biển của cả nước, những “điểm nghẽn” về nguồn nhân lực đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có giải pháp mang tính đột phá. Dù đã đạt được những kết quả nhất định, song nguồn nhân lực của Hải Phòng, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Tình trạng thiếu lao động có trình độ, kỹ năng cao trong các ngành then chốt vẫn tồn tại, trong khi lao động giản đơn còn chiếm tỷ lệ lớn; chất lượng đào tạo và cơ cấu ngành nghề chưa thật sự phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là khâu đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững của Hải Phòng trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.21, 85.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.213.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Tài liệu nghiên cứu Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.130.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Tài liệu học tập Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.295-296.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 99, 215-216.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.388.
HĐND thành phố Hải Phòng (2025). Nghị quyết số 53/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 về chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng và nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (2024). Báo cáo thường niên và thông tin tuyển sinh.
Trường Đại học Hải Phòng (2024). Báo cáo tổng kết công tác đào tạo giai đoạn 2019 – 2024.
UBND thành phố Hải Phòng (2025). Báo cáo số 248/BC-UBND về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025 của thành phố Hải Phòng.