Khung năng lực số của công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường tại TP. Hồ Chí Minh

A digital competency framework for civil servants at ward-level public administrative service centers in Ho Chi Minh City

TS. Lê Thị Phương Thảo
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
Email: thaoltp@apag.edu.vn
Email: hantt@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đưa vào vận hành Trung tâm Phục vụ hành chính công phường, năng lực số trở thành yêu cầu thiết yếu đối với đội ngũ công chức. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật, khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm và thực tiễn hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công, bài viết đề xuất khung năng lực số dành cho công chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hoạt động quản trị nhân lực của tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công.

Từ khóa: Khung năng lực; khung năng lực số; công chức; Trung tâm Phục vụ hành chính công phường; chính quyền địa phương hai cấp; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: In the context of Ho Chi Minh City’s implementation of the two-tier local government model and the establishment of Ward Public Service Centers, digital competency has become a fundamental requirement for public officials to effectively support digital transformation and enhance the quality of public service delivery. This study proposes a digital competency framework for public officials working at Ward Public Service Centers by analyzing the relevant legal regulations, existing competency frameworks, job descriptions, and the operational requirements of these centers. The proposed framework comprises core digital competency domains aligned with job positions and organizational needs, providing a foundation for recruitment, training, performance evaluation, and professional development.

Keywords: Competency framework; digital competency framework; public officials; Ward Public Service Center; two-tier local government; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Sau hơn hai thập niên cải cách hành chính, mỗi bước điều chỉnh mô hình tổ chức chính quyền ở Việt Nam đều đặt ra yêu cầu tái định nghĩa vai trò và năng lực của đội ngũ công chức. TP. Hồ Chí Minh, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, còn 168 phường, xã, đặc khu và đưa vào vận hành đồng bộ các trung tâm phục vụ hành chính công cấp cơ sở. Mô hình này vừa thay đổi cách thức tổ chức bộ máy, vừa tạo ra kênh giao diện chính giữa chính quyền và công dân, nơi phần lớn tương tác hành chính được thực hiện thông qua các quy trình một cửa và nền tảng dịch vụ công trực tuyến.

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền hai cấp, kết quả bước đầu rất tích cực. Báo cáo giám sát của Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh (đợt 1 năm 2026) ghi nhận: tổng số hồ sơ tiếp nhận tại 168 Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, phường, đặc khu là 751.569 hồ sơ, trong đó 700.836 hồ sơ trực tuyến (chiếm 93,2%); 750.447 hồ sơ đúng và trước hạn (99,8%); qua khảo sát 7.718 phiếu, tỷ lệ “rất hài lòng” và “hài lòng” đạt trên 99% (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026). Nhiều phường không phát sinh hồ sơ trễ hạn, như: Bến Cát, Cầu Kiệu, Bình Tân, Tân Thành, Đức Nhuận, An Hội Tây, Thới Hòa; nhiều địa phương đạt 100% hồ sơ trực tuyến, như: xã Xuân Sơn, Ngãi Giao, phường Bình Tân, An Hội Đông, An Đồng, Bình Quới, Tân Mỹ, Phú Mỹ, Tam Thắng (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026).

Song song với các chỉ số định lượng tích cực, các báo cáo kiểm tra chuyên đề tại một số Trung tâm Phục vụ hành chính công phường cũng chỉ ra những giới hạn về nhân lực trong giai đoạn đầu triển khai mô hình mới. Ở một số địa bàn, như: phường An Hội Đông, Diên Hồng, Phú Mỹ, Gò Vấp, việc chuyển đổi hệ thống công nghệ thông tin chưa đi đôi với công tác chuẩn bị năng lực vận hành; hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của các bộ, ngành được triển khai trong thời gian ngắn, trong khi cán bộ, công chức chưa được tập huấn nên còn lúng túng trong tiếp nhận và giải quyết hồ sơ (Báo cáo kiểm tra chuyên đề, 2026). Nếu tiếp cận năng lực công chức chủ yếu qua các tiêu chí truyền thống (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, kỹ năng hành chính chung) mà chưa bổ sung các thành phần của năng lực số thì khó bảo đảm tính bền vững cho những kết quả cải cách đạt được trong năm đầu vận hành mô hình chính quyền hai cấp.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, đề xuất khung năng lực số của công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường có ý nghĩa không chỉ ở cấp độ kỹ thuật quản trị nhân lực mà còn ở cấp độ bảo đảm chất lượng vận hành mô hình chính quyền mới. Trên cơ sở phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khung vị trí việc làm hiện hành của TP. Hồ Chí Minh và các kết quả bước đầu sau một năm triển khai mô hình chính quyền hai cấp, bài viết hướng tới xác định các thành tố chủ yếu của năng lực số đối với công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường; từ đó, đề xuất khung năng lực số làm căn cứ cho các hoạt động quản trị nhân lực của Trung tâm trong giai đoạn tới.

2. Cơ sở lý luận về khung năng lực số của công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường

Khung năng lực (Competency Framework) được hiểu là bản mô tả tất cả các năng lực cần có để thực thi thành công các công việc của một vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức. Cụ thể hơn, khung năng lực là hệ thống cụ thể hóa các hành vi cần thiết của các năng lực ở các mức, cấp độ khác nhau, áp dụng với các vị trí việc làm khác nhau trong tổ chức nhằm hoàn thành tốt các vai trò, nhiệm vụ của vị trí việc làm (Dubois, Rothwell, Stern, & Kemp, 2004).

Về mặt cấu trúc, khung năng lực bao gồm ba thành phần cơ bản: (1) Tên năng lực, phản ánh lĩnh vực hoạt động chính hoặc chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của vị trí việc làm; (2) Định nghĩa năng lực, mô tả khái quát nội hàm của năng lực, bao gồm: các hành vi, kỹ năng và hoạt động cần thực hiện để đạt được kết quả mong muốn; (3) Các cấp độ năng lực, thể hiện mức độ phát triển năng lực của công chức, được sắp xếp theo trật tự tăng dần về kiến thức, kỹ năng, thái độ và mức độ làm chủ công việc; đạt được cấp độ năng lực cao hàm ý công chức đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các cấp độ thấp hơn.

Từ đó có thể hiểu, khung năng lực là hệ thống được xây dựng có chủ đích nhằm xác định, mô tả và chuẩn hóa các năng lực cần thiết của con người trong thực hiện công việc, trong đó năng lực là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi và các đặc tính cá nhân, có thể quan sát, đo lường và đánh giá được. Khung năng lực làm rõ người thực hiện công việc cần làm được gì, ở mức độ nào, thông qua các cấp độ năng lực gắn với vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức.

Trên cơ sở tiếp cận khung năng lực là công cụ quản trị nhân sự theo năng lực, trong bối cảnh chuyển đổi số khu vực công, khái niệm khung năng lực số được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức thực thi công vụ và cung ứng dịch vụ công trên môi trường số. Khung năng lực số của công chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường là hệ thống các năng lực số cần thiết, được xác định và cấu trúc hóa một cách có hệ thống, nhằm bảo đảm công chức thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ tại bộ phận “một cửa” trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu số và các nền tảng số của chính quyền.

Khung năng lực số không chỉ giới hạn ở khả năng sử dụng các công cụ công nghệ mà bao hàm tổng hợp các yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi trong môi trường số, gắn với đặc thù hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công phường là nơi trực tiếp tiếp nhận, xử lý và trả kết quả thủ tục hành chính cho người dân và tổ chức. Theo cách tiếp cận của OECD (2021), năng lực số của công chức khu vực công cần được xem xét là thành tố cấu thành năng lực công vụ hiện đại, gắn với hiệu quả thực thi chính sách, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương của Đảng về xây dựng chính phủ số, chính quyền số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Từ các phân tích trên, có thể xác định: khung năng lực số của công chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường là bản mô tả các năng lực số cần thiết, bao gồm: kiến thức số, kỹ năng số và thái độ, nhận thức số, theo các yêu cầu và các cấp độ từ cơ bản đến nâng cao đối với vị trí công chức chuyên môn thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường. Đây là nền tảng lý luận để nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ công chức trong giai đoạn hiện nay.

Về phương diện thể chế, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường được hình thành trên cơ sở quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và Thông tư số 03/2025/TT-VPCP của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số nội dung của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Văn phòng Chính phủ, 2025). Theo các văn bản này, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường là đơn vị tham mưu và thực hiện theo thẩm quyền việc tổ chức tiếp nhận, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, giám sát quy trình giải quyết thủ tục hành chính; đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; đồng thời, là đầu mối triển khai, hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ, lưu trữ điện tử và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cấp, các cơ quan liên quan.

Nhiệm vụ của Trung tâm Phục vụ hành chính công phường không chỉ giới hạn ở việc “nhận – trả hồ sơ” theo nghĩa truyền thống mà bao trùm cả chu trình nghiệp vụ trên môi trường số: từ công khai, minh bạch quy trình; hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến; giám sát thời hạn giải quyết qua hệ thống một cửa điện tử; đến việc tổng hợp, phân tích dữ liệu phục vụ cải thiện chất lượng phục vụ. Từng vị trí công chức trong Trung tâm Phục vụ hành chính công vì thế phải đảm nhiệm đồng thời ba lớp vai trò: chuyên viên hành chính, nhân viên dịch vụ công và chủ thể tham gia hệ thống số trong hệ thống chính quyền điện tử, chính quyền số ở cấp cơ sở.

3. Năng lực số qua bản mô tả vị trí việc làm và thực tiễn hoạt động tại Trung tâm Phục vụ hành chính công

Tính đến tháng 5/2026, các phường tại TP. Hồ Chí Minh đã hoàn thành xây dựng Đề án vị trí việc làm theo Hướng dẫn số 8582/HD-SNV ngày 07/11/2025 của Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh về xây dựng Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức trong cơ quan, tổ chức hành chính. Ngày 14/3/2026, Giám đốc Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh đã ký Quyết định số 243/QĐ-SNV phê duyệt vị trí việc làm tại các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân 168 xã, phường, đặc khu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh, 2026).

Theo Quyết định số 243/QĐ-SNV, vị trí việc làm được ban hành có tên “Chuyên viên về thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính, thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, theo dõi việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Ủy ban nhân dân cấp xã”. Khung năng lực của công chức ở vị trí này được quy định gồm bảy nhiệm vụ: (1) Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình, đề án, dự án; (2) Kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản; (3) Thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; (4) Phối hợp thực hiện; (5) Thực hiện nhiệm vụ chung, hội họp; (6) Xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác năm, quý, tháng, tuần của cá nhân; (7) Thực hiện các nhiệm vụ khác do trưởng phòng giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cũng theo Bản mô tả vị trí việc làm này, để bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, công chức chuyên môn cần các nhóm năng lực, gồm: năng lực chung, như: tổ chức thực hiện công việc, soạn thảo và ban hành văn bản, giao tiếp ứng xử… được yêu cầu ở cấp độ 1 – 2; năng lực chuyên môn, như: khả năng tham mưu xây dựng văn bản, hướng dẫn thực hiện văn bản, kiểm tra thực hiện văn bản, thẩm định văn bản… được yêu cầu ở cấp độ 2 – 3. Trong nhóm năng lực chung có “năng lực về công nghệ thông tin” với mức độ thành thạo “theo yêu cầu của cơ quan quản lý”.

Cách thể hiện này cho thấy, Bản mô tả vị trí việc làm hiện hành tuy đã đề cập đến yếu tố số, nhưng chủ yếu ở bình diện công cụ, thiên về “sử dụng công nghệ thông tin” như một kỹ năng bổ trợ cho công việc hành chính thông thường. Trong khi đó, thực tiễn hoạt động sau một năm triển khai mô hình chính quyền hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, yêu cầu năng lực số đối với công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường đã trở nên cao hơn và phong phú hơn đáng kể so với các quy định hiện hành. Nhiều đơn vị đã chủ động triển khai các mô hình có hàm lượng công nghệ cao, như: mô hình “Trợ lý số nghiệp vụ hành chính công” trên nền tảng NotebookLM tại phường An Nhơn; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) kiểm tra thành phần hồ sơ và chatbot giải đáp thắc mắc tại phường An Lạc, An Hội Đông; mô hình thanh toán trực tuyến bằng FaceID sử dụng công nghệ AI tại xã Nghĩa Thành; phát triển Zalo Mini App cung cấp tính năng đăng ký lịch hẹn, tra cứu tiến độ có định vị tại phường Thủ Đức (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026). Đây là những minh chứng cho thấy, công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường không chỉ cần “biết sử dụng công nghệ thông tin” mà phải có khả năng vận hành, khai thác dữ liệu, tương tác qua các nền tảng số và tích hợp AI vào quy trình công vụ.

Ngược lại, ở những địa bàn năng lực số chưa theo kịp, hạn chế biểu hiện tương đối rõ nét. Việc chuyển đổi hệ thống công nghệ thông tin chưa đi đôi với công tác chuẩn bị năng lực vận hành; thiết kế phần mềm tại một số bộ phận chưa hoàn thiện, đặc biệt là tính năng phân quyền quản trị và thống kê số liệu cho các đầu mối phụ trách tại địa phương; việc thiếu các công cụ trích xuất dữ liệu thông minh khiến công tác tổng hợp thông tin gặp nhiều rào cản, được ghi nhận tại phường An Hội Đông, Diên Hồng, Gò Vấp, Phú Mỹ (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026). Điều này cho thấy, với chức năng là đầu mối tổ chức và giám sát toàn bộ quy trình một cửa, một cửa liên thông; đồng thời, triển khai, hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến và số hóa hồ sơ, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường đòi hỏi năng lực số trở thành một trụ cột trong khung năng lực của công chức, gắn với toàn bộ chuỗi giá trị dịch vụ công trên môi trường số.

4. Đề xuất khung năng lực số cho công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường tại TP. Hồ Chí Minh

4.1. Nguyên tắc thiết kế khung năng lực số

Thứ nhất, bảo đảm tính tương thích với cấu trúc khung năng lực theo vị trí việc làm mà TP. Hồ Chí Minh đã ban hành, tức duy trì ba nhóm năng lực chung, chuyên môn và quản lý, nhưng tích hợp các thành phần của năng lực số vào từng nhóm rõ ràng, đo lường được.

Thứ hai, bám sát chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm Phục vụ hành chính công phường theo quy định về cơ chế một cửa, một cửa liên thông, coi năng lực số không chỉ là kỹ năng hỗ trợ mà là điều kiện đủ để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, theo dõi ứng dụng công nghệ thông tin tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường.

Thứ ba, bảo đảm tính khả thi, có thể áp dụng từng bước, gắn với điều kiện hạ tầng công nghệ và trình độ đội ngũ hiện nay tại 113 Trung tâm Phục vụ hành chính công phường trong tổng số 168 đơn vị hành chính cấp xã của TP. Hồ Chí Minh.

4.2. Khung năng lực số của công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường

Trên cơ sở Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung kỹ năng số cơ bản dành cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (Phiên bản 1.0) (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025); Quyết định số 243/QĐ-SNV ngày 14/3/2026 của Giám đốc Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh phê duyệt vị trí việc làm tại các cơ quan chuyên môn, thuộc UBND 168 xã, phường, đặc khu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh, 2026); đồng thời, tham khảo, phân tích khung năng lực số của một số tổ chức, quốc gia trên thế giới, nhóm nghiên cứu đề xuất khung năng lực số cho công chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường gồm hai thành tố chính:

(1) Kiến thức số và thái độ số: nhận thức về chuyển đổi số; nhận thức về công nghệ số; nhận thức về AI.

(2) Kỹ năng số: vận hành thiết bị và phần mềm; khai thác thông tin và dữ liệu; giao tiếp trên môi trường số; an toàn và an ninh số; giải quyết các vấn đề về kỹ thuật số.

Bảng 1. Khung năng lực số của công chức thuộc Trung tâm PVHCC phường

STTTên nhómKiến thức/thái độ thành phầnMô tảYêu cầu cần đạtMức độ
11. Kiến thức số và thái độ số1.1. Nhận thức về chuyển đổi sốĐịnh hướng, quan điểm và các chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Các xu hướng chuyển đổi số trong quản lý nhà nướcNắm vững các định hướng, quan điểm về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cập nhật các văn bản mới nhấtThành thạo
 1.2. Nhận thức về công nghệ số– Các xu hướng công nghệ số phổ biến trong khu vực công – Định hướng phát triển các công nghệ số chiến lượcHiểu xu hướng công nghệ số được ứng dụng trong khu vực công; Nhận thức về tiềm năng, thách thức khi ứng dụng công nghệ số; Cập nhật thường xuyên kiến thức về công nghệ mớiCơ bản
 1.3. Nhận thức về trí tuệ nhân tạo (AI)– Khái niệm cơ bản về AI – Các ứng dụng AI phổ biến – Đạo đức và pháp lý liên quan đến AIHiểu biết cơ bản về AI và loại AI; Biết các ứng dụng AI phổ biến để hỗ trợ công việc; Biết các vấn đề cơ bản về đạo đức, các quy định pháp lý liên quan đến ứng dụng AI trong công việcCơ bản
22. Vận hành thiết bị và phần mềm  2.1. Vận hành thiết
bị công nghệ 2.2. Sử dụng các phần mềm
 Khả năng sử dụng thành thạo các thiết bị công nghệ và phần mềm trong công việc  Biết cách vận hành và khắc phục sự cố của các đơn giản của máy tính: hết mực in, giắt giấy in, diệt virus… Biết cách sử dụng các phần mềm quản lý tài liệu và các ứng dụng chuyên ngành khácThành thạo
33. Khai thác dữ liệu và thông tin  Xác định thông tin Tìm kiếm và chọn lọc dữ liệu Xác minh độ tin cậy, chính xác của thông tin và dữ liệu –  Quản lý thông tin, dữ liệu – Sử dụng thông tin, dữ liệu    Hiểu những thông tin được yêu cầu và truy xuất dữ liệu, thông tin và nội dung số. Đánh giá mức độ tin cậy của nguồn và nội dung của thông tin. Để lưu trữ, quản lý và sắp xếp dữ liệu, thông tin và nội dung sốNhận diện và xác định chính xác các loại thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ công việc – Hiểu được mục đích, sử dụng phương pháp tìm kiếm phù hợp để lựa chọn nội dung một cách hiệu quả – Phân tích, so sánh và đán giá được độ tin cậy của nguồn dữ liệu, thông tin và nội dung số. Để phân tích, giải thích và đánh giá nghiêm túc dữ liệu, thông tin và nội dung số – Quản lý, tổ chức, lưu trữ và truy xuất dữ liệu, thông tin và nội dung trong môi trường kỹ thuật số. Từ đó, sắp xếp và xử lý thông tin trong môi trường an toàn và dễ dàng truy cập Khả năng phân tích, diễn giải và sử dụng thông tin và dữ liệu vào các hoạt động công việc một cách hiệu quả.Thành thạo
44. Giao tiếp trên môi trường số  4.1.Tương tác thông qua công nghệSử dụng các kênh giao tiếp số và AI để tương tác với công dân, đồng nghiệp.Biết cách lựa chọn kênh giao tiếp phù hợp với từng đối tượng và tính chất công việc.Thành thạo
  4.2. Chia sẻ thông tin, nội dung số thông qua công nghệ số– Cách chia sẻ dữ liệu, thông tin, tài liệu công an toàn – Cách quản lý quyền truy cập khi chia sẻ dữ liệu, thông tin công vụBiết các công cụ phổ biến hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, thông tin, tài liệu phục vụ công việc; biết cách quản lý hiệu quả quyền truy cập đối với dữ liệu, thông tin được chia sẻ và biết các quy định về bảo mật thông tin đang áp dụngThành thạo
  4.3.Thực thi quyền, nghĩa vụ của công dân trong không gian sốCách sử dụng các dịch vụ công trực tuyến phổ biến hoặc các hệ thống có tích hợp AI để giải quyết công việcTruy cập dược cổng dịch vụ công quốc gia và thực hiện được một số thủ tục cơ bản trực tuyến; biết cách truy vấn kết quả xử lý hồ sơ.Thành thạo
  4.4. Hợp tác thông qua sử dụng công nghệ sốSử dụng các nền tảng cộng tác, nền tảng số dùng chung của các Bộ, ngành, có tích hợp AI (nếu có)Biết cách sử dụng các nền tảng làm việc cộng tác phổ biến, dùng chung để nâng cao hiệu quả hợp tácThành thạo
  4.5. Thực hiện quy tắc ứng xử trên không gian mạngCác chuẩn mực hành vi khi sử dụng công nghệ số và tương tác trong môi trường sốTuân thủ đầy đủ quy tắc ứng xử của CBCCVC trên môi trường mạng, nhận diện các hành vi vi phạm liên quan đến AIThành thạo
  4.6. Quản lý danh tính sốSử dụng danh tính điện tử, tài khoản công vụ, chữ ký số trong thực thi nhiệm vụ.Sử dụng đúng quy định tài khoản công vụ, chữ ký số, danh tính điện tử trong thực thi nhiệm vụ; Quản lý chặt chẽ các thiết bị chứa danh tính số, chữ ký số, email công vụThành thạo
55. Đảm bảo an toàn, an ninh mạng5.1. Bảo vệ thiết bị– Các quy tắc an toàn cơ bản khi thao tác với thiết bị (máy tính, điện thoại..) – Các quy tắc đặt mật khẩu mạnh và quản lý mật khẩu an toànBiết cách khóa màn hình thiết bị, đặt được mật khẩu mạnh; biết giữ thiết bị ở nơi an toàn; Thực hiện định kỳ việc cập nhật phần mềm, hệ thống bảo mậtThành thạo
 5.2. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tưCác vấn đề về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và quyền riêng tư trong môi trường số. Nhận biết rủi ro từ AIBiết không cung cấp, chia sẻ thông tin cá nhân, đặc biệt thông tin nhạy cảm cho người lạ hoặc khi dùng AI trong công việc; cảnh giác với yêu cầu cung cấp mật khẩu, mã OTP; hiểu được tác hại của việc để lộ thông tin cá nhânThành thạo
  5.3. Bảo vệ sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần– Những rủi ro đe dọa đến sức khỏe thể chất và tinh thần khi sử dụng công nghệ số – Cách bảo vệ bản thân và người khác khỏi một số nguy cơ, rủi ro trên không gian sốBiết tư thế đúng khi sử dụng thiết bị; biết nghỉ ngơi sau khi sử dụng thiết bị lâu; biết sử dụng AI cân bằng, tránh bị phụ thuộc quá mức, thiên kiếnThành thạo
  5.4. Bảo vệ môi trường– Tác động của công nghệ số đối với môi trường – Các biện pháp tiết kiệm năng lượng và tối ưu hóa khi sử dụng thiết bị sốBiết tắt các thiết bị khi không sử dụng; biết giảm độ sáng màn hình để tiết kiệm pin, biết cách xử lý thiết bị điện tử đúng cáchThành thạo
66. Giải quyết vấn đề nhờ ứng dụng công nghệ số6.1. Giải quyết các vấn đề kỹ thuật– Các vấn đề kỹ thuật khi sử dụng thiết bị, dịch vụ số và các cách giải quyết – Cách áp dụng quy trình xử lý sự cố cơ bản với các vấn đề kỹ thuật thường gặp Cách tìm kiếm hỗ trợ kỹ thuật khi cần thiếtBiết khi nào thiết bị gặp sự cố đơn giản và các cách xử lý cơ bản hoặc tìm hỗ trợ với AI khi gặp vấn đềThành thạo
6.2. Xác định nhu cầu, lựa chọn giải pháp công nghệSử dụng AI, các công cụ số phổ biến để phân tích nhu cầu và đề xuất giải pháp công nghệ phù hợpBiết chọn ứng dụng phù hợp cho nhu cầu công việc, biết dùng AI hỗ trợ ra quyết định trong các tình huống đơn giảnCơ bản
6.3. Sử dụng sáng tạo công nghệ sốCác công cụ, công nghệ số, AI để đổi mới quy trình công việcBiết sử dụng ít nhất một công cụ số đơn giản hoặc AI để cải thiện quy trình làm việcCơ bản
 6.4. Xác định khoảng cách về năng lực số– Xác định năng lực, khoảng cách số của cá nhân. – Lập kế hoạch phát triển kỹ năng số cá nhânBiết tự đánh giá; Biết tìm kiếm các khóa học, hướng dẫn phù hợpCơ bản
(Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, 2026)

Mức độ được chia thành hai cấp độ, trong đó mức độ thành thạo được xác định bởi mức độ phức tạp của các nhiệm vụ liên quan và mức độ tự chủ, tự thực hiện các năng lực số của công chức.

Cấp độ cơ bản: giải quyết những công việc đơn giản, có khả năng thực hiện một phần, tự chủ với sự hướng dẫn.

Cấp độ thành thạo (nâng cao): giải quyết những công việc có tính phức tạp, có khả năng tự chủ thực hiện và có thể hướng dẫn người khác.

5. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế triển khai Khung năng lực số gắn với vị trí việc làm. Cần ban hành và hướng dẫn áp dụng thống nhất Khung năng lực số đối với công chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý và người đứng đầu trong tổ chức thực hiện. Các yêu cầu về năng lực số cần được tích hợp vào bản mô tả vị trí việc làm, công tác bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo và phát triển công chức. Việc triển khai cần bảo đảm nguyên tắc phù hợp với đặc thù công việc, trong đó công chức chuyên môn phải thành thạo sử dụng các phần mềm, nền tảng và công cụ số phục vụ nhiệm vụ; không đặt yêu cầu về năng lực kỹ thuật CNTT chuyên sâu vượt quá phạm vi vị trí việc làm. Đồng thời, cần xác định rõ cơ chế phối hợp với bộ phận hỗ trợ kỹ thuật để xử lý các sự cố về hệ thống, phần mềm và hạ tầng.

Hai là, đánh giá thực trạng và xác định khoảng cách năng lực số của công chức. Việc đánh giá cần được thực hiện định kỳ theo các nhóm năng lực và mức độ được quy định trong Khung năng lực số, kết hợp giữa tự đánh giá, đánh giá của người quản lý và minh chứng từ kết quả thực thi công vụ. Trọng tâm không chỉ xác định công chức “biết” hay “không biết” sử dụng công nghệ mà phải đánh giá khả năng vận dụng công nghệ để hoàn thành nhiệm vụ, xử lý tình huống, khai thác dữ liệu và phục vụ người dân, tổ chức. Trên cơ sở kết quả đánh giá, cần xác định cụ thể khoảng cách giữa năng lực hiện có và yêu cầu của từng vị trí để lựa chọn nội dung, đối tượng và mức độ đào tạo phù hợp. Đối với những địa bàn, đơn vị ghi nhận khó khăn trong vận hành hệ thống, cần ưu tiên đánh giá và tổ chức hỗ trợ, tập huấn, trong đó có các phường, như: An Hội Đông, Diên Hồng, Gò Vấp, Phú Mỹ (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026).

Ba là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo khoảng cách năng lực và yêu cầu thực tiễn. Nội dung đào tạo cần được thiết kế theo từng nhóm năng lực, mức độ thành thạo và đặc điểm vị trí việc làm, hạn chế tổ chức đào tạo đồng loạt những nội dung mà công chức đã đáp ứng. Phương thức đào tạo cần kết hợp giữa trực tiếp, trực tuyến, thực hành tại chỗ và tự học, chú trọng xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các nội dung ưu tiên, gồm: vận hành hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, khai thác và quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, giải quyết vấn đề trên môi trường số và từng bước ứng dụng AI. Việc đào tạo cũng cần cập nhật theo các công nghệ, mô hình đang được triển khai thực tế tại các phường, như: “Trợ lý số nghiệp vụ hành chính công”, chatbot AI, thanh toán FaceID và các nền tảng số khác, nhằm bảo đảm kiến thức được chuyển hóa trực tiếp thành khả năng thực hiện nhiệm vụ.

Bốn là, bảo đảm đồng bộ các điều kiện về hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và kinh phí. Phát triển năng lực số của công chức phải đi đôi với việc hoàn thiện môi trường công nghệ, bởi năng lực cá nhân khó phát huy nếu hệ thống thường xuyên xảy ra lỗi, thiếu tính liên thông hoặc dữ liệu chưa được đồng bộ. Do đó, cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng CNTT, nền tảng số, thiết bị làm việc và cơ sở dữ liệu; đồng thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Những hạn chế đã được ghi nhận liên quan đến Cổng Dịch vụ công, phần mềm chuyên ngành, đồng bộ dữ liệu và trạng thái thanh toán tại một số phường, như: An Hội Đông, Hạnh Thông, Dĩ An, Tây Nam, Đông Hưng Thuận, Bàn Cờ (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026) cần được rà soát và xử lý kịp thời. Song song với đó, cần bảo đảm nguồn lực kinh phí cho đào tạo, duy trì hệ thống, hỗ trợ kỹ thuật và đánh giá năng lực. Đối với các vấn đề kỹ thuật chuyên sâu, cần có đầu mối hỗ trợ chuyên trách để công chức tại Trung tâm tập trung thực hiện nhiệm vụ nghiệp vụ.

Năm là, thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá, cập nhật và cải tiến Khung năng lực số. Khung năng lực số cần được xem là công cụ quản trị động, được rà soát trên cơ sở kết quả áp dụng và những thay đổi của công nghệ, quy trình thủ tục hành chính, vị trí việc làm và yêu cầu phục vụ người dân. Hằng năm, cần tổng hợp kết quả đánh giá năng lực, xác định những nhóm năng lực còn thiếu hoặc chưa đáp ứng; đồng thời, đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đã thực hiện. Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực số của công chức, tích hợp kết quả đánh giá, đào tạo và kết quả thực thi công vụ để theo dõi quá trình phát triển năng lực của từng cá nhân và toàn đội ngũ. Những phản hồi từ công chức, lãnh đạo Trung tâm và thực tiễn vận hành hệ thống cần được sử dụng làm căn cứ điều chỉnh tiêu chí, chỉ báo và mức độ năng lực khi cần thiết.

Năm nhóm giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ và theo một chu trình thống nhất, trong đó Khung năng lực số là điểm kết nối giữa vị trí việc làm, đánh giá năng lực, đào tạo, điều kiện thực hiện và quản trị nguồn nhân lực. Cách tiếp cận này giúp hạn chế việc triển khai Khung mang tính hình thức; đồng thời, bảo đảm năng lực số của công chức được phát triển gắn với yêu cầu thực tế của công việc, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và chất lượng phục vụ người dân, tổ chức tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường.

6. Kết luận

Việc xây dựng và triển khai khung năng lực số cho công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh là yêu cầu mang tính cấu trúc, gắn trực tiếp với chất lượng vận hành mô hình chính quyền mới. Sau một năm triển khai, các chỉ số về tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng và trước hạn (99,8%), mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp (trên 99%) và số hồ sơ trực tuyến (93,2%) cho thấy, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường đã bước đầu phát huy vai trò kênh giao diện chính của chính quyền số ở cấp cơ sở, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế về phân bổ, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt liên quan đến năng lực số.

Trên cơ sở phân tích khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm hiện hành của TP. Hồ Chí Minh và đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, bài viết chỉ ra khoảng trống giữa yêu cầu nhiệm vụ trên môi trường số và cấu trúc năng lực đang được thể hiện trong hồ sơ vị trí việc làm. Để thu hẹp khoảng trống này, bài viết đề xuất khung năng lực số gồm hai thành tố chính: (1) Kiến thức số và thái độ số, gồm: nhận thức về chuyển đổi số, nhận thức về công nghệ số, nhận thức về AI; (2) Kỹ năng số, gồm: vận hành thiết bị và phần mềm, khai thác thông tin và dữ liệu, giao tiếp trên môi trường số, an toàn và an ninh số, giải quyết các vấn đề về kỹ thuật số.

Khung năng lực số được đề xuất không chỉ có ý nghĩa mô tả mà còn được gắn kết với các công cụ quản trị nhân lực công, như: tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, xếp loại và đào tạo, bồi dưỡng công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường. Khi được thể chế hóa và triển khai nhất quán, có thể trở thành công cụ chuyển hóa các yêu cầu về chuyển đổi số, chính quyền số và chính quyền phục vụ thành các tiêu chí cụ thể trong quản lý và phát triển đội ngũ ở cấp cơ sở, góp phần bảo đảm tính bền vững cho những kết quả đạt được trong giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Để có thể áp dụng khung năng lực số cho công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường trong thực thi công vụ, TP. Hồ Chí Minh cần có bước đi thí điểm và điều chỉnh dần. Có thể lựa chọn một số phường đã có kết quả tốt về chuyển đổi số, như: An Nhơn, An Lạc, Thủ Đức, Nghĩa Thành để áp dụng thử nghiệm đánh giá năng lực số theo khung đề xuất, từ đó hoàn thiện tiêu chí, cách thức đo lường trước khi nhân rộng toàn Thành phố. Đồng thời cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện cơ chế, đánh giá năng lực, đào tạo, bảo đảm điều kiện triển khai đến theo dõi và điều chỉnh thường xuyên. Kết quả nghiên cứu là cơ sở tham khảo cho các cơ quan quản lý trong quá trình xây dựng và triển khai khung năng lực số đối với công chức ở cấp cơ sở.

Tài liệu tham khảo:
Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội (2026). Tờ trình số 109/TTr-DCGSPBXH ngày 20/7/2026 về kết quả giám sát, khảo sát công tác cải cách thủ tục hành chính tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, phường, đặc khu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026 (Đợt 1). Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.
Báo cáo kiểm tra chuyên đề (2026). Báo cáo kiểm tra, giám sát chuyên đề năm 2026 tại các phường An Hội Đông, Diên Hồng, Phú Mỹ, Gò Vấp.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 ban hành Khung kỹ năng số cơ bản dành cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (Phiên bản 1.0).
Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
Dubois, D. D., Rothwell, W. J., Stern, D. J., & Kemp, L. K. (2004). Competency-based human resource management. Davies-Black Publishing.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.Lê Bí Bo (15/01/2026). Hoàn thiện khung pháp lý và năng lực thực thi của đội ngũ công chức phường tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/15/hoan-thien-khung-phap-ly-va-nang-luc-thuc-thi-cua-doi-ngu-cong-chuc-phuong-tai-tp-ho-chi-minh-trong-boi-canh-chuyen-doi-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong/
OECD (2021). The OECD framework for digital talent and skills in the public sector. OECD Publishing, Paris.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025
Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 243/QĐ-SNV ngày 14/3/2026 phê duyệt vị trí việc làm tại các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân 168 xã, phường, đặc khu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn phòng Chính phủ (2025). Thông tư số 03/2025/TT-VPCP hướng dẫn thi hành Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.