Investment approaches to establishing private higher education institutions in Vietnam, China and South Korea: policy implications for Vietnam
PGS.TS. Lê Trọng Hùng
Trường Đại học Phương Đông
Email: hung.lt@phuongdong.edu.vn
ThS. Phạm Thị Ngọc
Trường Đại học Phương Đông
Email: ngoc.pt@phuongdong.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu phân tích các phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống hóa khung pháp lý hiện hành tính đến năm 2026, bao gồm: Luật Giáo dục năm 2029 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Giáo dục đại học năm 2025, Luật Đầu tư năm 2025, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các nghị định hướng dẫn thi hành, nghiên cứu làm rõ các hình thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học khả thi, đánh giá so sánh phương thức đầu tư của Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc, từ đó, đề xuất hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư vào giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam.
Từ khóa: Phương thức đầu tư; đầu tư thành lập; giáo dục đại học tư thục; đầu tư giáo dục; vốn đầu tư nước ngoài; Luật Giáo dục đại học.
Abstract: This study analyzes investment modalities for establishing private higher education institutions (PHEIs) in Vietnam. Based on a systematization of the current legal framework as of 2026, including Law on Education 2019 (as amended and supplemented in 2025), the 2025 Law on Higher Education, the 2025 Law on Investment, the 2020 Law on Enterprises (as amended and supplemented in 2025), and implementing decrees, the study clarifies feasible forms of investment for establishing PHEIs and provides a comparative assessment of investment modalities in Vietnam, China, and South Korea. Based on these findings, the study proposes policy implications to improve the legal framework and enhance the effectiveness of attracting investment into private higher education in Vietnam.
Keywords: Investment modalities; establishment investment; private higher education; educational investment; foreign investment capital; Law on Higher Education.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội. Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách xã hội hóa giáo dục, khuyến khích nguồn vốn ngoài ngân sách tham gia đầu tư vào lĩnh vực này. Các cơ sở giáo dục đại học tư thục, từ chỗ chỉ là một bộ phận nhỏ, nay đã trở thành cấu phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đa dạng hóa lựa chọn cho người học và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Xét về quy mô, khu vực giáo dục đại học tư thục Việt Nam đã phát triển nhanh trong hai thập niên qua. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến năm học 2023 – 2024, cả nước có 244 trường đại học, trong đó các cơ sở giáo dục đại học tư thục chiếm khoảng 27% về số lượng cơ sở và đảm nhận đào tạo cho gần 20% tổng số sinh viên, tương đương hơn 330.000 người học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024). Tỷ lệ sinh viên theo học khu vực tư thục đã tăng từ khoảng 13% giai đoạn 2010 – 2015 lên gần 20% hiện nay, song vẫn còn khoảng cách lớn so với các nền giáo dục đại học phát triển ở châu Á, như Hàn Quốc (khoảng 80%) hay Nhật Bản (khoảng 78%), cho thấy dư địa thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này còn rất lớn (Kim & Lee, 2022; OECD, 2023).
Mục tiêu chính của nghiên cứu là hệ thống hóa và phân tích các phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam, so sánh với kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc, từ đó, đề xuất hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư tại Việt Nam.
2. Khung pháp lý và thực trạng quy định về phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam
2.1. Cơ sở pháp lý
Điều 61 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025), khẳng định, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, tạo cơ sở hiến định cho chính sách xã hội hóa giáo dục và khuyến khích đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Bên cạnh Hiến pháp với tư cách là đạo luật gốc, các luật chuyên ngành cũng chứa đựng những quy định về hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục, gồm:
Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định tại Chương II (Điều 95 – 103) về chính sách đầu tư cho giáo dục, thể hiện ưu tiên huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước và từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; đồng thời, quy định các ưu đãi về tài chính, đất đai và thuế.
Luật Giáo dục đại học năm 2025 cụ thể hóa chính sách khuyến khích, ưu đãi thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục, quy định về chủ thể, điều kiện, quy trình thủ tục đầu tư thành lập; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; và các chính sách hỗ trợ, bảo đảm đầu tư.
Các luật về lĩnh vực khác nhưng chứa đựng một số quy định về hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục, như:
Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về thành lập tổ chức kinh tế, tạo căn cứ pháp lý cho nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp để đầu tư gián tiếp vào cơ sở giáo dục đại học tư thục; Luật Đầu tư năm 2025 xác định giáo dục là ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện, quy định thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, đồng thời, quy định chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất (Điều 14, 15 Luật Đầu tư năm 2025); Bộ luật Dân sự quy định về các quan hệ dân sự phát sinh trong hoạt động thành lập CSGDĐH tư thục gắn với việc sử dụng, định đoạt, sở hữu tài sản; vấn đề phát sinh trong hợp đồng và ngoài hợp đồng.
Đồng thời với đó là các văn bản dưới luật quan trọng điều chỉnh hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục, gồm:
Nghị định số 91/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2025, hướng dẫn quản trị đại học hiện đại, minh bạch và thúc đẩy tự chủ đại học, hội nhập quốc tế.
Nghị định số 125/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm thành lập, cho phép hoạt động, đình chỉ, sáp nhập và giải thể cơ sở giáo dục. Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục, văn bản yêu cầu đáp ứng các điều kiện về quy hoạch, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và đề án thành lập.
Nghị định số 86/2018/NĐ-CP và Nghị định số 124/2024/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 20/11/2024) điều chỉnh điều kiện thành lập, hoạt động của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định số 124/2024 sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng hợp tác, siết chặt điều kiện đối với đối tác nước ngoài về năng lực tài chính, kiểm định chất lượng và tuân thủ tiêu chuẩn giáo dục Việt Nam.
2.2. Thực trạng quy định về phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục
Theo khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Giáo dục năm 2025, nhà đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học được chọn một trong hai phương thức đầu tư dưới đây:
Thứ nhất, phương thức đầu tư thông qua tổ chức kinh tế.
Theo phương thức này, nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, và tổ chức kinh tế đó thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục theo Luật Giáo dục đại học. Quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh bởi pháp luật doanh nghiệp và điều lệ công ty.
Ưu điểm của phương thức này là hệ thống pháp lý chặt chẽ theo Luật Doanh nghiệp; thuận lợi trong huy động vốn dưới nhiều hình thức; thủ tục thành lập tương đối đơn giản; nhà đầu tư có quyền kiểm soát tài chính và chiến lược; dễ dàng xây dựng chương trình đào tạo phù hợp bối cảnh Việt Nam. Khi tranh chấp xảy ra giữa các nhà đầu tư trong tổ chức kinh tế, việc giải quyết dựa trên pháp luật doanh nghiệp và điều lệ công ty, bảo đảm tính rõ ràng và giảm rủi ro pháp lý.
Nhược điểm chủ yếu là nguy cơ thương mại hóa giáo dục do bản chất doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận. Ngoài ra, khi tổ chức kinh tế gặp khó khăn tài chính hoặc thua lỗ ở lĩnh vực khác, nguy cơ phá sản và mua bán chuyển nhượng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người học.
Đầu tư bằng vốn nước ngoài. Việt Nam cho phép hai hình thức đầu tư nước ngoài chính: (1) Thành lập cơ sở giáo dục đại học 100% vốn nước ngoài, yêu cầu đáp ứng điều kiện khắt khe về vốn và phê duyệt cấp cao; (2) thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam, chỉ dành cho trường thuộc top 500 thế giới theo Nghị định số 124/2024/NĐ-CP. Phương thức này mang lại lợi thế về thương hiệu quốc tế và nguồn vốn dồi dào, song đòi hỏi tuân thủ thủ tục pháp lý phức tạp, học phí thường ở mức cao và có thể gặp khó khăn thích ứng với môi trường văn hóa và quy định quản lý đặc thù của Việt Nam.
Đầu tư Liên doanh. Liên doanh là hình thức hợp tác giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để cùng thành lập một cơ sở giáo dục đại học tư thục. Mô hình này kết hợp lợi thế của cả hai phía: am hiểu thị trường, văn hóa và pháp lý địa phương (nhà đầu tư trong nước) với nguồn vốn, kinh nghiệm quản trị quốc tế và thương hiệu (nhà đầu tư nước ngoài). Hạn chế chính là rủi ro xung đột quản trị do khác biệt văn hóa và mục tiêu, việc ra quyết định có thể chậm và sự bền vững phụ thuộc vào cam kết dài hạn của các bên.
Thứ hai, phương thức đầu tư trực tiếp.
Nhà đầu tư trực tiếp đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục theo quy định của Luật Giáo dục đại học. Quy chế tổ chức hoạt động của nhà trường điều chỉnh quyền hạn, trách nhiệm của nhà đầu tư, Hội nghị nhà đầu tư và ban kiểm soát. Tuy nhiên, phương thức này chỉ áp dụng khi có một nhà đầu tư duy nhất và bị hạn chế về khả năng huy động vốn.
Tuỳ phương thức đầu tư, thực tế tồn tại một số mô hình sở hữu: (1) Sở hữu gia đình – những người thân cùng góp vốn và nắm giữ các vị trí quản lý then chốt; (2) Công ty cổ phần – do nhóm cổ đông không có quan hệ huyết thống, thường là doanh nhân đầu tư đa ngành; (3) Tập đoàn đa ngành sở hữu toàn bộ hoặc phần lớn cổ phần, gắn kết đào tạo với nhu cầu nhân lực nội bộ và xu hướng mở rộng qua mua bán, sáp nhập; (4) Nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty có vốn nước ngoài để thành lập trường đại học.
Một số vấn đề còn tồn tại, đó là:
(1)Nhà đầu tư nước ngoài không được lựa chọn phương thức đầu tư trực tiếp nhưng Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định nhà đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục có quyền lựa chọn một trong hai phương thức, có thể gây nhầm lẫn về quyền lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài. Theo Điều 19 Luật Đầu tư năm 2025, nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập tổ chức kinh tế, đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; trong khi Luật Giáo dục ghi nhận quyền lựa chọn phương thức mà không phân biệt nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài.
(2) Mặc dù Luật Đầu tư năm 2025 thừa nhận nhiều hình thức đầu tư, nhưng trong thực tiễn giáo dục đại học, phương thức được quy định cụ thể và khả thi nhất vẫn là thành lập mới. Điều này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong tái cấu trúc hệ thống giáo dục, đặc biệt khi một cơ sở gặp khó khăn tài chính.
(3) Nhàđầu tư phải thực hiện song song thủ tục theo Luật Đầu tư, Luật Giáo dục đại học và Luật Doanh nghiệp. Điều này dẫn đến tăng chi phí hành chính, kéo dài thời gian xử lý, khó xác định cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng. Sự chồng chéo này có thể làm giảm tính minh bạch và hiệu quả của môi trường đầu tư giáo dục.
3. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc
3.1. Phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Trung Quốc
Một là, khung pháp lý hiện hành.
Cơ sở pháp lý cho giáo dục đại học tư thục tại Trung Quốc là Luật Thúc đẩy Giáo dục Tư thục (民办教育促进法, sửa đổi năm 2016) và Quy định Thực thi (实施条例, sửa đổi năm 2021). Cải cách năm 2016 chấm dứt tình trạng pháp lý mơ hồ khi các trường tư thục có lợi nhuận vẫn đăng ký dưới dạng “đơn vị phi doanh nghiệp tư nhân” (Lin, 2019), và thiết lập “hệ thống quản lý phân loại” (分类管理) bắt buộc: tất cả CSGDĐH tư thục phải đăng ký là phi lợi nhuận hoặc có lợi nhuận (Ministry of Education of China, 2021).
Quy định Thực thi năm 2021 đặt ra biện pháp chống lại việc “lợi dụng danh nghĩa phi lợi nhuận để trục lợi”, giám sát chặt chẽ các giao dịch với bên liên kết và cấm kiểm soát gián tiếp đối với trường phi lợi nhuận (He, 2021).
Đại diện của tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tham gia vào hội đồng quản trị và ban giám sát để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong quản trị trường (Ministry of Education of China, 2021).
Hai là, các phương thức đầu tư chính.
Trung Quốc cho phép ba phương thức đầu tư chính để thành lập cơ sở giáo dục đại học, gồm:
(1) Đầu tư độc lập bởi nhà đầu tư trong nước. Cá nhân hoặc tổ chức của Trung Quốc có thể thành lập trường đại học tư thục hoàn toàn bằng vốn riêng, tuân thủ các quy định về vốn đầu tư tối thiểu, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên theo quy định của Bộ Giáo dục (Zhang et al., 2023).
(2) Mô hình “đại học độc lập” (独立学院) – liên doanh giữa trường đại học công lập (cung cấp thương hiệu và hỗ trợ học thuật) và đối tác tư nhân (cung cấp vốn). Từ năm 2020, Bộ Giáo dục Trung Quốc yêu cầu các trường này “chuyển đổi” thành trường tư thục độc lập, sáp nhập vào hệ thống công lập, hoặc giải thể (Chen & Zha, 2022).
(3) Hợp tác giáo dục Trung – Ngoại (中外合作办学) là phương thức chính cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài không được thành lập trường 100% vốn nước ngoài mà phải liên doanh với cơ sở giáo dục Trung Quốc, với yêu cầu phía Trung Quốc chiếm ít nhất 50% trong hội đồng quản trị và Hiệu trưởng phải là công dân Trung Quốc (Huang & Chen, 2021).
Ba là, quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Trung Quốc cấm hoàn toàn nhà đầu tư nước ngoài tham gia giáo dục bắt buộc (lớp 1 – 9) và bắt buộc liên doanh với đối tác Trung Quốc ở bậc đại học, với yêu cầu phía Trung Quốc giữ ưu thế quản trị (Ministry of Education of China, 2021).
Một xu hướng mới đáng chú ý: kể từ năm 2023, các quy định tạm thời tại Khu thương mại tự do Hải Nam cho phép các trường đại học uy tín nước ngoài trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, nông nghiệp và y tế thành lập cơ sở hoạt động độc lập không cần đối tác Trung Quốc, với quyền tự chủ cao hơn nhưng vẫn chịu giám sát chặt chẽ về chất lượng (Hogan Lovells, 2023).
3.2. Phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Hàn Quốc
Thứ nhất, khung pháp lý và vai trò của Luật Trường tư thục.
Hàn Quốc có hai văn bản pháp lý nền tảng: Luật Trường tư thục (Private School Act) điều chỉnh quản trị và nghĩa vụ của người sáng lập; và Luật Giáo dục Đại học (Higher Education Act) quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất và hoạt động theo sắc lệnh tổng thống. Bộ Giáo dục Hàn Quốc chịu trách nhiệm tổng thể về quản lý các tiêu chuẩn này (Korean Council for University Education, 2024).
Thứ hai, vai trò của Học đoàn (educational foundations).
Nét đặc trưng của mô hình Hàn Quốc là vai trò trung tâm của “Học đoàn” (educational foundation) – pháp nhân phi lợi nhuận do cá nhân hoặc tổ chức thành lập nhằm mục đích giáo dục. Khoảng 80% cơ sở giáo dục đại học tại Hàn Quốc là tư thục và được sở hữu, quản lý bởi các Học đoàn (Kim & Lee, 2022). Học đoàn không được phép phân phối lợi nhuận cho thành viên sáng lập; toàn bộ nguồn thu, bao gồm học phí và các khoản đóng góp, phải được tái đầu tư cho giáo dục.
Thứ ba, phương thức đầu tư.
Hình thành pháp nhân giáo dục (school foundation). Nhà đầu tư phải góp vốn và chuyển giao tài sản vào pháp nhân; pháp nhân là chủ thể pháp lý trực tiếp sở hữu và quản lý trường. Hàn Quốc không cho phép cá nhân sở hữu trường theo mô hình doanh nghiệp thông thường mà phải thông qua tổ chức có mục tiêu giáo dục.
Các tập đoàn kinh tế có thể thành lập quỹ giáo dục riêng để đầu tư xây dựng trường đại học tư thục, gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, trở thành đặc điểm nổi bật trong hệ thống giáo dục Hàn Quốc.
Phương thức liên kết giữa nhiều chủ thể, gồm: tổ chức, tư nhân, chính quyền địa phương cùng góp vốn hoặc hỗ trợ cơ sở vật chất. Dù theo hình thức nào, việc thành lập vẫn phải qua pháp nhân trường tư và được Bộ Giáo dục cấp phép.
Hàn Quốc cho phép phát triển cơ sở giáo dục có vốn nước ngoài tại một số khu kinh tế tự do. Điểm chung của tất cả các phương thức là nguồn vốn tư nhân phải sử dụng theo định hướng phi lợi nhuận hoặc lợi nhuận hạn chế, lợi nhuận phát sinh chủ yếu được tái đầu tư phục vụ giáo dục.
Thứ tư, đặc điểm riêng biệt và xu hướng gần đây.
Các trường tư thục Hàn Quốc phụ thuộc chủ yếu vào học phí và tài trợ chính phủ. Kể từ các cuộc biểu tình sinh viên năm 2012, học phí bị đóng băng, tạo áp lực tài chính khiến các trường ngày càng tìm kiếm tài trợ chính phủ qua chương trình cạnh tranh, hợp tác doanh nghiệp và phát triển giáo dục suốt đời (Ministry of Education of Korea, 2022).
Tài sản của Học đoàn, bao gồm đất đai, tòa nhà và cơ sở vật chất phải được đăng ký và quản lý theo pháp luật. Khi một Học đoàn giải thể, tài sản còn lại không được chia cho các thành viên sáng lập mà phải được chuyển cho các mục đích giáo dục phi lợi nhuận khác hoặc cho nhà nước (Kim & Park, 2020).
Giai đoạn 2020 – 2024, chính sách Hàn Quốc chuyển mạnh sang phân quyền và tự chủ. Hội đồng Cải cách Quy định Giáo dục Đại học được thành lập năm 2022 để loại bỏ rào cản không cần thiết, nới lỏng tiêu chuẩn thành lập và vận hành cơ sở giáo dục đại học về tạo khoa mới, điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, và cơ chế sáp nhập hoặc đóng cửa cơ sở không hiệu quả (Ministry of Education of Korea, 2022).
Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích hợp tác giữa trường đại học, chính quyền địa phương và doanh nghiệp qua nền tảng “Regional Innovation System & Education” (RISE) nhằm điều chỉnh hỗ trợ giáo dục đại học theo nhu cầu công nghiệp địa phương (Lee & Kim, 2023).
4. So sánh và phân tích giữa ba quốc gia
4.1. So sánh khung pháp lý và đa dạng phương thức đầu tư
Cả ba quốc gia có khung pháp lý riêng điều chỉnh đầu tư vào cơ sở giáo dục đại học tư thục với mức độ phức tạp khác nhau. Tại Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025) và Luật Đầu tư năm 2025 tạo ra hai phương thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư thông qua tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, việc xác định “nhà đầu tư” trong phương thức qua tổ chức kinh tế còn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm pháp lý (Phạm & Lê, 2026).
Trung Quốc có hệ thống phân loại bắt buộc rõ ràng nhất, cải cách năm 2016 yêu cầu tất cả trường tư thục đăng ký là phi lợi nhuận hoặc có lợi nhuận với chính sách ưu đãi và quy định quản lý khác biệt (Zhang et al., 2023).
Hàn Quốc có cách tiếp cận độc đáo nhất, tập trung hoàn toàn vào mô hình Học đoàn phi lợi nhuận, duy trì 80% trường tư thục nhưng đều hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận (Kim & Lee, 2022).
4.2. Mức độ mở cửa với nhà đầu tư nước ngoài
Việt Nam mở cửa tương đối với nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2025. Tuy nhiên, còn tồn tại mâu thuẫn giữa Luật Giáo dục (cho phép nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn phương thức) và Luật Đầu tư (bắt buộc qua tổ chức kinh tế), gây nhầm lẫn cho nhà đầu tư (Châu Dương Quang, 2023).
Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ nhất, cấm hoàn toàn đầu tư nước ngoài ở bậc giáo dục bắt buộc; bắt buộc liên doanh với đối tác Trung Quốc ở bậc đại học với yêu cầu phía Trung Quốc giữ ưu thế quản trị. Tuy nhiên, thí điểm tại Hải Nam từ năm 2023 cho phép trường nước ngoài uy tín thành lập cơ sở độc lập trong các lĩnh vực ưu tiên, thể hiện sự linh hoạt có chọn lọc (Hogan Lovells, 2023).
Hàn Quốc có chính sách tương đối hạn chế đối với đầu tư nước ngoài trực tiếp vào giáo dục đại học. Các trường nước ngoài có thể được thành lập bởi cá nhân nước ngoài, tổ chức phi lợi nhuận nước ngoài, hoặc công ty tư nhân Hàn Quốc, nhưng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về chương trình quốc gia và tiêu chuẩn giáo viên (Ministry of Education of Korea, 2020).
4.3. Phân loại vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận và yêu cầu tổ chức trung gian
Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa ba quốc gia. Việt Nam hiện chưa có phân loại rõ ràng giữa trường tư thục vì lợi nhuận và phi lợi nhuận ở cấp độ pháp luật. Mặc dù pháp luật ghi nhận mô hình không vì lợi nhuận, nhưng chưa có cơ chế giám sát độc lập về tái đầu tư lợi nhuận, dẫn đến nguy cơ “lợi nhuận hóa” dưới danh nghĩa phi lợi nhuận (Nguyễn & Trần, 2021).
Trung Quốc yêu cầu mỗi trường tư thục lựa chọn đăng ký vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận với hệ quả pháp lý khác biệt về thuế, quyền sử dụng đất và phân phối lợi nhuận. Tuy nhiên, đến năm 2021, chỉ có chưa đến 20 trong số 764 trường đại học tư thục hoàn thành đăng ký lại, phản ánh sự phức tạp trong xử lý tài sản lịch sử và xung đột lợi ích (He, 2021).
Hàn Quốc duy trì một mô hình đồng nhất với yêu cầu bắt buộc về Học đoàn phi lợi nhuận. Tất cả các trường đại học tư thục đều phải được sở hữu và vận hành bởi các Học đoàn với quy định nghiêm ngặt cấm phân phối lợi nhuận cho các thành viên sáng lập. Mô hình này bảo đảm tính công ích của giáo dục nhưng cũng tạo ra thách thức về huy động vốn, đặc biệt trong bối cảnh học phí bị đóng băng từ năm 2012 (Kim & Lee, 2022).
Bảng 1: So sánh tổng hợp phương thức đầu tư giữa ba quốc gia
| Stt | Tiêu chí | Việt Nam | Trung Quốc | Hàn Quốc |
| 1 | Khung pháp lý chính | Luật Giáo dục 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025), Luật Đầu tư 2025 | Luật Thúc đẩy Giáo dục Tư thục (2016), Quy định Thực thi (2021) | Luật trường tư thục, Luật giáo dục đại học |
| 2 | Phương thức đầu tư | Đầu tư trực tiếp; Đầu tư qua tổ chức kinh tế | Độc lập; Liên doanh công – tư; Hợp tác Trung – Ngoại | Thành lập qua Học đoàn |
| 3 | Phân loại vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận | Chưa có phân loại bắt buộc; Thiếu cơ chế giám sát tái đầu tư lợi nhuận | Phân loại bắt buộc, rõ ràng với chính sách ưu đãi và quy định khác biệt | Bắt buộc phi lợi nhuận thông qua học đoàn; Cấm phân phối lợi nhuận |
| 4 | Nhà đầu tư nước ngoài | Cho phép qua tổ chức kinh tế; Có mâu thuẫn giữa Luật giáo dục và Luật đầu tư | Bắt buộc liên doanh với đối tác TQ (>50%); Thí điểm độc lập tại Hải Nam | Hạn chế; Phải tuân thủ chương trình quốc gia và tiêu chuẩn giáo viên |
| 5 | Tổ chức trung gian bắt buộc | Bắt buộc khi ≥2 nhà đầu tư hoặc có nhà đầu tư nước ngoài | Không bắt buộc cho nhà đầu tư trong nước; Bắt buộc cho nhà đầu tư nước ngoài | Bắt buộc học đoàn phi lợi nhuận cho tất cả trường tư thục |
| 6 | Ưu đãi thuế và đất đai | Có ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định chung | Chỉ áp dụng cho trường phi lợi nhuận (miễn thuế, đất công) | Áp dụng cho học đoàn tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia |
| 7 | Xu hướng chính sách gần đây | Hoàn thiện pháp luật, rõ ràng hóa phương thức đầu tư | Siết chặt quản lý, tăng vai trò Đảng, chuẩn hóa phân loại | Phân quyền, tự chủ, khuyến khích hợp tác địa phương – doanh nghiệp |
Bảng 2 tổng hợp một số chỉ tiêu so sánh định lượng về quy mô và mức độ tư nhân hóa giáo dục đại học. Dữ liệu cho thấy, mức độ phụ thuộc vào khu vực tư thục ở Hàn Quốc và Trung Quốc cao hơn đáng kể so với Việt Nam, phản ánh những lựa chọn thể chế khác nhau về vai trò vốn tư nhân trong giáo dục đại học.
Bảng 2: So sánh định lượng quy mô và mức độ tư nhân hóa giáo dục đại học
| Stt | Tiêu chí định lượng | Việt Nam | Trung Quốc | Hàn Quốc |
| 1 | Tỷ trọng CSGDĐH tư thục (% số cơ sở) | ~27% | ~28% | ~80% |
| 2 | Tỷ lệ sinh viên học tại trường tư thục (%) | ~20% | ~24% | ~80% |
| 3 | Số trường đại học tư thục (ước tính) | ~67 | ~760 | ~150 |
| 4 | Mô hình pháp nhân chủ đạo | Tổ chức kinh tế/doanh nghiệp | Pháp nhân phân loại lợi nhuận/phi lợi nhuận | Học đoàn phi lợi nhuận |
| 5 | Mức độ mở cửa với vốn nước ngoài | Trung bình – cao | Thấp (bắt buộc liên doanh) | Thấp -trung bình |
4.4. Điểm tương đồng và khác biệt
Các phương thức đầu tư tại cả ba quốc gia có điểm chung: phải triển khai thông qua pháp nhân hợp pháp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật; cho phép sự tham gia của nhiều chủ thể (cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước); khuyến khích liên doanh, liên kết để tận dụng nguồn lực tài chính và học thuật; và gắn kết đào tạo đại học với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Khác biệt nổi bật nhất là định hướng lợi nhuận: Việt Nam cho phép phân chia lợi nhuận theo mô hình doanh nghiệp (tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa giáo dục); Hàn Quốc yêu cầu Học đoàn phi lợi nhuận tái đầu tư toàn bộ nguồn thu; Trung Quốc áp cơ chế phân loại có kiểm soát nhà nước. Về cách thức tổ chức, Việt Nam cho phép đầu tư trực tiếp của cá nhân; Hàn Quốc bắt buộc thông qua Học đoàn; mức độ mở cửa đầu tư nước ngoài cũng khác nhau rõ rệt.
Về cơ chế quản trị, mô hình doanh nghiệp tại Việt Nam có thể dẫn đến xung đột cổ đông và rủi ro phá sản ảnh hưởng người học; mô hình Học đoàn Hàn Quốc tạo ổn định cao hơn song hạn chế linh hoạt quản trị. Hệ thống của Việt Nam còn thiếu linh hoạt trong đa dạng hóa phương thức, chủ yếu tập trung vào thành lập mới, trong khi Hàn Quốc và Trung Quốc đã chú trọng các cơ chế tái cấu trúc như sáp nhập, chuyển đổi hoặc giải thể.
5. Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc, Việt Nam có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Thứ nhất, cần thiết lập hệ thống phân loại rõ ràng. Việt Nam cần áp dụng mô hình phân loại bắt buộc tương tự Trung Quốc, yêu cầu cơ sở giáo dục đại học tư thục đăng ký rõ là vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, với chính sách ưu đãi và yêu cầu quản lý khác biệt tương ứng. Điều này giải quyết tình trạng “lợi nhuận hóa” thiếu giám sát hiện nay.
Thứ hai, cần làm rõ quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư. Cần quy định rõ “nhà đầu tư trực tiếp” là tổ chức kinh tế đứng tên lập đề án và chịu trách nhiệm pháp lý; cá nhân/tổ chức góp vốn vào tổ chức kinh tế là nhà đầu tư gián tiếp. Đồng thời, cần bổ sung quy định về chủ thể bị cấm đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục, tương tự quy định trong Luật Doanh nghiệp.
Thứ ba, chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài cần có chọn lọc. Việt Nam có thể học mô hình thí điểm của Trung Quốc tại Hải Nam: cho phép các trường đại học hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực ưu tiên (công nghệ cao, y tế, kỹ thuật) thành lập cơ sở độc lập tại các khu đặc thù, với quy định giám sát chặt chẽ về chất lượng đào tạo.
Thứ tư, tăng cường cơ chế kiểm định chất lượng độc lập. Kinh nghiệm của Hàn Quốc với Korean Council for University Education cho thấy tầm quan trọng của cơ quan kiểm định độc lập, chuyên nghiệp. Việt Nam cần tăng cường vai trò và năng lực của các tổ chức kiểm định hiện có, đặc biệt đối với các trường tư thục có lợi nhuận.
6. Kết luận
Nghiên cứu cho thấy, khung pháp lý về đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam đã và đang được hoàn thiện theo hướng ngày càng minh bạch, hội nhập và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư. Việc ban hành Luật Giáo dục đại học năm 2025 và các nghị định hướng dẫn, đặc biệt là Nghị định số 125/2024/NĐ-CP và Nghị định số 124/2024/NĐ-CP, đã định hình hành lang pháp lý tương đối rõ ràng cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, gia nhập thị trường này vẫn là thách thức lớn. Các điều kiện khắt khe về vốn tối thiểu 1.000 tỷ đồng và yêu cầu trường nước ngoài thuộc top 500 thế giới (Nghị định số 124/2024/NĐ-CP) đặt ra tiêu chuẩn chất lượng cao ngay từ đầu vào, đồng thời, đòi hỏi cam kết dài hạn và khả năng điều hướng quy trình pháp lý phức tạp.
Phân tích so sánh cho thấy, không có phương thức nào là hoàn hảo: đầu tư 100% vốn trong nước linh hoạt nhưng hạn chế về vốn và tầm nhìn quốc tế; đầu tư 100% vốn nước ngoài có lợi thế thương hiệu nhưng thủ tục phức tạp nhất; liên doanh là giải pháp cân bằng nhưng tiềm ẩn xung đột quản trị.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, ba khuyến nghị được đề xuất: (1) nhà đầu tư cần xây dựng chiến lược tài chính dài hạn ít nhất 10 năm; (2) đối với liên doanh, cần đàm phán kỹ lưỡng hợp đồng với điều khoản rõ ràng về phân chia quyền lực và giải quyết tranh chấp; (3) Nhà nước cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng tính dự đoán của môi trường pháp lý để thu hút nhà đầu tư chất lượng cao.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Số liệu thống kê giáo dục đại học năm học 2023 – 2024.
Chính phủ (2024). Nghị định số 124/2024/NĐ-CP ngày 05/10/2024 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2018/NĐ-CP ngày 6/6/2018 của Chính phủ về hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.
Chính phủ (2024). Nghị định số 125/2024/NĐ-CP ngày 05/10/2024 về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.
Châu, D.Q. (21/7/2021). Đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam: Vẫn còn hình thức. Tạp chí Tia Sáng. https://tiasang.com.vn/dai-hoc-tu-thuc-khong-vi-loi-nhuan-tai-viet-nam-van-con-hinh-thuc-4971665.html.
Huang, F., & Chen, L. (2021). Sino-foreign cooperation in running schools in higher education. Journal of Studies in International Education, 25(4), pp.388-404.
Nguyễn, V. A., & Trần, L. M. (2021). Quản trị đại học tư thục và kiểm soát quyền lực nhà đầu tư. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9(401), tr.33-41.
Kim, S., & Lee, J. (2022). Private higher education in Korea: Governance and finance. Asia Pacific Education Review, 23(2), pp.215-231.Korean Council for University Education (2024). Higher education in Korea: Annual report. Seoul: KCUE.
Kim, S., & Park, H. (2020). Educational foundations and asset governance in Korean private universities. Korean Journal of Educational Administration, 38(1), pp.55-78.
Lee, J., & Kim, S. (2023). Regional innovation and the RISE platform in Korean higher education. Studies in Higher Education, 48(9), pp.1402-1418.
Lin, J. (2019). The legal status and classification of private schools in China. Chinese Education & Society, 52(5-6), pp.333-349.
Zhang, W., Wang, Y., & Liu, H. (2023). Investment models in Chinese private higher education. International Journal of Educational Development, 99, 102765.
Ministry of Education of China (2021). Implementation regulations of the law for promoting private education. Beijing: Ministry of Education.
Ministry of Education of Korea (2020). Higher education policy report. Sejong: Ministry of Education.
Ministry of Education of Korea. (2022). University regulatory reform and the RISE initiative. Sejong: Ministry of Education.
National Center on Education and the Economy. (2023). Top-performing countries: South Korea. Washington, DC: NCEE.
OECD. (2023). Education at a Glance 2023: OECD indicators. Paris: OECD Publishing.
Phạm, V. K., & Lê, T. H. (2024). Xác định tư cách nhà đầu tư trong thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục. Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 3(178), tr.25-36.
Phạm, T.N. & Lê, T.H. (2026). Quy định pháp luật về chủ thể và phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách. Tạp chí Kinh tế Thái Bình Dương, số 01 (702), tr.34-39.
Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019.
Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Đầu tư năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.



